Vai Trò của Cấy Ghép
Tủy Xương trong
Điều Trị
Vai Trò của Cấy Ghép Tủy Xương trong Điều Trị I. TỔNG QUAN:
Trong vòng 40 năm trở lại đây, ghép tuỷ xương và ghép tế bào gốc tạo máu ngày
càng được thực hiện thường xuyên hơn để điều trị nhiều bệnh lý ác tính và không
được tiếp nối bởi những báo cáo về cấy ghép hiệu quả đối với thiếu máu bất sản
tuỷ (aplastic anemia) và, kế đến là cho bịnh ung thư bạch cầu. Các tiến bộ về kiểm
tra tính thuận hợp mô học (histocompatibility testing) và sự phát triển của việc
đăng ký hiến tuỷ, như Chương Trình Hiến Tuỷ Quốc Gia Mỹ (National Marrow
Donor Program =NMDP) chẳng hạn, đã tạo điều kiện dễ dàng cho việc dùng tuỷ
của những người hiến tặng không có quan hệ gia đình với người nhận, do đó, số
bịnh nhân được ghép tuỷ ngày càng tăng. Chọc mào xương chậu để hút tuỷ xương của người hiến tặng Các tế bào máu do tuỷ xương tạo ra: Hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu
B- DÂY RỐN Hệ tuần hoàn của thai nhi- Thai nhi lấy oxy và chất dinh dưỡng từ mẹ qua dây rốn Sơ đồ tạo các dòng huyết cầu từ các tế bào gốc tạo máu Cắt dây rốn của thai nhi và lấy máu dây rốn để lưu trữ trong ngân hàng máu dây
rốn
Năm 1988, ghép tuỷ thành công được thực hiện trên một bé trai bị chứng thiếu
máu Fanconi bằng cách dùng máu dây rốn của một người em lấy được ngay sau
khi sanh. Bệnh nhân này đến nay vẫn còn sống khoẻ mạnh. Năm 1992, một bịnh
nhân được ghép thành công với máu dây rốn thay vì tuỷ xương để điều trị ung thư
bạch cầu. Trong thập kỷ vừa qua, việc dùng máu dây rốn đã được sử dụng rộng rãi
hơn; hơn 2000 cas cấy ghép đã được thực hiện dùng máu dây rốn là nguồn tế bào
(autologous). Khi do người khác hiến tặng thì gọi là dị ghép (allogeneic). Quy trình tự ghép tế bào gốc:1- thu gom tế bào gốc 2- xử lý làm tinh khiết và cô
đặc 3- làm đông lạnh để lưu trữ 4- Hoá trị hoặc xạ trị liều cao 5- Tế bào gốc đã xử
lý được truyền lại cho người bệnh
3 týp người hiến tặng dị ghép là anh chị em sinh đôi một trứng (syngeneic), có
quan hệ huyết thống (related) , và không quan hệ huyết thống (unrelated) với bệnh
nhân. Khi người hiến tặng là sinh đôi một trứng thì gọi là đồng ghép (syngeneic).
Người hiến tặng dị ghép không quan hệ huyết thống sẽ được nhận diện từ một sổ
đăng ký hiến tặng (donor registry) hoặc từ một ngân hàng máu dây rốn. Bản tóm
tắt như sau:
+ Nguồn tế bào gốc
- Tự ghép
- Dị ghép
+ Đồng ghép (Syngeneic):sinh đôi một trứng
+ Có quan hệ huyết thống
+ Không quan hệ huyết thống.
+ Týp tế bào gốc
- Tuỷ xương
- Máu dây rốn
- Tế bào gốc ở máu ngoại biên (PBSC)
B- Ưu điểm và nhược điểm của máu dây rốn
- Máu dây rốn có thể dùng để cấy ghép trong bất cứ bệnh lý nào cần ghép tuỷ
xương. Tuy nhiên, những yếu tố sau đây hạn chế hoặc thúc đẩy việc sử dụng máu
dây rốn:
- Số lượng tế bào tương đối ít thu gom được cho mỗi đơn vị máu dây rốn sẽ hạn
chế kích thước cơ thể của người nhận, dù đã có những báo cáo về ghép thành công
ở những bệnh nhân có trọng lượng trên 100 kg. Các thử nghiệm lâm sàng hiện nay
bệnh lý khác
- Các bệnh tự miễn (đang thử nghiệm): Xơ cứng hệ thống (systemic sclerosis),
viêm khớp dạng thấp hệ thống nặng ở trẻ em, lupus, đa xơ cứng (multiple
sclerosis) và các bệnh khác
B- Bệnh lý ác tính và tiền-ác tính
- Ung thư bạch cầu cấp dòng lympho (Acute lymphoblastic leukemia=ALL)
- Ung thư bạch cầu cấp dòng tuỷ (Acute myelogenous leukemia=AML)
- Ung thư bạch cầu mãn dòng tuỷ (Chronic myelogenous leukemia=CML)
- Ung thư bạch cầu tuỷ-đơn bào ở người trẻ (Juvenile myelomonocytic leukemia)
- Các hội chứng loạn sản tuỷ (Myelodysplastic syndromes)
- Các rối loạn tế bào plasma (Plasma cell disorders)
- Lymphoma Hodgkin và không phải-Hodgkin (Hodgkin and non-Hodgkin
lymphoma) Tế bào ung thư bạch cầu dưới kính hiển vi điện tử
IV- QUY TRÌNH TÌM KIẾM
Một khi đã xác định được quá trình bệnh lý và ghép tuỷ được đánh giá là một khả
năng điều trị, cần tìm được người hiến tặng phù hợp. Sự phối chọn (match) phù
hợp nhất sẽ đem đến ít biến chứng nhất. Ở các trường hợp dị ghép, sự xác định
thuận hợp mô học HLA được thực hiện ở những người trực hệ trong gia đình bằng
cách xác định týp huyết thanh. Những thành viên trong gia đình phù hợp hoàn toàn
sẽ đem đến sự phối chọn thuận hợp nhất, do có chung những kháng nguyên HLA
thứ yếu thường không được xem xét đến khi xét nghiệm. Thuận hợp kháng
nguyên HLA Nhóm I và nhóm II được xét nghiệm và so sánh. Nhóm I bao gồm
HLA-A, HLA-B, và HLA-C. Nhóm II bao gồm HLA-DR, HLA-DP, và HLA-DQ.
Một phối chọn thuận hợp 6-trên-6 có nghĩa là khi xét nghiệm HLA-A, HLA-B, và
HLA-DR, mỗi kháng nguyên sẽ có 2 gen tương ứng (alleles). Xét nghiệm thường
quy yêu cầu kiểm tra 6 antigen này ở các thành viên của gia đình.
Hiện tại, máu dây rốn dự trữ để tự ghép ít khi được dùng đến. Một số bà mẹ muốn
lưu lại máu dây rốn của con mình trong các ngân hàng dây rốn với mục đích tự
ghép cho trẻ về sau này, nếu cần. Các tính toán đã cho thấy, đối với những người
dự trữ máu dây rốn, tỉ lệ cần đến tự ghép sẽ thấp hơn 1/20.000 . Do đó khuyến cáo
chung đối với người tặng máu dây rốn là hãy tặng nó cho ngân hàng máu dây rốn.
B- Quy trình tìm kiếm người hiến tặng không cùng huyết thống
- Quy trình khởi đầu bằng việc thực hiện phân loại nhóm DNA-HLA của người
nhận, một phương pháp chính xác hơn so với phân loại huyết thanh. Tiếp theo là
tìm kiếm sơ bộ các cơ sở dữ liệu của danh bạ. Việc tìm kiếm sơ bộ được thực hiện
miễn phí, và kết quả thường có trong vòng 24 giờ. Khi một người hiến tặng có
tiềm năng được yêu cầu, việc tìm kiếm bắt đầu, bao gồm phân loại nhóm II của
những người hiến tặng có tiềm năng và xác nhận sự thuận hợp của việc phối chọn.
Người nhận phải trả chi phí cho việc này. Khi các người hiến tặng được yêu cầu,
họ sẽ phải thực hiện các xét nghiệm, tầm soát virus, khám lâm sàng và tham dự
các khoá tập huấn cung cấp thông tin.
- Khi người hiến tặng phù hợp được chấp thuận, sẽ hẹn ngày để đến lấy mẫu. Tuỷ
xương hoặc tế bào gốc ở máu ngoại biên (PBSC) của người tặng sẽ được lấy cùng
ngày với việc cấy ghép với mục đích truyền ngay cho người nhận trong vòng 24
giờ. Thường thì máu dây rốn được chuyển đến trung tâm cấy ghép trước khi bắt
đầu giai đoạn chuẩn bị người nhận. Người nhận chỉ được biết danh tánh người
hiến tặng 1 năm sau khi cấy ghép nếu có sự đồng ý của cả hai bên.
V- QUY TRÌNH CẤY GHÉP
Quy trình cấy ghép thường chia làm 5 giai đoạn: (1) chuẩn bị điều kiện, (2) truyền
tế bào gốc, (3) giai đoạn giảm tiểu cầu, (4) giai đoạn mô ghép bám trụ, và (5) thời
kỳ sau khi mô ghép bám trụ. Quy trình thu gom, xử lý bằng cách ủ với các kháng thể, lưu trữ lạnh, rã đông, pha