MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỊA CHẤT Y HỌC VỚI SỨC KHỎE
CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM
ĐỖ VĂN ÁI
1
, VÕ CÔNG NGHIỆP
21
Hội Địa hóa Việt Nam;
2
Viện Địa chất và Môi trường
6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội.
Tóm tắt: Đến nay địa chất y học chưa thực sự là một ngành khoa học
độc lập ở Việt Nam, nhưng từ những năm 90 của thế kỷ XX, nhiều
nghiên cứu về vai trò và tác động của các yếu tố địa chất đến sức
khỏe con người đã được đề cập trong các đề tài, dự án như: Điều tra
hiện trạng nước dưới đất ở một số khu vực thuộc đồng bằng Sông
Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, chương trình nghiên cứu địa hóa
sinh thái các nguyên tố hóa học trong các thành tạo địa chất ảnh
hưởng đến sức khỏe cộng đồng như iod với bệnh bướu cổ và đần độn
ở miền núi, đồng bằng và hải đảo miền Bắc; fluor với các bệnh về
răng và xương ở một số địa phương thuộc Nam Trung Bộ, v.v Mặc
dù những điều tra nghiên cứu theo hướng địa chất y học còn chưa
nhiều và chưa sâu rộng, nhưng cũng đã khẳng định được ý nghĩa to
lớn của mối quan hệ giữa môi trường địa chất và sức khỏe con người.
Nghiên cứu ở Việt Nam bước đầu đã nêu được một số vấn đề cấp
thiết như: điều tra nghiên cứu môi trường địa chất với sức khỏe cộng
đồng; điều tra nghiên cứu các yếu tố địa chất môi trường, địa hóa môi
trường, địa vật lý gây ra các bệnh địa phương khác nhau; điều tra
đánh giá tiềm năng nguồn nguyên liệu khoáng, các yếu tố địa chất có
học hay có các nguyên tố cản, thì ở đó xuất hiện những bệnh địa phương
trong cộng đồng dân cư.
Hình 1. Chuỗi dinh dưỡng sinh địa hóa
các nguyên tố hóa học [theo V.V.
Kovalskij, 1973].
Các bệnh địa phương do sự dư thừa hay thiếu hụt các nguyên tố dinh
dưỡng trong môi trường được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu
trước đây [A.P. Vinogradov, 1962; V.V. Kovalskii, 1970, 1973] và được đặc
biệt chú ý trong những năm gần đây.
Nhận thức được ý nghĩa to lớn của lĩnh vực khoa học này trong sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội, một số điều tra nghiên cứu về địa chất môi trường
đã được triển khai ở nước ta. Đầu những năm 90, ngành Địa chất đã tiến
hành điều tra hiện trạng nước dưới đất một số vùng tại đồng bằng Bắc Bộ và
phụ cận. Hướng nghiên cứu này cũng được triển khai ở một số vùng thuộc
đồng bằng Nam Bộ và một vài nơi khác.
Cũng trong thời gian này, các công trình nghiên cứu địa hóa một số
nguyên tố trong các thành tạo địa chất, trong quặng và mạch khoáng hóa ảnh
hưởng đến sức khỏe cộng đồng đã được triển khai, như đề tài nghiên cứu về
sự liên quan giữa sự thiếu hụt iod với bệnh bướu cổ và đần độn, sự ô nhiễm
arsen vùng thượng lưu Sông Mã; sự dư thừa fluor với các bệnh về răng,
xương ở một số địa phương thuộc Nam Trung Bộ. Tiếp sau là những điều tra
về địa chất môi trường một số vùng khai thác mỏ, khu công nghiệp và đô thị,
v.v. cũng được chú ý nghiên cứu. Một số nhà khoa học còn tìm hiểu khả năng
khai các hoạt động khai thác và chế biến quặng Pb-Zn. Kết quả điều tra địa
hóa một số nơi cho thấy, ở Lũng Váng, Lương Bằng, Keo Lếch, Nà Quan có
nhiều diện tích có mức hàm lượng Pb trong đất tới 100 ppm, hàm lượng Zn
khoảng 300 ppm; hàm lượng Pb-Zn như vậy vượt mức tiêu chuẩn cho phép
rất nhiều. Cùng với Pb và Zn, một số nguyên tố đi kèm khác như Cu, Sb, Mn,
As, Cd, Sn, Hg, v.v. cũng có mức khá cao, vượt ngưỡng chỉ tiêu cho phép
nhiều lần, gây hậu quả cho môi trường sống khu vực. Kết quả điều tra ở một
số vùng cho thấy, cùng với các dị thường của mỏ quặng, việc khai thác và
chế biến khoáng sản đã làm tăng mức độ ô nhiễm đất, hệ thống nước trên
mặt và nước dưới đất. Công tác khảo sát dịch tễ học trong cộng đồng dân cư
vùng Bản Thi cho thấy, một số bệnh phổ biến trong cộng đồng dân cư ở đây
là hiện tượng chóng mặt, buồn nôn, khó thở, tức ngực, các bệnh về huyết áp,
khớp và ngoài da, v.v. là hậu quả của sự ô nhiễm nặng nề môi trường sống
vùng mỏ ở đây.
2. Ô nhiễm arsen
Arsen (As) ở nước ta ít tập trung thành mỏ lớn, nhưng nó lại đi kèm với
các loại quặng hóa. Các dị thường As thường gặp nhiều nơi trong các kiểu
quặng nhiệt dịch. As là một nguyên tố có đặc tính phân tán rộng trong môi
trường. Về mặt sinh học, nó cũng rất đặc biệt: là nguyên tố cần thiết cho sinh
vật với hàm lượng rất nhỏ, nhưng ở mức hàm lượng cao, nó lại là chất độc
cực mạnh đối với con người và sinh vật.
Hàm lượng arsen trong một số thành tạo địa chất tương đối cao như: trong
các đá magma không bị biến đổi nhiệt dịch có mức hàm lượng <13,1 ppm
[Nguyễn Kinh Quốc, 1985, 2002]; trong quặng vàng kiểu thạch anh - vàng
sulfur trong các đá phun trào bazan thuộc hệ tầng Viên Nam (P
3
vn) ở vùng
Đồi Bù, Hòa Bình dao động khoảng 50-204 ppm [Đặng Mai, 2000]; trong đất
vùng mỏ chì-kẽm Chợ Đồn (Bắc Cạn) đạt 97,8 ppm, còn trong quặng Pb-Zn
tới 8206-61.824 ppm [Đỗ Văn Ái và nnk, 2000].
) một cách thiếu khoa
học, làm gia tăng hàm lượng As trong nước dưới đất. Các kết quả điều tra
cho thấy, hàm lượng As trong nước tầng Holocen ở Hà Nội dao động trong
khoảng 0,0001-0,132 mg/l, trung bình 0,034 mg/l, một số giếng ở phía nam
Hà Nội có mức hàm lượng As lên tới 0,6 mg/l. As trong tầng chứa nước
Pleistocen (Q
I
2-3
) mức hàm lượng khoảng 0,0001-0,0937 mg/l [Đỗ Trọng Sự,
1992], một số mẫu nước ở phía Bắc Hà Nội gặp một số dị thường As trong
tầng Pleistocen thuộc vùng giữa sông Hồng và sông Đuống có hàm lượng As
vượt giới hạn cho phép là 0,05 mg/l [Phạm Hùng Việt, 2000].
Một số công trình điều tra địa chất môi trường biển gần đây cho thấy trầm
tích ven biển ở một số vùng như phía đông Hòn Trấu (Phú Yên), An Hòa
(Quảng Ngãi) v.v. có hàm lượng As (dạng ion hòa tan) tới 190-200 ppm [Mai
Trọng Nhuận, 1999].
Sự ô nhiễm môi trường bởi As đã ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi và
sản phẩm nông nghiệp, các kết quả phân tích mẫu sản phẩm thịt gia súc, gia
cầm cho thấy hàm lượng As trong thịt gà, thịt lợn ở Hà Nội, Thái Nguyên khá
cao: trong thịt gà là 0,23- 1,88 mg/kg (tươi), 0,89-7,70 mg/kg (khô), trong thịt
lợn là 0,28-0,43 mg/kg (tươi) và 1,19-1,57 mg/kg (khô), trong khi đó, ngưỡng
hàm lượng cho phép ở thịt gà 0,1 mg/kg [Nguyễn Tài Lương, 2000].
Như vậy, hiện trạng ô nhiễm môi trường bởi As nguồn gốc nội sinh, ngoại
sinh cũng như các hoạt động nhân sinh đã tác động xấu đến sức khỏe cộng
đồng từ miền núi đến đồng bằng, từ miền quê đến thành thị là rất lớn khiến
chúng ta phải có sự quan tâm đúng mức.
3. Fluor với sức khỏe cộng đồng
Fluor có ý nghĩa sinh học to lớn, đặc biệt đối với động vật và con người.
Những bệnh địa phương liên quan đến F trong môi trường khá phổ biến trên
thế giới cũng như ở nước ta. Bệnh này phát sinh do sự dư thừa hay thiếu hụt
Bộ cho thấy, hàm lượng F ở đây rất thấp: trong nước sông Sài Gòn khoảng
0,025-0,13 mg/l; ở thị xã Bến Tre, Long An, Sóc Trang, An Giang, Tiền Giang,
Vĩnh Long, Kiên Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, v.v. có mức hàm lượng chỉ từ
0,01 đến 0,35 mg/l, trong đó nhiều địa phương có mức hàm lượng F < 0,01
mg/l [17].
Gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa nhiều tin liên quan
đến bệnh “chết răng” (fluorosis) ở một số địa phương thuộc Nam Trung Bộ và
gọi đây là “vùng đất không có nụ cười”, theo tài liệu khảo sát của Đặng Trung
Thuận [2000], nước giếng ở một số vùng thuộc tỉnh Khánh Hòa có hàm lượng
F trên 8 mg/l, có nơi tới 13 mg/l như ở các xã Ninh Tùng, Buôn M'Dung, Ninh
Xuân, Ninh Thượng, Ninh Quang, Ninh Trung, Ninh Thân, Ninh Đông, Ninh
Hải, Ninh Hà thuộc huyện Ninh Hòa (nguồn nước khoáng M’Dung ở Ninh Hòa
chứa hàm lượng F tới 8,0-9,3 mg/l). Kết quả điều tra dịch tễ học của ngành y
tế Khánh Hòa cho thấy, trên 70 % cư dân ở những khu vực này mắc bệnh
nhiễm độc fluor như: đốm răng, sứt mẻ răng, giòn xương, to khớp dẫn đến
liệt chi [18]. Trong khi đó phần lớn các nguồn nước mặt có mức hàm lượng F
không cao, như nước sông Cái, sông Lốt, hồ Đà Bản hàm lượng F chỉ
khoảng 0,11-0,26 mg/l; hàm lượng F trong đất ở đây cũng không cao, chỉ
khoảng 0,3-0,9 ppm, rất ít mẫu tới 2,2 ppm. Như vậy, theo các nhà đia chất,
nguồn ô nhiễm F ở đây là nước dưới đất tàng trữ trong các thành tạo đất đá
giàu khoáng vật fluorit.
Đã phát hiện được đá mạch nhiệt dịch của các phức hệ magma granit có
tuổi khác nhau ở một số nơi trong vùng chứa nhiều mạch khoáng hóa fluorit,
có nơi tập trung thành mỏ fluorit có giá trị công nghiệp như mỏ Phú Mỡ, mỏ
Xuân Lãnh (Đồng Xuân, Phú Yên). Ở những nơi này dân ăn uống nước bị
nhiễm F nên thường mắc bệnh mủn răng (răng chết) [Nguyễn Đình Hòe,
2000].
Trong công tác lập bản đồ địa chất và tìm kiếm thăm dò khoáng sản ở
nhiều vùng khác trên toàn quốc đã phát hiện được một số đới địa chất khá
giàu F, như đới Phan Si Pan. Đã khoanh định được những vành phân tán F
5. Ảnh hưởng của việc khai thác, chế biến khoáng sản
Một trong những nhân tố gây ô nhiễm và biến đổi môi trường sinh thái là
việc khai thác và chế biến khoáng sản. Từ xa xưa, người ta cũng đã biết khai
thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản, nhưng nhu cầu rất ít về khối lượng,
chủng loại nên có thể nói là không đáng kể. Khi công nghiệp càng phát triển,
nhu cầu sử dụng các kim loại, khoáng chất ngày càng nhiều phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội, thì việc khai thác và chế biến khoáng sản càng được đẩy
mạnh. Nhiều mỏ kim loại, phi kim và dầu khí đã và đang được điều tra đánh
giá mở rộng và đưa vào khai thác như Pb, Zn, Cu, Cr, Mn, Fe, Sb, Au, Ti,
than, dầu khí và một số các quặng khác, làm thay đổi địa hình và tạo ra
những vành phân tán các nguyên tố quặng, đã gây ra ô nhiễm nghiêm trọng
cho môi trường sinh thái.
Quặng sắt cũng là một khoáng sản được chú ý khai thác. Trong số gần
100 mỏ quặng sắt đã được tìm kiếm thăm dò, mới được tiến hành khai thác 2
mỏ, đó là mỏ quặng magnetit ở Trại Cau và quặng limonit ở Quang Trung
(Thái Nguyên). Ngoài ra còn có hàng chục mỏ nhỏ và điểm quặng cũng được
khai thác thủ công theo kiểu “tận thu”, chẳng những gây thất thoát tài nguyên
mà còn làm cho môi trường bị ô nhiễm nặng nề.
Quặng vàng được phát hiện nhiều nơi trên lãnh thổ Việt Nam như các mỏ
Pác Lang, Nà Pái, Cao Ràm, Bồ Cu, Cẩm Thủy, Tà Sỏi, Bồng Miêu, Tiên
Thuận, Trà Năng v.v. trong đó, nhiều mỏ đã và đang được khai thác cả ở quy
mô công nghiệp và thủ công như mỏ Lương Thượng (Na Rì, Bắc Cạn), Na
Pái (Bình Gia, Lạng Sơn), Phú Sơn (Quảng Nam), Di Linh, Đức Tung (Lâm
Đồng), v.v Điều gây bức xúc nhất là hoạt động khai thác thủ công, sử dụng
hóa chất độc hại để tuyển đãi vàng (như cyanur) gây ra nhiều tác động xấu
đến môi trường và bệnh địa phương khác nhau trong cộng đồng địa phương.
Than là một khoáng sản được khai thác với quy mô lớn nhất hiện nay, đặc
biệt là ở Quảng Ninh. Theo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Quảng Ninh thì nồng độ bụi ở các vùng Mông Dương (Cẩm Phả), Hà Trung,
Hồng Hà (Tp Hạ Long), Khe Ngát (Uông Bí) đều vượt tiêu chuẩn cho phép
, CH
4
, H
2
S, N
2
O, … Đây là sản phẩm của quá trình phân
hủy sinh học các cơ thể chết của thực vật và vi sinh vật, một số khí có tỷ
trọng lớn, chủ yếu là CO
2
thường tích tụ với nồng độ cao ở những chỗ trũng
như đáy giếng, hầm lò kín, … Khi con người hay động vật hít thở phải những
khí đó sẽ bị nhiễm độc với các biểu hiện như ngạt thở, co thắt phế quản, tê
liệt tứ chi, co giật, v.v. có thể tử vong tức thời.
Trong số những khí độc trong đất, phải kể tới khí radon, một khí phóng xạ
rất có hại cho sức khỏe và có thể gây ung thư. Theo tài liệu khảo sát của Liên
đoàn Vật lý địa chất, nhiều nhà ở Hà Nội, Hải Dương, Huế, Đà Lạt đã có biểu
hiện ô nhiễm radon với nồng độ cao [11].
Tiếc rằng cho đến nay, vấn đề tác động tới sức khỏe của khí độc trong đất
chưa được các cơ quan khoa học quan tâm đúng mức, cho dù đã có không ít
lời kêu cứu của người dân ở rất nhiều địa phương trên cả nước.
7. Thảm họa sinh thái do chất độc màu da cam (dioxin)
Chiến tranh đã đi qua hơn 30 năm, nhưng hậu quả thảm khốc của nó trong
đó di hại chất độc màu da cam (dioxin) vẫn chưa ngừng tàn phá sức khỏe
con người và môi trường sinh thái nước ta. Trong nhiều năm qua đã có nhiều
công trình nghiên cứu của các cơ quan khoa học trong nước (Ủy ban 10-80,
nay là Văn phòng 33; Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội; Trung tâm Nhiệt
đới Việt-Nga, ) cũng như nước ngoài, tuy nhiên chưa đánh giá được hết
các tác hại của loại hóa chất này nên vẫn cần phải tiếp tục điều tra nghiên
cứu và áp dụng các biện pháp xử lý nhằm giảm bớt đau thương cho những
Để cho công tác điều tra nghiên cứu địa chất y học phát triển mạnh mẽ,
đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe, phòng chống bệnh tật có nguyên nhân
từ môi trường địa chất, đồng thời cung cấp tài liệu cơ bản cho các cơ quan
chức năng làm căn cứ chọn vùng di dân di thực, xây dựng các khu định cư
mới trên một nền tảng địa chất và môi trường an toàn và bố trí địa bàn canh
tác, chăn nuôi phù hợp với đặc điểm môi trường địa chất, thích nghi khí hậu,
bảo đảm năng suất và chất lượng sản phẩm cao, trong thời gian tới cần đầu
tư thích đáng nhằm mở rộng việc điều tra nghiên cứu trong toàn quốc cũng
như các vùng trọng điểm theo một chương trình đồng bộ với sự cộng tác chặt
chẽ của các ngành và địa phương hữu quan.
Biện pháp hàng đầu đảm bảo thành công là xây dựng một tổ chức trung
tâm mạnh tập hợp được nhiều chuyên gia giỏi với cơ sở vật chất kỹ thuật
hiện đại. Là một lĩnh vực khoa học mới và còn non trẻ đối với nước ta nên
việc hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến cũng cần
được quan tâm.
VĂN LIỆU
1. Đàm Trung Đồn, Đặng Hồng Thúy, 1983. Selen trong sinh học. Nxb Y
học. Hà Nội.
2. Đào Ngọc Phong, 1993. Bước đầu đánh giá sự phối hợp tác động giữa
môi trường sống tự nhiên bị nhiễm độc As với các yếu tố nguy cơ khác tới
sức khỏe cư dân sống lâu ngày ở một số bản thuộc xã Bó Xinh, xã Nà Nghịu,
huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Lưu trữ Ủy ban Nhân dân, Sơn La.
3. Đặng Ngọc Minh, Nguyễn Khắc Hải, Chander Badloe, Nguyễn Quý
Hòa, 2004. Đánh giá ảnh hưởng độc hại của As trong nguồn nước dưới đất
tới sức khỏe dân cư tại Hà Nam. Báo cáo HNKH lần III trường ĐHKHTN Hà
Nội. Hà Nội.
4. Đặng Văn Can, 1997. Dị thường As trong các thành tạo biến đổi nhiệt
dịch và ảnh hưởng của nó tới các nguồn nước và môi sinh khu vực thượng
lưu sông Mã. Hội thảo Tài nguyên nước dưới đất phục vụ Chương trình cung
cấp nước sạch và bảo vệ môi trường. Hà Nội.
thủy liệu pháp nước khoáng ở Việt Nam. Địa chất sinh thái và công nghệ môi
trường. Hà Nội.
17. Võ Thế Quang, 1985. Phòng bệnh sâu răng bằng fluor. Nxb Y học, Tp
HCM.
18. Vũ Ngọc Trân, 2002. Ảnh hưởng xấu của các dị thường địa sinh thái
và một số vấn đề địa chất y học ở tỉnh Khánh Hòa. Thông tin KHKT ĐC. Địa
chất y học, IV. Cục ĐC&KS VN, Hà Nội.