Báo cáo nghiên cứu khoa học: " KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC - HÓA CHẤT TRONG NUÔI TÔM VÀ SỰ TỒN LƯU CỦA " - Pdf 19

Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006:70 -78 Trường Đại học Cần Thơ

70
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC - HÓA CHẤT
TRONG NUÔI TÔM VÀ SỰ TỒN LƯU CỦA ENROFLOXACIN
VÀ FURAZOLIDONE TRONG TÔM SÚ (Penaeus monodon)
Huỳnh Thị Tú
1
, Nguyễn Thanh Phương
1
, Frédéric Silvestre
2
, Caroline Douny
3
,
Châu Tài Tảo
1
, Guy Maghuin-Rogister
3
và Patrick Kestemont
2

ABSTRACT
There has been an increasingly use of drugs and chemicals in shrimp farming as it has been moving
from low to high level of intensification. The results of the investigation of 60 shrimp farming and drug
and chemical stores in Soc Trang and Bac Lieu provinces showed that there were 74 kinds of drugs
and chemicals used in shrimp farimg, of which there were 19 antibiotics.
The accumulation and elimination kinetics of enrofloxacin (fluoroquinolones) and furazolidone
(nitrofuran) residues in shrimpmuscle were conducted both in tanks and in improved extensive and
intensive ponds. Shrimps were treated with medicated feed of 4 g/kg feed during 1 week followed by a
recovery period Muscle were sampled at different time and analyzed for residues by liquid

ăn mức tồn lưu của AOZ enrofloxacin cao nhất theo thứ tự là 874 ppb và 441ppb. Tuy nhiên, sau 28
ngày kể từ khi dừng cho ăn thức ăn có kháng sinh thì mức tồn lưu là 115 ppb AOZ và 10.4 ppb
enrofloxacin. Dư lượng tối đa cho phép trong sản phẩm thủy sản là 100 ppb đối với enrofloxacin và 0
ppb với furazolidone. Tôm nuôi trong ao thâm canh và quảng canh cải tiến không phát hiên mức tồn
lưu của enrofloxacin sau 1 tuần ngưng cho tôm ăn thức ăn có trộn enrofloxacin. Kết quả nghiên cứu
cho thấy cần 2 tuần từ khi dừng sử dụng enrofloxacin để không còn tồn lưu trong cơ tôm.
Furazolidone nên cấm sử dụng trong thủy sản.
Từ khóa: enrofloxacin, furazolidone, tồn lưu, Tôm sú

1
Khoa Thủy sản, Đại học Cần T hơ
2
Đại học Namur, Bỉ
3
Trung Tâm Phân Tích Dư Lượng, Đại học Liege, Bỉ

.
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006:70 -78 Trường Đại học Cần Thơ

71
1 GIỚI THIỆU
Ở Việt Nam nuôi tôm biển đã trở thành hoạt động quan trọng nhất và được xem là
mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 1999-2010
(224/1999/QĐ-TTg). Theo báo cáo của Bộ Thuỷ sản (2004) thì năm 2003 diện tích
nuôi thủy sản nước lợ và mặn đạt khoảng 575.137 ha, trong đó có 546.000 ha là diện
tích nuôi tôm và tổng sản lượng tôm nuôi xấp xỉ 200.000 tấn, và có khoảng 80% sản
lượng tôm được nuôi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Nghề nuôi tôm vì thế
đã trở thành họat động quan trọng nhất của ngành nuôi trồng thủy sản vùng ven biển
ĐBSCL. Từ đầu năm 2000, nuôi tôm của ĐBSCL chuyển nhanh chóng từ kỹ thuật
nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến sang kỹ thuật nuôi thâm canh và bán thâm

Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ. Thí nghiệm gồm 9 bể composite có thể tích
2 m
3
/bể trong đó có 3 bể đối chứng (không cho tôm ăn thức ăn có thuốc), 3 bể
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006:70 -78 Trường Đại học Cần Thơ

72
cho tôm ăn thức ăn trộn furazolidone (98%) và 3 bể cho tôm ăn thức ăn trộn
enrofloxacine (98%). Enrofloxacin và furazolidone được trộn vào thức ăn với
liều lượng 4 g/kg thức ăn cho mỗi loại kháng sinh. Thức ăn có trộn kháng sinh
sẽ được áo bên ngoài bằng 3% dầu và 3% nước. Tôm khi thí nghiệm có khối
lượng 10g/con và nuôi mật độ 70 con/bể. Tôm được cho ăn thức ăn có trộn
kháng sinh liên tục trong thời gian 1 tuần và sau đó cho tôm ăn thức ăn thức
không có kháng sinh trong 28 ngày. Tôm được cho ăn theo nhu cầu và cho ăn 4
lần/ngày, thức ăn thừa sẽ loại bỏ sau 3 giờ cho ăn.
- Thu mẫu: thu mẫu cơ tôm vào thời điểm (i) trước khi cho tôm ăn thức ăn có
thuốc kháng sinh; (ii) 4 và 7 ngày sau khi tôm ăn thức ăn có kháng sinh; (iii) 1,
4, 7, 14 và 28 ngày sau khi tôm dừng ăn thức ăn có kháng sinh. Mỗi bể thu 4
tôm/lần thu. Mẫu cơ tôm được giử ở nhiệt độ –80
o
C đến khi phân tích.
2.2.2 Thí nghiệm đánh giá sự tồn lưu của enrofloxacin trong tôm nuôi trong ao
- Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được tiến hành tại Sóc Trăng và Cà Mau vào
tháng 8 đến 11 năm 2005. Thí nghiệm tiến hành trên mô hình nuôi là nuôi thâm
canh ở Sóc Trăng và quảng canh cải tiến ở Cà Mau. Thí nghiệm được tiến hành
trên 3 ao nuôi thâm canh có diện tích là 3.000 m
2
/ao và 3 ao nuôi quảng canh
có diện tích từ 2.000-6.000 m
2

Bảng 2 : Chi phí được tính trong 1 vụ nuôi tôm
Chi phí %
Tổng chi phí (triệu đ/ha/vụ) 149±99,5 100
Khấu hao (triệu đ/ha/vụ) 4,34±1,6 2,90
Chi phí biến đổi
- Cải tạo ao 6,81±5,38 4,60
- Giống 12,6±6,86 8,50
- Thức ăn 75,1±64,5 50,5
- Lao động 0,79±1,87 0,50
- Thuốc và hóa chất 36,9±40,8 24,8
- Khác 12,2±13,6 8,20
Tổng thu (triệu đ/ha/vụ) 220±214
Giá bán (x 1.000 VND/kg) 96,3±18,4
Lợi nhuận (triệu đ/ha/vụ) 75,7±151
3.1.2 Tình hình bệnh tôm
Kết quả ghi nhận được 10 loại bệnh trên Tôm sú nuôi (Bảng 3), trong số này bệnh
đóng rong, bệnh đen mang và bệnh đốm trắng và được ghi nhận ở tỉ lệ cao nhất,
lần lượt là 65%, 26,7% và 25%. Nhìn chung, đây là các bệnh phổ biến trên Tôm sú
nuôi (Chanratchakool et al., 1998 ). Đặc biệt, bệnh phân trắng mới xuất hiện ở
Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng cũng được ghi nhận ở tỉ lệ 16,7% số hộ
điều tra. Sự chuẩn đoán bệnh tôm của người dân thường dựa vào thay đổi tập tính
hoặc những dấu hiệu bên ngoài của tôm.
Bảng 3: Một số bệnh tôm phổ biến trong khu vực khảo sát
Tên bệnh Tỉ lệ số hộ bắt gặp (%) Thuốc và hóa chất dùng để phòng và trị bệnh tôm
Đóng rong
Đen mang
Phân trắng
Mòn đuôi
Bệnh nhiễm độc
Đầu vàng

được sử dụng trong nuôi tôm tại khu vực nghiên cứu. Theo kết quả điều tra của
Nguyễn Thị Phương Nga (2004) về thuốc và hóa chất dùng nuôi tôm thâm canh và
bán thâm canh tại Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau cho thấy có đến 116 sản phẩm
thuốc và hóa chất được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản thuộc các nhóm khác
nhau với các mục đích sử dụng khác nhau. Trong đó nhóm hóa chất là 40 loại, chế
phẩm sinh học 35 loại, nhóm kháng sinh có 15 loại, nhóm khoáng thiên nhiên 4
loại, nhóm vitamin, khoáng, lipid có 22 loại
.
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006:70 -78 Trường Đại học Cần Thơ

74
Theo Nguyễn Thị Phương Nga (2004) trong 40 loại hóa chất được sử dụng trong mô hình
nuôi thâm canh và bán thâm canh chủ yếu với mục đích diệt tạp và xử lý nước. Hóa chất
với hoạt chất như saponin, trichlorofon, dichlorofon organophosphate, pyrethorid được sử
dụng phổ biến nhất để diệt tạp trong ao nuôi thâm canh và bán thâm canh, trong khi nhóm
calcium hypochloride (tên thương mại Chlorine Indo, Kaporit 65) và postassium thiosulfate
(tên thương mại Virkon A) được sử dụng nhiều nhất trong cải tạo ao.
Bảng 4: Một số loại thuốc trừ sâu, diệt tạp và tẩy trùng
Thuốc trừ sâu, diệt tạp và tẩy trùng

Tên thương mại % số hộ sử dụng
Calcium hypochloride (thuốc tẩy)
Trichlorofon
Formalin/formaldehyde
Potassium permanganate
Saponin
Potassium thiosulfate
Benzalkonium chloride
Iodophores
Copper sulfate

lẫn cho người sử dụng (Bảng 5). Nhóm kháng sinh fluoroquinolones (enrofloxacin,
norfloxacin và a-xít oxolinic) được sử dụng nhiều nhất trong khu vực khảo sát.
Sulfonamides được sử dụng kết hợp với norfloxacin và trimethoprim hoặc với
trimethoprim để phòng trị bệnh thuôc nhóm Vi brio. Chloramphenicol không có sử dụng
ở khu vực khảo sát. Kháng sinh được người nuôi tôm sử dụng thường ở dạng bột hay
dạng viên và được mua ở cửa hàng bán thuốc thú y nhỏ tại địa phương. Tương tự, theo
kết quả điều tra của Nguyễn Thị Phương Nga (2004) thì kháng sinh được người nuôi sử
dụng trong quá trình nuôi thường ở dạng kháng sinh đơn lẻ chủ yếu là nhóm
fluoroquinolones. Trong đó 42,9% số hộ điều tra sử dụng enrofloxacin và 25% số hộ
điều tra sử dụng norfloxacin. Ngoài ra, sulfamethoxazol, cortrimoxazol, aminosid,
colistin và trimethoprim cũng được sử dụng nhưng chiếm tỉ lệ thấp.
Bảng 5: một số loại thuốc kháng sinh thường sử dụng trong nuôi tôm
Tên kháng sinh Tên thương mại
Enrofloxacin (10) Enroxin và Enrofloxacin
Norfloxacin (7) Noracin, Anti – white, Anti – WW và N300
Oxolinic acid (8) Oxolin
Sulphamethoxazole + Trimethoprim (4) Dai-Trim và Vi- trim
Sulfamid + Trimethoprim (4) Cotrim-Fort, Trimesul và Sulfa-Prim 01
Enrofloxacin + Metronidazole + Colistin (3) Enro DC
Enrofloxacin + Genta mycin + Colistin (2) Genrode xacol và EGC-mycine
Norfloxacin + Sulfamid + Trimethoprim (2) Anti –V
Norfloxacin + Colistin + Gentamycin (2) Norlp-Septryl
Sorbitol (2) Sorbitol
Ampicillin + Furaltadone + Sulfachlorpuridazin (2) Bioxide for shrimp
Số được ghi trong ngoặc là số hộ sử dụng một hay nhiều loại kháng sinh trong khu vực khảo sát
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006:70 -78 Trường Đại học Cần Thơ

75
Sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi tôm dẫn đến tình hình sử dụng thuốc và
hóa chất cũng gia tăng. Khi nhu cầu sử dụng tăng, nhiều loại kháng sinh với tên

14 ng
ày
28 ngày
Hàm lượ ng (ppb)
Th
ời gian
0 g
iờ
7 ng
ày
Kh
ông dùng thuốc
D
ùng
thuốc
7 ng
ày
14 ng
ày
28 ngày
Hàm lượ ng (ppb)
Th
ời gian
0 g
iờ
7 ng
ày
Kh
ông dùng thuốc
D

canh (Sóc Trăng)
Ao 1: <LOQ Ao 1: <LOQ
Ao 2: <LOQ Ao 2: <LOQ
Trước lúc cho tôm ăn
enrofloxacin
Ao 3: <LOQ Ao 3: <LOQ
Ao 1: <LOQ Ao 1: <LOQ
Ao 2: <LOQ Ao 2 : 75.3 ± 8.8
7 ngày cho tôm ăn
enrofloxacin
Ao 3: <LOQ Ao 3: 130.8 ± 15.4
Ao 1: <LOQ Ao 1: <LOQ
Ao 2: <LOQ Ao 2: <LOQ
7 ngày sau khi ngưng cho
tôm ăn enrofloxacin
Ao 3: <LOQ Ao 3: <LOQ
Ao 1: <LOQ Ao 1: <LOQ
Ao 2: <LOQ Ao 2: <LOQ
Thu hoạch tôm
Ao 3: <LOQ Ao 3: <LOQ
QCCT: quảng canh cải tiến
LOQ: Giá trị giới hạn phân tích (Limit of analytical quantitation )
Rất ít nghiên cứu về ảnh hưởng của furazolidone lên môi trường cũng như loài cá,
tôm nuôi. Plakas et al. (1991) nghiên cứu mức tồn lưu và phân hủy của
furazolidone dùng cho cá nheo Mỹ (channel catfish) với liều sử dụng là 1 mg/kg
khối lượng cơ thể. Kết quả sau 5 giờ sau khi ngưng cho ăn thì hàm lượng
furazolidone tồn lưu trong máu rất thấp (<20 ng/ml máu). Trong quá trình sử dụng
furazolidone, một lượng lớn furazolidone thải ra môi trường qua thức ăn hoặc bài
tiết (Samuelsen et al., 1991). Samuelsen et al. (1991) nhận xét rằng furazolidone
thông qua hệ vi sinh vật trong nền đáy và biến đổi thành dạng 3-(4-cyano-2-

77
mg/kg khối lượng cơ thể liên tục trong 10 ngày thì 60 ngày sau khi ngưng sử dụng
thì mức tồn lưu của enrofloxacin trong cơ cá là 6 ppb. Hơn nữa, ông cho rằng
enrofloxacin có khả năng tích lũy trên da cá Hồi và thời gian đào thải ở da cá chậm
hơn. Như vậy, độ tồn lưu của enrofloxacin khác nhau theo loài, và phụ thuộc vào
cơ quan thu để phân tích độ tồn lưu.
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1 Kết luận
- Nhiều loại thuốc kháng sinh, thuốc trừ sâu, thuốc diệp tạp và thuốc tẩy trùng
được sử dụng trong nuôi tôm. Kháng sinh nhóm fluoroquinolones
(enrofloxacin, norfloxacin and oxolinic acid) được sử dụng nhiều nhất. Chi phí
thuốc và hóa chất chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất (24,8%).
- Mức tồn của furazolidone (AOZ) trong tôm khá lâu, sau khi dừng cho ăn kháng
sinh 7 ngày thì độ tồn lưu của AOZ là 306 ppb và sau 28 ngày là 115 ppb trong
bể thí nghiệm.
- Mức đào thải của enrofloxacin trong tôm rất nhanh. Trong bể nuôi thì sau khi
dừng cho ăn thức ăn có kháng sinh 7 ngày thì mức tồn lưu chỉ còn 17,3 ppb và
sau 28 ngày là 10 ppb. Trong mô hình nuôi thâm canh, không phát hiện độ tồn
lưu enrofloxacin trong cơ tôm sau 7 ngày ngừng cho tôm ăn thức ăn có
enrofloxacin.
4.2 Đề xuất
Nên khảo sát mức độ tồn lưu của các kháng sinh thường dùng trong nuôi tôm để
đề xuất giải pháp quản lý sử dụng phù hợp. Sử dụng enrofloxacin trong tôm nuôi
trong thời gian 2 tuần với liều lượng 4 g/kg thức ăn là an toàn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bower,P.R., Wooster, G.A., Leger, J.St., Babish, J.G. (1992). Pharmacokinetics of
enrofloxacin in figerling Rainbow Trout (Oncorhynchus mykiss). J.Vet. Pharmacol.
Therap. 15: 62-71.
Bộ Thủy Sản (2004). Báo cáo kết quả nuôi trồng thủy sản năm 2003 và biện pháp thực hiện
kế hoạch năm 2004.

Stoffregen, D.A., Wooster, G.A., Bustos, P.S., Bower, P.R., Babish. J.G. (1997). Multiple
route and dose pharmacokinetics of enrofloxacin in juvenile Atlantic salmon. J.Vet.
Pharmacol. Therap.20: 111-123.
Timperio, A.M., Kuiper, H.A., Zolla,L. (2003). Identification of a furazolidone metabolite
responsible for the inhibition of amino oxidases. Xenobiotica 33: 153-167.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status