Đề tài: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hiệu quả hoạt động tạo nguồn, và thu mua về mặt hàng thực phẩm tươi sống tại HTX TM DV Thuận Thành - Pdf 19

BÁO CÁO THỰC TẬP
Đ ề tài:
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hiệu quả hoạt
động tạo nguồn, và thu mua về mặt hàng thực
phẩm tươi sống tại HTX TM DV Thuận Thành

MỤC LỤC
BÁO CÁO THỰC TẬP
Đề tài:
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hiệu quả hoạt động tạo nguồn, và thu mua về mặt
hàng thực phẩm tươi sống tại HTX TM DV Thuận Thành
MỤC LỤC

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.Lí do chọn đề tài
Trong các thị trường hàng hóa hiện nay thì thị trường về mặt hàng thực phẩm tươi
sống đang rất được coi trọng, đầu tư bởi lẽ nhu cầu của người tiêu dùng hiện nay có xu
hướng “ăn ngon, mặc đẹp” chứ không còn “ăn no, mặc ấm” như trước đây . Sự xuất hiện
của nhiều dòng sản phẩm phục vụ nhu cầu ăn uống hợp vệ sinh trong thời gian gần đây đã
giúp khách hàng có thêm nhiều chọn lựa, bên cạnh đó, do tác động của nhiều mặt, người
tiêu dùng ngày càng trở nên khó tính hơn khi lựa chọn những thực phẩm, đa phần họ đòi
hỏi sản phẩm phải đảm bảo vệ sinh, chất luợng tốt mà giá lại rẻ…nếu doanh nghiệp không
đáp ứng được những nhu cầu đó của khách hàng thì không thể thu hút được khách hàng đến
với doanh nghiệp. Trong điều kiện phức tạp như hiện nay để làm được điều này là 1 trăn trở
rất lớn của doanh nghiệp, vấn đề là mỗi nhà quản lý phải thấy được, nắm bắt những vấn đề
đó có tầm quan trọng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả SX-KD để từ đó có định hướng trong
công tác quản lý một cách chặt chẽ, hợp lý và hiệu quả hơn. Để làm được điều này thì mỗi
doanh nghiệp phải tổ chức tốt công tác đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến tay người tiêu
dùng, nói cách khác, phải làm cho quá trình lưu thông hàng hóa được thuận lợi . Trong đó,
công tác tạo nguồn và mua hàng là khâu đầu tiên của quá trình luân chuyển hàng hóa, là
một trong những công tác không thể thiếu, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp kinh

Về mặt không gian: Nghiên cứu công tác tạo nguồn và mua hàng của HTX TM
DV Thuận Thành
Về mặt thời gian : số liệu thu thập từ năm 2005-2009
1.5.Phương pháp nghiên cứu
♦ Phương pháp duy vật biện chứng : là phương pháp khi xem xét vấn đề luôn đặt nó
trong mối liên hệ với cái khác, và luôn để đối tượng cần nghiên cứu trong trạng thái động

♦ Phương pháp điều tra : là phương pháp sử dụng các bảng hỏi, các kỹ thuật phỏng
vấn để tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên đối tượng cần điều tra, từ đó thu thập thông tin,
số liệu cần thiết cho hoạt động nghiên cứu
♦Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp bên trong về HTX TM DV Thuận Thành như lịch sử hình thành,
cơ cấu lao động, các bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả kinh doanh, v.v… thu thập
từ phòng kinh doanh và phòng kế toán HTX TM DV Thuận Thành.
Dữ liệu thứ cấp bên ngoài như một số thông tin về nguồn hàng, nhà cung ứng, đối
thủ cạnh tranh…vv và các vấn đề liên quan đến hàng thực phẩm tươi sống thu thập từ các
website, sách, vở, báo, tạp chí…
Dữ liệu sơ cấp: Các thông tin thu thập từ phiếu điều tra qua việc phỏng vấn trực tiếp
khách hàng, ban quản lý HTX, các anh, chị em nhân viên làm việc tại HTX
♦Phương pháp so sánh : Nghiên cứu sự biến động của các chỉ tiêu qua các kỳ phân
tích như doanh thu, chi phí tạo nguồn, thu mua, lao động của HTX TM DV Thuận Thành
và một số chỉ tiêu khác nhằm thấy được mức độ hoàn thành kế hoạch, cũng như tốc độ phát
triển trong kỳ của HTX
1.6.Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 3 phần
+Phần 1 : Đặt vấn đề
+Phần 2 : Nội dung và kết quả nghiên cứu
Gồm 3 chương
-Chương 1 : cơ sở khoa học về công tác tạo nguồn và thu mua về hàng hóa
-Chương 2 : Thực trạng công tác tạo nguồn và mua hàng tại HTX TM DV

DNTM có nguồn hàng vững chắc, phong phú và đa dạng

1.1.1.2 Phân loại nguồn hàng của doanh nghiệp thương mại
Phân loại nguồn hàng của doanh nghiệp thương mại là việc phân chia, sắp xếp các
hàng hoá thu mua được theo tiêu thức cụ thể riêng biệt để doanh nghiệp có chính sách, biện
pháp thích hợp nhằm khai thác tối đa lợi nhuận của mỗi loại nguồn hàng. Các nguồn hàng
của DNTM có thể phân loại dựa trên các tiêu thức sau
-Theo khối lượng hàng hoá thu mua được
- Nguồn hàng chính: là nguồn hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng khối lượng
hàng hoá mà doanh nghiệp mua về để cung ứng cho khách hàng trong kỳ. Đối với nguồn
hàng chính, nó quyết định khối lượng hàng hoá của doanh nghiệp mua được, nên phải có sự
quan tâm thường xuyên để đảm bảo sự ổn định của nguồn hàng này.
- Nguồn hàng phụ: đây là nguồn hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong khối lượng hàng hoá
thu mua được. Khối lượng thu mua của nguồn hàng này không ảnh hưởng tới doanh số bán
của DNTM. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần chú ý khả năng phát triển của nguồn hàng này và
nhu cầu thị trường đối với mặt hàng, cũng như thế mạnh khác của nó để phát triển trong
tương lai
- Nguồn hàng trôi nổi: đây là nguồn hàng mua được trên thị trường của đơn vị tiêu
dùng hoặc của đơn vị kinh doanh bán ra. Đối với nguồn hàng này cần xem xét kỹ chất
lượng hàng hoá, giá cả hàng hoá cũng như nguồn gốc, xuất xứ của hàng hoá.
-Theo nơi sản xuất ra hàng hoá
- Nguồn hàng sản xuất trong nước: bao gồm các loại hàng hoá do các xí nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp, các xí nghiệp khai thác chế biến hoặc gia công, lắp ráp thuộc mọi thành
phần kinh tế đặt trên lãnh thổ Việt Nam.
- Nguồn hàng nhập khẩu: là nguồn hàng được nhập khẩu từ nước ngoài. Nguồn
hàng nhập khẩu có thể có nhiều loại: tự DNTM nhập khẩu, DNTM nhận hàng nhập khẩu từ
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chuyên doanh, các đơn vị thuộc tổng HTX ngành hàng
cấp trên, nhận của các doanh nghiệp nước ngoài, hoặc nhận đại lý cho các hãng xuất khẩu
trong nước, liên doanh hoặc của các hãng nước ngoài.
- Nguồn hàng tồn kho : Đây có thể là nguồn hàng tồn kho theo kế hoạch dự trữ của nhà

* Ngoài các tiêu thức trên, nguồn hàng của DNTM còn được phân loại theo một số
tiêu thức khác nhau như : theo chất lượng hàng hoá, theo thời gian, theo sự tín nhiệm…

1.1.1.3.Các hình thức tạo nguồn và mua hàng ở DNTM
 Mua theo đơn đặt hàng và hợp đồng kinh tế ký trước: Để có hàng hoá, dựa
vào mối quan hệ kinh doanh sẵn có hoặc chào hàng của người cung cấp, DNTM phải đặt
hàng của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Đơn hàng là yêu cầu cụ thể về loại hàng hoá mà doanh nghiệp thương mại cần mua để bảo
đảm nguồn hàng cung ứng cho khách hàng
 Mua hàng theo hợp đồng kinh tế đã ký kết: Thực hiện việc giao nhận hàng
hoá có chuẩn bị trước, có kế hoạch trong hoạt động kinh doanh, hình thức này giúp DNTM
ổn định được nguồn hàng, có khả năng khá chắc chắn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng
 Mua hàng không theo hợp đồng: Đây là hình thức mua đứt, bán đoạn, và
mua hàng trôi nổi trên thị trường. Về hình thức mua hàng trên thị trường này, người mua
phải có trình độ và kỹ thuật nghiệp vụ mua hàng thông thạo, phải kiểm tra số lượng và chất
lượng hàng hoá và nếu có thể phải xem xét nguồn gốc của hàng hoá để đảm bảo hàng mua
về có thể bán được
 Mua qua đại lý: DNTM có thể ký các hợp đồng đại lý mua hàng. Việc mua
hàng thông qua các đại lý thu mua giúp cho DNTM có thể gom được những mặt hàng có
khối lượng không lớn, không thường xuyên
 Nhận bán hàng uỷ thác và ký gửi: Để có thể tận dụng mạng lưới bán hàng,
DNTM có thể nhận với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc các DNTM khác bán
hàng uỷ thác. Cũng tương tự như vậy, DNTM cũng có thể nhận bán hàng ký gửi. Sau khi
bán hàng ký gửi, DNTM sẽ được hưởng một khoảng lệ phí ký gửi theo doanh số bán
 Liên doanh, liên kết tạo nguồn hàng: DNTM có thể tận dụng ưu thế của
mình về vốn, về nguyên vật liệu hoặc thị trường tiêu thụ, cùng với các doanh nghiệp khác
liên doanh, liên kết để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sản lượng và giá trị tiêu thụ
trên thị trường.
 Gia công hoặc bán nguyên vật liệu thu mua thành phẩm: Có mặt hàng
chưa phù hợp với nhu cầu của khách hàng, DNTM phải tiến hành gia công mặt hàng. Hình

Tóm lại, các doanh nghiệp thương mại muốn phát triển và mở rộng kinh doanh, việc
đảm bảo nguồn hàng chất lượng tốt, cung ứng ổn định, lâu dài, phong phú, giá cả hợp lý, là

điều kiện đảm bảo cho sự tăng tiến của doanh nghiệp và vị trí của doanh nghiệp trên thương
trường, cũng như thành công trong kinh doanh thương mại.
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tạo nguồn mua hàng
 Nhân tố cung cầu thị trường
Thị trường là môi trường trong đó diễn ra quá trình người bán và người mua tác
động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và lượng hàng hoá tiêu thụ. Nó có vai trò quan
trọng trong định hướng sản xuất kinh doanh, bởi căn cứ vào cung cầu và giá cả thị trường
để giải quyết những vấn đề cơ bản như : sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất
cho ai? Chính thị trường đã kết hợp các yếu tố sản xuất như:đất đai, máy móc, nhiên liệu,
quặng mỏ… để sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, đối với
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, có hai loại thị trường tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến
doanh nghiệp, đó là thị trường cung ứng (hay thị trường đầu vào) và thị trường tiêu thụ sản
phẩm (hay thị trường đầu ra), hai thị trường này có quan hệ mật thiết với nhau. Thị trường
tiêu thụ với các yếu tố quy mô, độ ổn định của cơ cấu hàng hoá, chất lượng, giá cả, thị hiếu
sử dụng, và phương thức mua bán có vai trò định hướng cho thị trường cung ứng hàng hoá.
Trong cơ chế thị trường với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp cần
phải “bán cái thị trường cần, chứ không bán cái mình có”. Do vậy, các doanh nghiệp cần
phải quan tâm đến công tác tạo nguồn-mua hàng. Việc tạo nguồn mua hàng cũng cần phải
tính đến nhu cầu thị trường, tiêu thụ về số lượng, chất lượng, giá cả hàng hoá…để từ đó
doanh nghiệp tìm kiếm thị trường cung ứng nguyên vật liệu có khả năng đáp ứng tốt nhu
cầu đó. Bên cạnh đó, quan hệ cung cầu hàng hoá cũng tác động đến công tác tạo nguồn-
mua hàng( về giá cả, quy mô, tính ổn định của hàng hoá) làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh
doanh. Vì vậy, việc nắm bắt tình hình cung cầu trên thị trường một cách thường xuyên và
khoa học giúp công tác tạo nguồn- mua hàng được thường xuyên và ổn định.
 Phương thức mua và giá cả
Ngày nay, trong cơ chế thị trường thì cạnh tranh là vấn đề không thể tránh khỏi. Các
doanh nghiệp cạnh tranh nhau về chất lượng sản phẩm, về chất lượng dịch vụ, về giá cả…

hoá, đẩy nhanh tốc độ xuất nhập khẩu, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước, hạn chế
thủ tục rườm rà, đặc biệt là để các doanh nghiệp tự do lựa chọn phương án kinh doanh của
mình mà không có sự can thiệp quá sâu của nhà nước. Chính điều đó đã tạo điều kiện cho

các doanh nghiệp thực hiện tốt hơn các công đoạn của quá trình kinh doanh nói chung và
công tác-tạo nguồn mua hàng nói riêng
 Bên cạnh đó, công tác tạo nguồn-mua hàng của doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng
của các yếu tố khác như môi trường tự nhiên, yếu tố công nghệ, văn hoá xã hội…
1.1.3.Các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh
* Doanh thu: đối với doanh nghiệp thương mại, doanh thu được hình thành từ các
hoạt động bán hàng và dịch vụ là chủ yếu, ngoài ra còn có các nguồn thu khác
DT=∑P
i
Q
i
Trong đó
DT: tổng doanh thu từ hoạt động bán hàng và dịch vụ
P
i
: giá cả 1 đơn vị hàng hoá thứ i hay dịch vụ thứ i
Q
i
: khối lượng hàng hoá hay dịch vụ thứ i bán ra trong kỳ
* Chi phí kinh doanh: là tất cả các khoản chi phí từ khi mua hàng cho đến khi bán
hàng và bảo hành hàng hoá cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định
Có thể chia thành
- Chi phí mua hàng: là khoản tiền doanh nghiệp phải trả cho các đơn vị nguồn
hàng về số lượng đã mua
- Chi phí lưu thông: bao gồm chi phí bảo quản,thu mua, tiêu thụ, vận tải, bốc
dỡ hàng hoá…

v
= x 100
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn tham gia vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng
vốn càng cao
1.1.5. các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả công tác tạo nguồn-mua hàng
• Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch thu mua hàng hoá
T=Q
1i
/ Q
ki
Trong đó
T : tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch thu mua hàng hoá
Q
1i
: số lượng hàng hoá loại i thực tế mua vào
Q
ki
: số lượng hàng hoá loại i cần mua theo kế hoạch
Nếu T>100% chứng tỏ doanh nghiệp hoàn thành và vượt mức kế hoạch thu
mua và ngược lại

Lợi nhuận thực hiện trong kỳ
Chi phí kinh doanh trong kỳ trong kỳ
Lợi nhuận thực hiện trong kỳ
Vốn kinh doanh trong kỳ
Chi phí tạo nguồn-mua hàng trên một đơn vị hàng hoá thu mua = (Chi phí tạo
nguồn-mua hàng trong kỳ)/ (khối lượng hàng hoá thu mua trong kỳ)
Chỉ tiêu này cho biết để thu mua 1 đơn vị hàng hoá thì doanh nghiệp phải bỏ ra
bao nhiêu chi phí tạo nguồn-mua hàng

D
dk
: Khối lượng hàng dự trữ còn lại ở đầu kỳ kế hoạch (đơn vị hiện vật : tấn…)
1.1.6.Khái niệm và những đặc trưng cơ bản về mặt hàng thực phẩm tươi sống
♦Khái niệm
Là những đồ ăn hay đồ uống khác ngoài số thực phẩm đã qua chế biến bao gồm
các loại sau
 Thực phẩm nông sản
- Rau (gồm các loại rau mới chỉ được cắt thái)
- Các loại rau thân củ, các loại rau lá, các loại rau củ quả, các loại rau gia vị, các loại
rau " tập tàng", các loại nấm, cá loại rau dại ăn được, các loại rau bột quả,các loại rau khác.
- Quả (gồm các loại quả mới chỉ được cắt thái hoặc đông lạnh)

- Các loại quả có múi, các loại quả có nhân, các loại quả có hạt, các loại dâu, các loại
quả vỏ cứng, các loại quả nhiệt đới và cận nhiệt đới, các loại quả khác
 Thực phẩm gia súc
- Thịt (kể cả các loại thịt để lạnh, đông lạnh, cắt lát, và chặt thái)
- Thịt bò, thịt lợn, thịt lợn rừng, thịt ngựa, thịt cừu, thịt dê, thịt thỏ, thịt gia cầm và
các loại thịt tươi sống khác
- Trứng gia cầm ăn được (gồm trứng tươi trong vỏ cứng)
- Trứng gà, trứng vịt, trứng chim cút và các loại trứng ăn được khác
 Thực phẩm thuỷ sản
* (Gồm những sản phẩm thuỷ sản tròn, làm gàn sạch, đã là sạch, phi –lê, cắt thái,
sashimi [cá tươi sống cắt lát, không gồm các chất bảo quản], lột da, đông lạnh, đã rã đông
và còn sống)
* Cá
Cá nước ngọt, cá hồi loại salmon và trout, cá trích loại sardines và herring, cá ngừ
loại bonito,tuna và hóe mackerel,cá thu, cá heo đuôi vàng và cá heo đuôi vàng và cá heo
thông thường, cá tuyết, các giống cá thờn bơn và cá dẹt loại cod, sole,cá dẹt flafish,cá
flounder, cá tráp biển, cá hanh đỏ và các loại khác.

Tuy nhiên, cho đến nay, lượng thực phẩm tươi sống được cung cấp từ các nhà phân
phối có thương hiệu vẫn còn chiếm một tỷ lệ khiếm tốn. Chỉ tính riêng mặt hàng thịt heo,
một mặt hàng có được từ một số các nhà cung cấp có thương hiệu như Vissan, Nam Phong
nắm giữ sản lượng chủ lực, thì theo ước tính của những người trong lĩnh vực này, lượng thịt
được phân phối qua các kênh phân phối gồm hệ thống các HTX và Metro chỉ chiếm tỷ lệ
chưa tới 20% của nhu cầu khoảng 340 tấn/ngày .
Bên cạnh đó, hệ thống HTX hiện nay chỉ mới tập trung ở các khu trung tâm, vùng
có mật độ dân cư đông. Riêng hệ thống của Metro thì chỉ bán hàng giới hạn cho một đối
tượng là những người có thẻ hội viên của hệ thống này.
Gần đây, HTX Vissan đã phát triển được một mạng phân phối gồm một chuỗi
14 cửa hàng riêng của mình. Trong đó các sản phẩm tươi sống như thịt, cá các loại khi
bảo quản cũng như lưu thông được bảo quản bằng các phương tiện hiện đại, phù hợp.

Tuy nhiên, lượng thịt heo mà chuỗi cửa hàng này tiêu thụ được cũng chỉ khoảng từ 7
đến 10 tấn/ngày.
Nhu cầu lựa chọn thực phẩm tươi sống được bảo đảm bằng phương pháp phân phối
an toàn cho đến tận tay người tiêu dùng đang tạo ra cơ hội cho những nhà phân phối có
thương hiệu, uy tín. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, các loại sản phẩm được phân phối thông
qua mạng lưới này chỉ mới đáp ứng được một phần nhỏ của nhu cầu thị trường.
Do đó, trong những năm tới, cùng với quá trình đô thị hoá, thu nhập của dân cư
tăng, ý thức về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm tốt hơn nên xu hướng mua hàng tại
các loại hình HTX, cửa hàng chuyên doanh, các nhà phân phối sẽ tăng cao, với tốc độ dự
kiến trên 150%/năm.

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TẠO NGUỒN VÀ MUA HÀNG TẠI
HTX TM DV THUẬN THÀNH
2.1.Giới thiệu chung về HTX TM DV Thuận Thành
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển
Hợp tác xã thương mại dịch vụ Thuận Thành có trụ sở chính là 92 Đinh Tiên
Hoàng, là 1 trong 2 đơn vị còn tồn tại trong tỉnh Thừa Thiên Huế

Năm 1992, HTX xây dựng nhà máy nước đá với công suất 5 tấn/ngày.
Năm 1994, mua đất xây dựng tổng kho với diện tích 500 m
2
, giá trị đầu tư
850 triệu đồng.
Năm 1996, thành lập chi nhánh hoạt động tại thị xã Đông Hà- Quảng Trị.
Năm 1999, xây dựng cơ sở dạy nghề và giải quyết công ăn việc làm cho người
khuyết tật và người có hoàn cảnh khó khăn.
Năm 1996-2004 đầu tư mua xe tải nhỏ chở hàng đi bán
Năm 2004, đầu tư xây dựng trung tâm siêu thị mini tại 92 Đinh Tiên Hoàng- Huế,
giá trị trên 2 tỷ đồng
Qua 2 năm đi vào hoạt động siêu thị góp phần không nhỏ vào doanh thu của HTX.
Siêu thị kinh doanh ngày càng có lãi và được khách hàng tín nhiệm. Với đà phát triển đó,
HTX đầu tư xây dựng thêm 2 siêu thị. Siêu thị II ở đường Tố Hữu. Siêu thị III ở đường
Nguyễn Huệ nằm trong đại học Y khoa- Huế, và mới đây, HTX đã liên doanh với công ty
cổ phần An Phú đầu tư xây dựng Siêu thị Thuận An tại thị trấn Thuận An, huyện Phú
Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế với tổng giá trị lên đến 18 tỷ đồng, siêu thị được đưa vào hoạt
động ngày 30/01/2010 đánh dấu sự hợp tác thành công giữa hai doanh nghiệp thương mại
có uy tín trên địa bàn tỉnh là HTX TMDV Thuận Thành và công ty CP An Phú, đồng thời
đáp ứng nhu cầu tham quan và mua sắm của người dân thị trấn Thuận An và các địa
phương lân cận, đặc biệt là trong dịp Tết Canh dần 2010.
Qua nhiều năm hoạt động, HTX đã có chỗ đứng trong lòng khách hàng trên địa bàn
thành phố Huế. Dần lớn mạnh cùng thời gian, đã tạo nhiều ưu thế cạnh tranh trên thị trường
so với các đối thủ khác

Thị phần của HTX tương đối lớn, đã chiếm trên 50% thị phần gồm có một hệ thống
tiếp thị trên 25 người với hệ thống đại lý làm vệ tinh trên 800 hộ lớn nhỏ được trải khắp trên
các địa bàn của tỉnh Thừa Thiên Huế kể cả vùng núi, biển, nông thôn.
Trong tương lai tới đây, HTX TMDV Thuận Thành sẽ tiếp tục trưởng thành bằng
chính nguồn sức lực và tài năng của mình, bằng các mối quan hệ thương mại tin cậy lẫn

Giới thiệu bộ máy quản lý của HTX và siêu thị Thuận Thành
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của HTX-TMDV Thuận Thành

Phòng kế toán- tài
chính
Ban quản trị Ban kiểm soát
Phó chủ nhiệm phụ
trách HTX
Chủ nhiệm
Phó chủ nhiệm kinh
doanh
Phòng kinh doanh
Tổ siêu thị
Tổ tiếp thị Đội xe
Tổ SX nước
đá
Sơ đồ 2.2 : Sơ đồ bộ máy quản lý của Siêu thị Thuận Thành
Trong đó:
:Quan hệ trực tuyến
:Quan hệ chức năng tham mưu
: Quan hệ hỗ trợ kết hợp
Chức năng các bộ phận
 Ban quản trị HTX Do đại hội xã viên bầu ra, tự chịu trách nhiệm về các
quyết định của mình trước đại hội và pháp luật. Ban quản trị HTX là cơ quan quản lý
và điều hành mọi hoạt động của HTX bao gồm : Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm và các
thành viên khác. Thành viên ban quản trị HTX được phân công phụ trách một hoặc
một số lĩnh vực trong quản lý HTX .
 Ban kiểm soát Do đại hội xã viên bầu ra cùng nhiệm kỳ của ban quản
trị, có trách nhiệm giám sát hoạt động của ban quản trị, chủ nhiệm HTX, nhân viên


kiếm thị trường, tiến hành công tác quảng cáo, tiếp thị…Mở rộng các quan hệ với
khách hàng, mở rộng thị trường và lựa chọn thị trường tiêu thụ hàng hóa có hiệu quả
nhất
 Phó chủ nhiệm phụ trách HTX : Là thành viên ban quản trị. Phó chủ
nhiệm phụ trách HTX chịu trách nhiệm tương tự phó chủ nhiệm kinh doanh như đề ra
kế hoạch tiêu thụ, vận chuyển, xuất nhập hàng hóa, quản lý quá trình kinh doanh của
HTX cũng như quản lý đội ngũ nhân viên của HTX
 Phòng kế toán tài chính Tham mưu cho chủ nhiệm về các mặt tài chính
đồng thời thực hiện các nhiệm vụ sau
 Cung cấp số liệu, thông tin kinh tế về hoạt động kinh doanh hằng ngày
và hợp đồng kinh doanh cho ban chủ nhiệm
 Ghi chép, phản ánh, giám sát việc bảo quản, sử dụng tài sản phục vụ cho
hoạt động kinh doanh của đơn vị

 Thu thập và phản ánh kết quả lao động của từng tập thể, cá nhân làm cơ
sở cho việc thưởng, phạt…
 Thực hiện việc kiểm tra hoạt động kinh doanh của HTX đồng thời cung
cấp chứng từ, tài liệu kế toán phục vụ cho việc kiểm tra của nhà nước đối với HTX
 Phòng kinh doanh Tổ chức nghiên cứu thị trường trong và ngoài tỉnh,
đồng thời định hướng các phương thức, các phương án kinh doanh cho HTX, trực tiếp
tham mưu cho chủ nhiệm. Bên cạnh đó, phòng kinh doanh có nhiệm vụ nghiên cứu, đề
xuất với ban chủ nhiệm cải tiến hoạt động quản lý điều hành của HTX sao cho phù
hợp với từng điều kiện của HTX cũng như phù hợp với những biến động của thị
trường trong hoạt động kinh doanh thương mại
 Chủ nhiệm siêu thị Chịu trách nhiệm trong kinh doanh siêu thị và quản
lý nhân viên và quản lý nhân viên của siêu thị. Đó là tìm hiểu nguồn hàng đủ về chất,
tốt về lượng, đồng bộ về cơ cấu, là nguồn hàng có chất lượng nhưng giá cả phải chăng
 Tổ bán hàng Chịu trách nhiệm về hoạt động bán hàng của siêu thị
 Tổ thu ngân Chịu trách nhiệm thu tiền thanh toán của khách hàng
 Tổ tiếp thị Giao hàng đến cho người tiêu dùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status