Đề án Kinh tế đầu tư
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI : NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP. PHÂN TÍCH THỰC
TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.
THỰC HIỆN : NHÓM 11 – Kinh tế đầu tư 48B
Danh sách thành viên:
1. Phạm Văn Hùng
2. Hoàng Thị Nhung
3. Ngô Thanh Phương
4. Phạm Thị Thuận
Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B
1
Đề án Kinh tế đầu tư
\\
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
4
NỘI DUNG
5
Chương I. Những vấn đề lý luận về nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp và việc sử
dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN
20
II. Thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN giai đoạn 2001-
2007
22
1. Thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển của DNNN giai đoạn 2001-2007
22
2. Thực trạng sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN giai đoạn 2001-2007
28
III. Kết quả và các tồn tại trong hoạt động huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của
DNNN
32
1. Kết quả hoạt động huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN
32
2. Các vấn đề còn tồn tại trong hoạt động huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của
DNNN
37
Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B
3
ỏn Kinh t u t
3. Nguyờn nhõn ca cỏc tn ti trờn
39
Chơng III: Một số giải pháp nhằm tăng cờng huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn đầu t và phát triển của DNNN
hút vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh chưa cao, lượng vốn đầu tư vào cho DN còn
hạn hẹp. Để có thể thu hút các nguồn vốn đầu tư phục vụ cho quá trình sản xuất kinh
doanh, trước hết các DN cần phải sử dụng có hiệu quả nhất là nguồn vốn kinh doanh của
mình. Thế nhưng trong các DN, đặc biệt là DNNN vẫn còn tiếp tục sử dụng lãng phí
nguồn vốn, hiệu quả sử dụng vốn thấp…. Vậy thực trạng quá trình huy động và sử dụng
vốn của DNNN trong giai đoạn vừa qua như thế nào? Và nguyên nhân nào làm cho
Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B
5
Đề án Kinh tế đầu tư
DNNN hoạt động kém hiệu quả trong những năm vừa qua. Và những giải pháp nào mà
Nhà nước nói chung cũng như DNNN nói riêng cần thực hiện để huy động và sử dụng
đồng vốn có hiệu quả hơn, trở thành một DN vững mạnh định hướng hoạt động cho các
thành phần kinh tế khác? Đây là một trong những bài toán khó đã, đang đặt ra đối với
DNNN. Và với những vấn đề đặt ra ở trên nhóm em xin trình bày những ý kiến của mình
về đề tài: “ Nguồn vốn của doanh nghiệp. Phân tích thực trạng huy động và sử dụng
vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn 2001-
2007”
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Từ Quang Phương, tiến sĩ Phạm Văn
Hùng đã giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài này.
NỘI DUNG
Chương I. Những vấn đề lý luận về nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp và việc sử
dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN.
I. Nguồn vốn đầu tư của DN.
1. Khái niệm và bản chất của nguồn vốn đầu tư.
1.1. Khái niệm.
Có thể nói nguồn vốn đầu tư là nguồn rất quan trọng không chỉ trong cả nền kinh tế
quốc dân mà còn đối với hoạt động của các DN. Nhưng nguồn vốn này từ đâu mà có và
xuất phát từ đâu và có vai trò như thế nào?
Trong nền kinh tế quốc dân, để thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng và góp phần
làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội thì chúng ta phải thực hiện tích lũy và tiết
theo C.Mác ông đã phân chia nền kinh tế thành hai khu vực, khu vực I sản xuất tư liệu
sản xuất, khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng. Trong đó cơ cầu tổng giá trị của từng khu
vực đó là : (c + v + m) trong đó c là phần tiêu hao vật chất, (v + m) là phần giá trị mới
sáng tạo ra. Khi đó điều kiện để đảm bảo tái sản xuất mở rộng không ngừng thì xã hội
phải đảm bảo rằng tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không chỉ bồi hoàn tiêu dùng
tiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh tế mà còn phải dư thừa để tăng quy mô tư liệu sản
xuất cho nền kinh tế tức là:
( C + V + M) ( I) > C (I) + C (II)
Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B
7
Đề án Kinh tế đầu tư
Và đối với khu vực II thì cũng cần đảm bảo rằng: toàn bộ giá trị của cả hai khu vực phải
lớn hơn giá trị sản phẩm sản xuất của khu vực II tức là :
(C + V +M) (II) < (V+ M) (I) + ( V + M ) (II)
Như vậy theo C.Mác con đường về cơ bản quan trọng và lâu dài để tái sản xuất mở rộng
đó là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng hay nói
cách khác nguồn lực cho đầu tư phát triển chỉ có thể được đáp ứng do sự gia tăng sản
xuất và tích lũy của nền kinh tế.
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại được các nhà kinh tế học hiện đại
chứng minh. Theo Keynes, đã chứng minh rằng : Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà
không chuyển vào tiêu dùng. Đồng thời ông chỉ ra rằng tiết kiệm chính là phần dôi ra của
thu nhập so với tiêu dùng
Tức là
Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư
Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng
Hay là Tiết kiệm = Đầu tư
Trong đó thu nhập chính là mức chênh lệch giữa doanh thu từ bán hàng hóa hoặc cung
ứng dịch vụ và tổng chi phí. Nhưng toàn bộ sản phẩm sản xuất ra phải được bán cho
người tiêu dùng hoặc cho các nhà sản xuất khác. Mặt khác đầu tư hiện hành chính bằng
phần tăng thêm năng lực sản xuất mới trong kỳ. Vì vậy chính phần dôi ra của tiêu dùng
trách nhiệm hữu hạn trên số vốn mà mình đã đóng góp. Còn đối với công ty tư nhân thì
chủ DN phải có đủ số vốn pháp định cần thiết để xin đăng kí thành lập công ty. ( Vốn
pháp định là số vốn tối thiểu do pháp luật quy định để thành lập công ty ).
Bên cạnh đó nguồn vốn nội bộ còn được bổ sung từ một số nguồn khác như lợi nhuận
không chia, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự trữ tài chính, thặng dư vốn, thu nhập giữ lại,
vốn khấu hao …. Các công ty dùng phần lợi nhuận sau thuế không dùng để chia cổ tức
cho các cổ đông mà giữ lại để thực hiện tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
* Ưu điểm:
Nguồn vốn của chủ sở hữu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình sản xuất
kinh doanh của DN, nó tạo điều kiện thuận lợi cho chủ DN chủ động hoàn toàn trong sản
xuất. Chủ DN có cơ sở để chủ động và kịp thời đưa ra các quyết sách quyết định trong
kinh doanh để đạt được mục tiêu của mình mà không phải tìm kiếm và phụ thuộc vào
nguồn vốn tài trợ.
* Hạn chế:
Tuy nhiên nguồn vốn này thường bị hạn chế về quy mô nên không đáp ứng được mọi
nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh, mặt khác việc sử dụng nguồn vốn này không
Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B
9
Đề án Kinh tế đầu tư
chịu sức ép về chi phí sử dụng vốn và có thể thiếu kiểm tra, giám sát, hoặc tư vấn của các
chuyên gia, các tổ chức như trong sử dụng nguồn vốn đi vay, do đó có hiệu quả sử dụng
vốn không cao hoặc có thể sẽ có những quyết định đầu tư không khôn ngoan.
2.2. Nguồn vốn bên ngoài.
2.2.1. Vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại.
2.2.1.1. Vốn tín dụng ngân hàng.
Có thể nói rằng nguồn vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng
nhất, không chỉ đối với bản thân các DN mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự
hoạt động và phát triển của các công ty, các DN đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do
các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng.
Trong quá trình hoạt động, các DN thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính
khi có nghị định 52 cho phép tất cả các DN có thể huy động vốn thông qua phát hành trái
phiếu để phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, và từ khi Việt Nam ra nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO thì các DN có thể huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu
ra nước ngoài. Nguồn vốn này cũng là nguồn vốn rất quan trọng và cần thiết đối với các
DN.
Ưu điểm của nguồn vốn bên ngoài là DN có thể huy động được nguồn vốn lớn để mở
rộng quy mô đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ. Tuy nhiên nguồn
vốn bên ngoài có nhược điểm đó là nó chứa đựng nhiều rủi ro tài chính đối với DN. Nếu
DN phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn bên ngoài thì DN mất quyền độc lập về tài chính,
mất khả năng thanh toán khi DN làm ăn thua lỗ. Ngoài ra còn gặp phải các rủi ro về tín
dụng.
II. Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước. Vấn đề huy động và sử dụng vốn
đầu tư phát triển của DNNN.
1. Nguồn vốn đầu tư của DNNN.
1.1 Doanh nghiệp nhà nước.
1.1.1 Khái niệm DNNN.
DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần,
vốn góp chi phối.
Hiện nay ở Việt Nam có các loại hình DNNN :
+ Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước do
trung ương quản lý và do địa phương quản lý.
Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B
11
Đề án Kinh tế đầu tư
+ Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước, đó là
các công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước do trung ương quản lý và do địa phương quản
lý.
+ Công ty cổ phần vốn trong nước mà nhà nước chiếm giữ trên 50% vốn điều lệ.
Ỏ DNNN mọi vấn đề như việc cung cấp vốn, cơ sở hạ tầng, tuyển nhân lực đều do nhà
nước quyết định và quản lý. Và vì thế DNNN chỉ hoạt động trong các lĩnh vực trọng
nguồn vốn của chủ sở hữu, là do của chính chủ DN ( công ty tư nhân ), hay là vốn góp
của các cổ đông ( trong các công ty cổ phần ), hay là vốn của chủ đầu tư nước ngoài, thì
nguồn vốn của DNNN chủ yếu là của Nhà nước. Có nhiều loại hình DNNN như : các DN
mà nhà nước chiếm giữ 100% vốn điều lệ, hoặc có các công ty trách nhiệm hữu hạn nhà
nước có vốn của nhà nước chiếm trên 51% vốn điều lệ.
Khác biệt thứ hai nữa đó là nguồn vốn huy động bên ngoài của các DNNN. DNNN
cũng có thể huy động vốn thông qua hình thức vay vốn tín dụng ngân hàng hay vốn tín
dụng thương mại. Nhưng một khác biệt rất lớn đó là DNNN thường nhận được rất nhiều
ưu đãi của nhà nước như : tín dụng của Nhà nước, tín dụng ưu đãi, vốn vay của các ngân
hàng thương mại quốc doanh
Sơ đồ cấp vốn của DNNN
2. Huy động vốn đầu tư tại DNNN.
2.1. Mục tiêu huy động.
Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B
Từ các DNNN khác
Từ thu NSNN
Từ viện trợ
Từ vay nước ngoài
Từ vay trong nước
Ngân
sách
nhà
nước
Vay qua tài khoản
trên thị trường vốn
DN
huy
động
bổ
sung
sự biến động lợi nhuận của công ty. Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì
các ưu điểm của nó đáp ứng được yêu cầu của cả người đầu tư và công ty phát hành.
+ Cổ phiếu ưu đãi: là loại cổ phiếu có quyền nhận được thu nhập cố định theo một tỷ lệ
lãi suất nhất định, không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty. Thông thường cổ phiếu ưu
đãi chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành.
Đây là một trong những hình thức huy động vốn hữu hiệu của DN. DN có thể linh hoạt
hơn trong gia tăng quy mô vốn, có thể vay nguồn vốn lớn hơn rất nhiều mà không chịu
sức ép trả tiền vốn, không bị ảnh hưởng bởi hệ số tài chính ( khả năng trả nợ tiếp theo ).
Hơn nữa việc huy động thông qua cơ chế thị trường và tín hiệu thị trường sẽ yêu cầu tính
minh bạch công khai rất cao và đó là một trong yếu tố thúc đẩy hiệu quả sử dụng vốn của
các DN tốt hơn, khắc phục được tình trạng lãng phí. Tuy nhiên có nguy cơ bị thôn tính
Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B
14
Đề án Kinh tế đầu tư
công ty. Vì thế cần phải tính đến tỉ lệ cổ phần tối thiểu cần duy trì để giữ vững quyền
kiểm soát của công ty.
2.2.2. Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu DN.
Trái phiếu là một tên chung của các giấy vay nợ dài hạn và trung hạn bao gồm: trái
phiếu chính phủ, và trái phiếu công ty. Trái phiếu còn gọi là trái khoán.
Các loại trái phiếu:
+ Trái phiếu có lãi suất cố định: Loại này thường được sử dụng phổ biến nhất trong các
loại trái phiếu DN. Lãi suất được ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong
suốt kì hạn của nó. Việc thanh toán lãi trái phiếu cũng thường được qui định rõ. Mức độ
hấp dẫn của trái phiếu phụ thuộc vào: lãi suất của trái phiếu, kỳ hạn của trái phiếu và uy
tín của DN.
+ Trái phiếu có lãi suất thay đổi: Là trái phiếu có lãi suất phụ thuộc vào một nguồn lãi
suất quan trọng khác.
+ Trái phiếu có thể thu hồi: Là loại trái phiếu mà DN có thể mua lại vào một thời gian
nào đó. DN phải quy định rõ thời hạn và giá cả khi DN chuộc lại trái phiếu.
+ Trái phiếu có thể chuyển đổi: là loại trái phiếu cho phép có thể chuyển đổi thành một
gồm : vay dài hạn ( thường tính từ 5 năm trở lên), vay trung hạn (từ 1 đến 5 năm), và vay
ngắn hạn ( dưới 1 năm), và có nhiều hình thức cho vay như vay đầu tư tài sản cố định,
vay vốn lưu động, vay để phục vụ dự án. Hay cũng có những cách phân chia khác như:
theo ngành kinh tế, theo lĩnh vực phục vụ, hoặc theo hình thức bảo đảm khoản vay.
Điều kiện tín dụng : Các ngân hàng thương mại khi cho DN vay vốn luôn luôn phải
đảm bảo an toàn tín dụng, hạn chế rủi ro tín dụng thông qua một hệ thống các biện pháp
đảm bảo tín dụng. DN sẽ phải cung cấp những báo cáo tài chính và những thông tin cần
thiết khác theo yêu cầu của ngân hàng. DN cũng phải đảm bảo tín dụng bằng tài sản thế
chấp. Việc yêu cầu người vay có tài sản thế chấp trong nhiều trường hợp cũng làm cho
bên đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện cho vay….gây khó khăn cho một số
DN. Do đó, DN cần tính đến yếu tố này khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
Lãi suất tín dụng : lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn. Lãi suất vốn tín dụng
ngân hàng phụ thuộc vào tín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ, nếu lãi suất vay quá
cao thì DN phải gánh chịu chi phí sử dụng vốn lớn và làm giảm thu nhập của DN.
Nguồn vốn tín dụng là một phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh
doanh, mặt khác nó còn tạo ra khả năng mở rộng quan hệ hợp tác kinh doanh lâu bền.
Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B
16
Đề án Kinh tế đầu tư
Với hình thức tài sản thế chấp đảm bảo cho DN phải sử dụng nguồn vốn vay một cách
hiệu quả.
2.2.4. Huy động vốn qua tín dụng thương mại.
Tín dụng thương mại được hình thành qua quan hệ mua bán chịu hoặc trả chậm, trả
góp. Người bán chuyển giao cho người mua được sử dụng vốn tạm thời trong một thời
hạn nhất định. Đến thời hạn đã được thoả thuận, người mua hoàn lại vốn cho người bán
dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi suất.
Trong nền kinh tế thị trường hiện tượng thừa thiếu vốn ở các DN thường xuyên xảy
ra, vì vậy hoạt động của tín dụng thương mại một mặt đáp ứng được nhu cầu vốn của DN
tạm thời thiếu, đồng thời giúp cho DN tiêu thụ được hành hoá của mình. Mặt khác sự tồn
tại của hình thức tín dụng này giúp cho DN khai thác được vốn nhằm đáp ứng kịp thời
2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn của DN.
2.3.1 Thị trường tài chính.
Có thể nói trong nền kinh tế thị trường hiện nay, thị trường tài chính đóng một vai trò
đặc biệt quan trọng. Thị trường tài chính có vai trò là kênh dẫn vốn từ người tiết kiệm
đến người kinh doanh, giúp việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn không chỉ đối với người có
tiền đầu tư mà còn với người vay tiền để đầu tư, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát
triển kinh tế xã hội của quốc gia. Dòng vốn đó từ người cho vay đến người vay thông qua
hai con đường đó là : tài chính trực tiếp, và tài chính gián tiếp ( thông qua các trung gian
tài chính ). Hơn nữa với việc phát triển của thị trường tài chính sẽ thúc đẩy quá trình luân
chuyển vốn và cung cấp các công cụ tài chính đa dạng cho người đầu tư.
Như vậy một thị trường tài chính phát triển lành mạnh sẽ là một nhân tố quan trọng
ảnh hưởng tới việc huy động nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp.
2.3.2 Ổn định của kinh tế vĩ mô.
Sự ổn định của kinh tế vĩ mô cũng được coi là ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy
động các nguồn vốn đầu tư của DN, đặc biệt là trong việc ổn định giá trị tiền tệ trong việc
kiềm chế lạm phát và khắc phục hậu quả của tình trạng giảm phát nếu xảy ra đối với nền
kinh tế. Chẳng hạn như nếu lạm phát xảy ra và dẫn đến tình trạng giá cả leo thang và sẽ
làm ảnh hưởng tới sự gia tăng của lãi suất. Lãi suất càng cao thì xu hướng tiết kiệm càng
lớn và từ đó tiềm năng của vốn đầu tư càng cao, tuy nhiên tăng lãi suất cũng tương đương
với việc tăng chi phí sử dụng vốn trong đầu tư cao hơn. Điều này sẽ làm giảm lợi nhuận
thực của các nhà đầu tư, và tạo nên một cản trở khó khăn cho các DN thực hiện quá trình
huy động vốn. Đảm bảo sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô cũng tạo các điều kiện huy
động nguồn vốn bên ngoài làm cho DN có thể huy động được nhiều nguồn đa dạng và
phong phú hơn . Vì vậy nhà nước cần có các chính sách để thực hiện ổn định kinh tế vĩ
Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B
18
Đề án Kinh tế đầu tư
mô nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các DN huy động vốn một cách hiệu quả thực hiện
quá trình sản xuất kinh doanh.
2.3.3 Các chính sách của nhà nước.
+ Đầu tư nghiên cứu triển khai (R&D) công nghệ khoa học - kỹ thuật nâng cao chất
lượng sản phẩm dịch vụ của DN. Đây là hoạt động quan trọng nằm trong chiến lược hoạt
động của DN vì khoa học công nghệ càng ngày càng phát triển. Nếu DN không đầu tư
cho hoạt động này thì sẽ bị tụt hậu và không thể cạnh tranh được trên thị trường
+ Đầu tư phát triển nguồn nhân lực(NNL): NNL là yếu tố quan trọng trong hàm sản xuất
của DN. Một DN có chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ có nhiều tiềm năng để đưa DN đi
lên và luôn phát triển.
+ Đầu tư cho hoạt động quảng cáo, tiếp thị sản phẩm:
Quảng cáo không thể thiếu trong kinh doanh. Quảng cáo, tiếp thị giúp cho sản phẩm
và dịch vụ của DN có thể đến với khách hàng. Hiện nay, trong các DN thì hoạt động
quảng cáo và tiếp thị diễn ra liên tục và hoạt động này sử dụng một lượng vốn chiếm tới
5% trong vốn chi cho hoạt động trong DN.
+ Các hoạt động đầu tư khác.
Đầu tư bất động sản, đầu tư tài chính, đầu tư tín dụng chứng khoán….các hoạt động
này không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ cho DN nhưng nó mang lại một nguồn
thu nhập đáng kể cho DN.
3.3. Hiệu quả sử dụng vốn.
Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn
lực khan hiếm. DN huy động vốn và thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh của mình
với mục tiêu thu được lợi nhuận trong tương lai. Nói cách khác mục đích của việc sử
dụng vốn là thu lợi nhuận cho nên hiệu quả của việc sản xuất kinh doanh vốn dựa trên sự
đánh giá dựa, sự so sánh tương đối giữa lợi nhuận và vốn bỏ ra để có được lợi nhuận đó.
Và vì thế thông thường trong đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư người ta thường đánh
giá thông qua các chỉ tiêu sau:
3.3.1 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là tỷ lệ của tổng số lợi nhuận trước thuế thu được từ
các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác phát sinh
trong năm của DN chia cho tổng doanh thu thuần của DN do tiêu thụ sản phẩm hàng hóa,
cung cấp các dịch vụ và các thu nhập khác.
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu phản ánh kết quả tiêu thụ được một đồng
Bảng 1: Số lượng DNNN giai đoạn 2001 – 2006.
Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B
21
Đề án Kinh tế đầu tư
Năm
DNNN
2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng số 5355 5363 4845 4596 4086 3720
DNNN
trung
ương
1997 2052 1898 1967 1825 1758
DNNN địa
phương 3358 3311 2947 2629 2261 1962
Nguồn: Tổng cục thống kê
Thứ hai, mặc dù quy mô lao động bình quân một DNNN cao hơn khu vực DN dân
doanh và DN có vốn đầu tư nước ngoài ( cuối năm 2006 số lao động bình quân trong 1
DNNN là 513 người, DN ngoài quốc doanh là 27 người, DN có vốn đầu tư nước ngoài là
343 người ) nhưng số lao động làm việc trong các DNNN đang giảm dần cả về tuyệt đối (
từ trên 4114 nghìn người đầu năm 2002 giảm xuống còn gần 2041 nghìn người đầu năm
2006 ), cả về tỷ trọng trong tổng số lao động làm việc ở tất cả các DN ( từ 53,8% xuống
còn 32,7% trong thời gian tương ứng ).
Thứ ba, mặc dù quy mô vốn sản xuất kinh doanh bình quân một DNNN cao hơn khu
vực DN dân doanh và DN có vốn đầu tư nước ngoài ( 475 tỷ đồng so với 8 tỷ đồng và
155 tỷ đồng, năm 2006 ), nhưng tỷ trọng số vốn của DNNN trong tổng số vốn của các
DN bị giảm mạnh (từ 55,9% năm 2001 xuống còn 54,9% năm 2005 ), trong khi của DN
dân doanh lại tăng lên ( từ 12% lên 25%) và của DN có vốn đầu tư nước ngoài giảm ít
hơn ( từ 22,1% xuống 20,1%).
Bảng 2: So sánh số lao động, nguồn vốn, tài sản cố định và đầu tư dài hạn giữa
DNNN với DN ngoài quốc doanh và DN có vốn đầu tư nước ngoài.
2005
2006
76
74
72
63
55
51
24
23
23.9
24
24
26
121
119
125
129
153
216
DNNN
2001
2002
2003
2004
2005
2006
395
421
467
4
5.2
6
7
8
38
43
50
59
66
89
DN có vốn đầu
tư nước ngoài
2001
2002
2003
2004
2005
2006
243
299
326
331
330
343
133
134
139.6
142
143
28192
38282
48877
62285
52331,7
57583
53422,7
53131,5
64664,1
72990
Nguồn: Tổng cục thống kê. Đơn vị tính: tỷ đồng.
II. Thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN giai đoạn
2001-2007.
1. Thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển của DNNN giai đoạn 2001-2007.
1.1 Thuận lợi của doanh nghiệp trong quá trình huy động vốn.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thì kinh tế nhà
nước đóng vai trò chủ đạo, trong đó DNNN là một bộ phận của kinh tế nhà nước nên các
DNNN được ưu tiên hơn các DN ngoài quốc doanh và các DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Các chính sách của nhà nước ưu đãi rất nhiều cho DN nhà nước. DNNN cũng được các
ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng ưu tiên hơn khi vay vốn.
Xét về môi trường vĩ mô, Việt Nam là một đất nước có chế độ chính trị ổn định,
không có chiến tranh, biểu tình và các cuộc đảo chính nên đã tạo sự yên tâm cho các tổ
chức và các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Tháng 11/2006, Việt Nam ra
nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO và kí hiệp định bình thường hóa quan hệ vĩnh
viễn với Mỹ, mọi chính sách kinh tế trở nên thông thoáng hơn. Vì vậy Việt Nam đã
nhanh chóng trở thành điểm hấp dẫn đầu tư đứng thứ 7 trên thế giới. Tốc độ tăng GDP
trong những năm gần đây khá cao. Tất cả những điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho toàn
bộ nền kinh tế Việt Nam cũng như DNNN nói riêng trong việc thu hút đầu tư từ nước
ngoài, mở ra cho DN cơ hội huy động được nguồn vốn lớn từ nước ngoài. Chính phủ đã
ban hành luật đầu tư, luật doanh nghiệp và các nghị định hướng dẫn thi hành luật ví dụ
Sau gần 20 năm đổi mới, hệ thống tài chính Việt Nam đã có bước chuyển từ hành
chính, bao cấp sang vận hành theo cơ chế thị trường. Nước ta đã có nhiều cải cách về hệ
thống thuế, đổi mới hệ thống ngân hàng và tiền tệ, phát triển thị trường bảo hiểm, xây
dựng thị trường chứng khoán Có thể nói đến nay nước ta đã có một cấu trúc thị trường
tài chính khá đầy đủ. Tuy nhiên hệ thống thị trường tài chính nước ta vẫn còn thiếu đồng
Nhóm 11 – Kinh tế đầu tư 48B
25