nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty chứng khoán ở việt nam - Pdf 19

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức hoạt động vào tháng 7/2000
với sự ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
(nay là Sở giao dịch) và đã trải qua giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển.
Thực tế cho thấy sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam đã đáp ứng
được nhu cầu huy động vốn cho các doanh nghiệp để phát triển nền kinh tế
đất nước. Nghiên cứu về các hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán
cũng như các quy trình thực hiện các giao dịch cho thấy, trong toàn bộ quá
trình từ phát hành và đưa chứng khoán vào giao dịch, tiếp nhận và triển khai
thực hiện lệnh của khách hàng cho đến hoàn tất các giao dịch chứng khoán,
dù diễn ra tại sàn giao dịch của Sở, trên các hệ thống thông tin của thị trường
OTC hay khắp ở mọi nơi, mọi lúc, luôn luôn phải có sự tham gia của các định
chế tài chính trung gian trong đó Công ty chứng khoán đóng vai trò trực tiếp.
Là cầu nối quan trọng giữa nhà đầu tư với thị trường, công ty chứng khoán
giúp cho việc trao đổi hàng hoá “chứng khoán” được diễn ra thuận lợi nhất.
Các hoạt động nghiệp vụ của Công ty chứng khoán dù trực tiếp hay gián tiếp
đều tác động đến các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán.
Các định chế tài chính trung gian nói chung và Công ty chứng khoán nói
riêng còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo lợi ích của các
chủ thể tham gia, duy trì, thực hiện các nguyên tắc hoạt động của thị trường
nhằm đảm bảo sự an toàn và hiệu quả của từng giao dịch cũng như toàn bộ thị
trường chứng khoán. Việc xem xét và đánh giá về hiệu quả các mặt hoạt động
của Công ty chứng khoán sẽ góp phần nâng cao vai trò trung gian tài chính
trực tiếp đối với sự phát triển thị trường chứng khoán còn khá mới như Việt
Nam hiện nay.
2
Sau một thời gian hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trở
thành một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính và nền kinh tế. Nghiên
cứu thực tế đã chỉ ra rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển

- Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hiệu quả hoạt động của các Công ty
chứng khoán, tác giả đưa ra một số giải pháp để công ty chứng khoán trở
thành nhân tố trực tiếp và tích cực giúp thị trường chứng khoán Việt Nam
phát triển một cách ổn định và hiệu quả nhất.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các
từ viết tắt luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả hoạt động của Công ty
chứng khoán
Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động của Công ty chứng khoán ở
Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty chứng
khoán ở Việt Nam
4
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 Tổng quan về công ty chứng khoán
1.1.1 Khái niệm
Công ty chứng khoán (CTCK) là một định chế tài chính trung gian, thực
hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán (TTCK)
Theo Luật chứng khoán Việt Nam năm 2006, Công ty chứng khoán được
tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, hoặc công ty cổ phần
theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005, do Ủy ban chứng khoán Nhà
nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép này đồng thời là Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Các điều kiện thành lập CTCK gồm: Điều kiện về vốn (CTCK phải có
mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định, vốn pháp định thường được
quy định cụ thể cho từng loại hình nghiệp vụ); điều kiện về nhân sự (những
người quản lý hoặc nhân viên của CTCK phải đáp ứng yêu cầu về kiến thức,
trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, đạo đức nghề nghiệp, hầu hết các nước

Các CTCK có thể là thành viên của một hay nhiều Sở giao dịch trong
nước . Với tư cách là thành viên của Sở giao dịch, CTCK sẽ cử các chuyên
gia môi giới đến hoạt động tại sàn giao dịch, đây là các nhà môi giới chính
thức, và cùng với các chuyên gia chứng khoán của Sở, tiếp nhận và tổ chức
thực hiện lệnh của khách hàng đặt mua, bán chứng khoán. Nếu không phải là
thành viên của Sở giao dịch, các CTCK có thể hoạt động tự do trên thị trường
OTC và thị trường vô hình. Trong trường hợp này các công ty thường thực
hiện những hoạt động tự doanh hơn là phục vụ khách hàng. Các thành viên
của CTCK loại này còn gọi là các nhà môi giới tự do, hoạt động bên ngoài
6
sàn song vẫn phải có bằng và được cấp giấy phép hành nghề, tuân thủ các quy
định của pháp luật, của thị trường và vì lợi ích của khách hàng.
Hoạt động của các CTCK rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các
doanh nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì CTCK là một loại
hình định chế tài chính đặc biệt nên vấn đề xác định mô hình tổ chức kinh
doanh của nó cũng có nhiều điểm khác nhau ở các nước. Mô hình tổ chức
kinh doanh của CTCK ở mỗi nước đều có những đặc điểm riêng tuỳ thuộc
vào đặc điểm của hệ thống tài chính và sự cân nhắc lợi hại của những người
làm công tác quản lý nhà nước. Tuy nhiên có thể khái quát thành hai mô hình
cơ bản hiện nay :
* Mô hình đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ : Theo mô hình
này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh
chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này chia thành hai loại :
- Loại đa năng một phần : Các ngân hàng muốn kinh doanh chứng
khoán, kinh doanh bảo hiểm phải lập công ty độc lập hoạt động tách rời.
- Loại đa năng hoàn toàn : Các ngân hàng được kinh doanh chứng
khoán, kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ.
* Mô hình chuyên doanh chứng khoán : Theo mô hình này, hoạt động
chuyên doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hoá trong
lĩnh vực chứng khoán đảm nhận ; các ngân hàng không được tham gia kinh

8
- Đối với nhà đầu tư:
Thông qua nghiệp vụ môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư,
các CTCK với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp cho các
nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả nhất.
- Đối với tổ chức phát hành
Thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các CTCK có
khả năng tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ cho các nhà phát hành. Đồng
thời, thông qua nghiệp vụ tư vấn của mình, các CTCK có thể giúp cho tổ chức
phát hành nhanh chóng huy động vốn một cách tối ưu.
- Đối với các cơ quan quản lý thị trường:
Các CTCK có vai trò cung cấp thông tin về TTCK bao gồm thông tin
về các giao dịch mua bán trên thị trường, thông tin về các nhà đầu tư…cho
các cơ quan quản lý giúp họ có thể kiểm soát từ đó đưa ra những giải pháp
chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn bóp méo thị trường.
1.2 Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán
1.2.1 Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó
một CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao
dịch tại SGDCK hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách
nhiệm đối với kết quả giao dịch đó.
Môi giới trên Sở giao dịch thường được các chuyên gia hoặc các nhà môi
giới tiếp nhận và tổ chức thực hiện các lệnh đặt mua, bán chứng khoán cho
khách hàng. Trường hợp môi giới trên thị trường OTC, các nhà môi giới hoạt
động như những nhà tạo lập thị trường bằng cách chào mua hoặc chào bán một
9
loại chứng khoán chưa niêm yết trên Sở giao dịch, qua đó làm tăng tính thanh
khoản cho loại chứng khoán đó.
Thông qua hoạt động môi giới, CTCK sẽ chuyển đến khách hàng sản
phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán với

- Đầu tư vào trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành
(người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay)
một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và
phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.
Trái phiếu là công cụ nợ đòi hỏi người phát hành hoàn trả cho người cho
vay khối lượng vốn đã vay cộng với tiền lãi trong một thời hạn nhất định.
Việc giao dịch trái phiếu thường là các giao dịch thỏa thuận (dù trái phiếu có
niêm yết trên sàn hay không) do đặc điểm của giao dịch trái phiếu trong hoạt
động tự doanh thường là các khoản đầu tư lớn.
- Đầu tư vào chứng khoán phái sinh khác
Chứng chỉ quỹ:
Quỹ đầu tư là quỹ hình thành từ vốn góp của các nhà đầu tư. Khi mua
đầu tư vào chứng chỉ quỹ có nghĩa sẽ trở thành cổ đông của quỹ và có đầy đủ
các quyền do pháp luật quy định. Việc giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ cũng
tương tự như mua bán cổ phiếu.
Chứng khoán có thể chuyển đổi:
11
Là những chứng khoán cho phép người nắm giữ nó, tùy theo lựa chọn
và trong những trường hợp cụ thể có thể đổi nó lấy một loại chứng khoán theo
quy định. Việc nắm giữ chứng khoán có thể chuyển đổi tạo điều kiện cho
người nắm giữ có thể bảo vệ mình trong trường hợp giá thị trường của cổ
phiếu đó giảm giá trên thị trường.
Hợp đồng kỳ hạn:
Là một thỏa thuận trong đó người mua và một người bán chấp nhận
thực hiện một giao dịch hàng hóa với khối lượng xác định tại một thời điểm
xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay.
Bằng việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn được
rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình.
Hợp đồng tương lai:

Khác với nghiệp vụ môi giới, CTCK chỉ làm trung gian thực hiện lệnh
cho khách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh công ty chứng
khoán kinh doanh bằng chính nguồn vốn của công ty. Vì vậy CTCK đòi hỏi
phải có nguồn vốn rất lớn và đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, khả
năng phân tích và đưa ra những quyết định đầu tư hợp lý
- Tạo lập thị trường.
Do đặc thù của hoạt động chứng khoán, đặc biệt là các thị trường chứng
khoán mới nổi, bao gồm chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân, nhỏ lẻ thì tính
chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư không cao. Điều này rất dễ dẫn đến
những biến động bất thường trên thị trường. Vì vậy, các nhà đầu tư lớn,
13
chuyên nghiệp rất cần thiết để làm tín hiệu hướng dẫn cho toàn bộ thị trường.
Bên cạnh hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán, các công ty chứng
khoán với khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn của mình có thể thông qua
hoạt động tự doanh góp phần rất lớn trong việc điều tiết cung cầu, bình ổn giá
cả của các loại chứng khoán trên thị trường. Thông thường, chức năng tạo lập
thị trường không phải là một quy định bắt buộc trong hệ thống pháp luật của
các nước, tuy nhiên đây thường là nguyên tắc nghề nghiệp do các hiệp hội
chứng khoán đặt ra trên thị trường và các CTCK tuân thủ theo trong quá trình
hoạt động.
Cơ chế hoạt động của nhà hoạt động thị trường như sau:
Mỗi nhà tạo lập thị trường sẽ cạnh tranh trên thị trường để nhận được
lệnh đặt từ phía khách hàng (là các nhà đầu tư tham gia trên thị trường) bằng
cách báo các mức giá chào mua chào bán đối với một khối lượng chắc chắn
có thể giao dịch của loại chứng khoán nhất định. Khi nhận được lệnh đặt từ
phía khách hàng (là các nhà đầu tư tham gia trên thị trường) bằng cách bán
các giá chào mua, chào bán đối với một khối lượng chắc chắn có thể giao dịch
của loại chứng khoán nhất định. Khi nhận được lệnh đặt từ phía khách hàng,
nhà tạo lập thị trường sẽ gần như một lúc bán những chứng khoán mà tổ chức
đó nắm giữ trong kho hoặc tìm kiếm một lệnh đối ứng phù hợp. Toàn bộ quá

trong việc sử dụng các thông tin từ nhà tư vấn để đầu tư, nhà tư vấn sẽ không
chịu trách nhiệm về những thiệt hại kinh tế do lời khuyên đưa ra.
15
Không được dụ dỗ, mời chào khách hàng mua hay bán một loại CK nào
đó, những lời tư vấn phải được xuất phát từ những cơ sở khách quan là quá
trình phân tích, tổng hợp một cách khoa học, logic
1.2.4 Hoạt động bảo lãnh và đại lý phát hành
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành
cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng
khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành
để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ
chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng
khoán ra công chúng
Khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, các nhà bảo lãnh đã nhận
toàn bộ hoặc một phần rủi ro trong việc bán chứng khoán mới phát hành. Do
đó, tổ chức phát hành phải trả cho tổ chức bảo lãnh phát hành một khoản tiền
hoa hồng bảo lãnh – phí bảo lãnh phát hành (số chênh lệch giữa khoản thu
được do bán chứng khoán và số tiền phải trả lại cho nhà phát hành). Mức phí
này phụ thuộc vào chất lượng, quy mô của đợt phát hành và tình hình cụ thể
của thị trường.
Một số hình thức bảo lãnh phát hành được áp dụng:
Bảo lãnh theo phương thức cam kết chắc chắn: Là phương thức mà tổ
chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành sẽ mua hết lượng
chứng khoán của họ với một mức giá thỏa thuận và phân phối lại cho công
chúng tại mức giá chào bán ra công chúng. Giá chào bán ra công chúng không
được thay đổi trong suốt quá trình chào bán. Mức giá thỏa thuận được gọi là
giá chiết khấu và chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của tổ chức bảo lãnh
phát hành và giá bán ra công chúng được gọi là hoa hồng chiết khấu.
16
Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: Là phương thức tổ chức phát hành chỉ

Đối với các thị trường chứng khoán phát triển, bên cạnh nghiệp vụ môi
giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, công ty chứng khoán
còn triển khai hoạt động cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giao
dịch bán khống hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàng thực hiện nghiệp
vụ mua ký quỹ.
Cho vay ký quỹ là hình thức cấp tín dụng của công ty chứng khoán cho
khách hàng của mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó
làm vật thế chấp cho khoản vay đó. Khách hàng chỉ cần ký quỹ một phần, số
còn lại sẽ do công ty chứng khoán ứng trước tiền thanh toán. Đến kỳ hạn thỏa
thuận, khách hàng phải hoàn trả đủ số vốn gốc vay cùng với lãi cho công ty
chứng khoán. Trường hợp khách hàng không trả được nợ, thì công ty sẽ phát
mãi số chứng khoán đã mua để thu hồi nợ.
* Hoạt động quản lý quỹ
Ở một số thị trường chứng khoán, pháp luật chứng khoán về thị trường
chứng khoán còn cho phép công ty chứng khoán được thực hiện nghiệp vụ
quản lý quỹ đầu tư. Theo đó công ty chứng khoán cử đại diện của mình để
quản lý quỹ và sử dụng vốn và tài sản của quỹ đầu tư để đầu tư vào chứng
khoán. Công ty chứng khoán được thu phí dịch vụ quản lý quỹ đầu tư.
18
Mối quan hệ giữa các hoạt động của Công ty chứng khoán
Như đã trình bày ở trên, hoạt động của Công ty chứng khoán bao gồm
bốn nghiệp vụ chính là Môi giới, Tự doanh, Bảo lãnh phát hành và đại lý phát
hành, Tư vấn đầu tư chứng khoán. Đối với mỗi hoạt động nghiệp vụ đòi hỏi
CTCK phải thực hiện theo một quy trình và yêu cầu bắt buộc đối với từng
nghiệp vụ. Tuy nhiên các hoạt động này có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Hoạt động môi giới có đảm bảo cung cấp dịch vụ tốt thì mới thu hút được
khách hàng đến với CTCK, khi đó hoạt động tư vấn mới được thực hiện. Các
kết quả nghiên cứu, phân tích, tổng hợp từ hoạt động môi giới và tư vấn đầu
tư là cơ sở để CTCK thực hiện tốt hoạt động tự doanh của mình. Trong trường
hợp thực hiện chức năng tạo lập thị trường, CTCK vừa là nhà môi giới, đồng

TTCK nói riêng chính là hiệu quả mang lại cho các chủ thể bao gồm : công ty
chứng khoán, nhà đầu tư và tổ chức phát hành thông qua các hoạt động của
Công ty chứng khoán.
Thực chất khái niệm hiệu quả hoạt động là phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục
tiêu xác định. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động của CTCK thường xảy ra
một số xung đột về lợi ích giữa các chủ thể. Vì vậy hiệu quả hoạt động của
CTCK chính là đảm bảo và cân đối lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị
trường nhằm đạt hiệu quả cao nhất đối với nền kinh tế và sự phát triển của thị
trường chứng khoán. Hiệu quả hoạt động của CTCK được thể hiện trên các
phương diện sau :
- Đối với nhà đầu tư :
20
Xuất phát từ quyền lợi của khách hàng, hiệu quả hoạt động của CTCK là
công ty giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả
thông qua các hoạt động tư vấn, môi giới, quản lý danh mục đầu tư từ đó làm
giảm chi phí và thời gian giao dịch cho khách hàng. Điều này có nghĩa là
công ty thực hiện đầu tư cho khách hàng hay tư vấn đầu tư cho khách hàng
giúp khách hàng đạt được lợi nhuận như mong muốn.
- Đối với tổ chức phát hành
Xuất phát từ yêu cầu của tổ chức phát hành, hiệu quả hoạt động của
CTCK được đánh giá thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát
hành có khả năng tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ cho các nhà phát hành.
Đồng thời thông qua nghiệp vụ tư vấn của mình, các CTCK có thể giúp các
tổ chức phát hành nhanh chóng huy động vốn một cách tối ưu.
- Đối với cơ quan quản lý thị trường
Xuất phát từ quan điểm của các nhà quản lý thị trường, công ty chứng
khoán được coi là hoạt động hiệu quả khi công ty cung cấp thông tin một cách
đầy đủ chính xác cho cơ quan quản lý thị trường. Bao gồm thông tin về các
giao dịch mua bán trên thị trường, thông tin về các nhà đầu tư,… giúp các cơ

doanh thu của CTCK. Doanh thu của CTCK chỉ phản ánh về lượng nhưng
không cho biết mức đóng góp do các hoạt động đem lại. Việc xem xét cơ cấu
doanh thu một cách chi tiết sẽ giúp xác định được đâu là hoạt động chính đem
lại nguồn thu cho CTCK. Từ đó CTCK cũng nhận biết được các hoạt động
còn hạn chế để từ đó có biện pháp khắc phục. Một CTCK muốn phát triển tốt
22
cần phải quan tâm đến mọi lĩnh vực hoạt động của mình nghĩa là các hoạt
động đều phải có sự đóng góp trong tổng doanh thu. Sự mất cân đối trong cơ
cấu doanh thu sẽ phản ánh mức độ rủi ro trong hoạt động của CTCK khi thị
trường biến động.
* Doanh thu từng hoạt động
Đó là các chỉ số cụ thể về doanh thu cho mỗi hoạt động của CTCK. Việc
xem xét doanh thu của từng hoạt động là cơ sở để đánh giá triển vọng hoạt
động của CTCK trong tương lai. Bên cạnh đó cũng giúp CTCK xây dựng chỉ
tiêu kế hoạch cho mỗi hoạt động trong từng thời kỳ hoạt động của mình.
1.3.2.2 Các chỉ tiêu khả năng sinh lời
Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời. Đối với CTCK thì chỉ
tiêu lợi nhuận cũng được tính toán tương tự như các doanh nghiệp khác.Một
số chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận của CTCK đó là :
* Hệ số lợi nhuận trên doanh thu
Tổng lợi nhuận
Hệ số tổng lợi nhuận
=
Doanh thu bán hàng ròng
Lợi nhuận hoạt động
Hệ số lợi nhuận hoạt động
=
Doanh thu bán hàng ròng
Lợi nhuận sau thuế
Hệ số lợi nhuận ròng

được sử dụng để đánh giá mức độ hiệu quả chung của công ty trong việc quản
lý tất cả các khoản đầu tư vào các tài sản và đánh giá khả năng tạo doanh thu
cho các cổ đông. Hệ số lợi nhuận trên các tài sản sẽ cho chúng ta biết mức thu
nhập được so với mức độ đầu tư vào tổng tài sản. Còn hệ số lợi nhuận trên
vốn cổ phần sẽ tính mức doanh thu của các cổ đông thường của công ty ; hệ
số này cũng được tính giống như lợi nhuận trên vốn cổ phần thường nếu như
một công ty có lưu hành cổ phiếu ưu đãi.
24
1.3.2.3 Số lượng tài khoản, giá trị giao dịch, phí môi giới
* Số lượng tài khoản
Số lượng tài khoản đăng ký giao dịch ở các CTCK cho biết số lượng
các nhà đầu tư tham gia trên thị trường. Tài khoản của nhà đầu tư được đăng
ký tại CTCK và được lưu ký tại trung tâm lưu ký chứng khoán giúp cho việc
trao đổi mua bán chứng khoán được diễn ra thuận lợi nhất. Bên cạnh đó cơ
quan quản lý cũng theo dõi, giám sát hoạt động của các nhà đầu tư giúp cho
thị trường chứng khoán hoạt động công bằng và hiệu quả
Số lượng tài khoản của toàn thị trường phản ánh hiệu quả hoạt động
môi giới mà các CTCK thực hiện để thu hút sự quan tâm và tham gia của các
nhà đầu tư . TTCK chỉ có thể hoạt động tốt khi có sự tham gia đầy đủ của các
chủ thể trong đó nhà đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện giao
dịch hàng ngày.
Đối với CTCK, số lượng tài khoản khách hàng mở để giao dịch và tỷ
trọng của nó so với toàn bộ thị trường mà công ty đang hoạt động phản ánh
hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ môi giới chứng khoán. Số lượng tài khoản
được mở tại CTCK cho biết sự quan tâm của nhà đầu tư với dịch vụ môi giới
của CTCK đó. CTCK nào càng có nhiều tài khoản đăng ký thì sẽ càng có cơ
hội để tăng doanh thu của hoạt động môi giới bởi vì mỗi nhà đàu tư chỉ được
phép mở tài khoản giao dịch tại một CTCK.
* Giá trị giao dịch :
Giá trị giao dịch là giá trị bằng tiền của khối lượng chứng khoán được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status