UNG THƯ CỔ TỬ CUNG – PHẦN 3 - Pdf 19

UNG THƯ CỔ TỬ CUNG – PHẦN 3: ĐIỂU TRỊ

A- Các phương pháp điều trị:
I- Giải phẩu:
Trong trường hợp ung thư cổ tử cung (CTC), hystérectomie totale (HT) là phẩu
thuật thích nghi, thường kèm theo phẩu thuật lấy các mô lân cận (paramètres) nằm
giữa CTC và vách chậu, phối hợp với lấy các hạch vùng chậu
Phẩu thuật hình nón cổ tử cung(connisation cervicale, cone biopsy) được chỉ
định ở các ung thư CTC phát hiện sớm (I0, Ia). Ưu điểm cuả phẩu thuật nầy là cho
phép bệnh nhân bảo tồn khả năng sinh con. Tuy nhiên bệnh ung thư có thể tái
phát, do đó cần phải được theo dõi Pap test mỗi 3 tháng trong vòng một năm, và
sau đó mỗi 6 tháng.
Phẩu thuật cắt bỏ cổ tử cung và phần đáy âm đạo (radical trachelectomy)
thường được chỉ định ở ung thư CTC Ib , IIa nhỏ hơn 4 cmvà ở những bệnh nhân
muốn bảo tồn khả năng sinh con.Những lần sinh đẻ sau nầy phải bằng césarien.

II- Ngoại xạ trị (radiothérapie externe):
Theo JM Andrieu & P Colonna Ed. ESTEM, Paris 1997, xạ trị bằng photons với
năng lượng cao (10-15MV) phát xuất từ máy gia tốc thẳng (accélérateur linéaire)
là tốt nhất.
Vùng xạ trị là vùng ''chậu lớn'' có hình viên kim cương. Giới hạn trên là L4-
L5, giới hạn ngoài là 2cm ngoài xương chậu, giới hạn dưới xác định bởi
khám âm đạo. Nếu liều xạ trị cao hơn 30 Gy, nên dùng kỷ thuật 4 vùng
nhỏ.
Vùng xạ trị có thể thay đổi tùy theo bối cảnh lâm sàng: Có thể thu nhỏ, nếu cần tập
trung vào một vùng đặc biệt, như vào các vùng hạch, vùng CTC, hoặc cả 2 cùng
lúc. Củng có thể mở rộng vùng xạ trị như trường họp cần xạ tri vùng chậu kết hợp
với xạ trị các hạch lombo-aortiques.

hợp.
Nguồn phát xạ không bao giờ được đặt tiếp xúc trực tiếp với cơ thể, và được áp
dụng kỷ thuật bao bọc đặt biệt tạo hiệu quả phát xạ cao, thấp, nhanh, chậm và về
hình dạng có thể là chuẩn chung, hoặc thay đổi tùy theo hình dạng và độ lớn của
bướu.
Nguồn phóng xạ cơ bàn thường được dùng hiện nay trong curiethérapie là iridium
192 , [
192
Ir], cấu
trúc dưới dạng một sợi mềm có thề bẻ gãy, bao bọc bởi một vỏ bọc bắng platine.
Nguồn xạ iode 125, thường được dùng trong trị liệu ung thư tiền liệt tuyến, cấu
trúc dưới dạng hình
que ngắn bằng titane, chứa bên trong 2 viên iode 125, được đặt trực tiếp trong
khối bướu.
Những nguồn xạ khác, ít được dùng hơn, như césium 137, cobalt 60, palladium
103, strontium 90.

IV- Dược liệu:
Nhiều dược liệu đã được dùng, nhừng tất cả đều ít có hiệu quả cho ung thư cổ tử
cung.
Cisplatine thường được dùng phối hợp với xạ trị để điều trị những bướu ở giai
đoạn tiến triển cao ( IIB-IVA).
Từ tháng 6/ 2006 FDA Mỹ đã chấp thuận dùng phối hợp 2 hoá chất cisplatin và
hycampin để điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn IVB. Điều trị nầy thường gây
nhiều phản ứng phụ như giẩm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu.

B- ÁP DỤNG ĐIỀU TRỊ:
1- Trường hợp các bướu tiền ung thư:
Các trạng thái phát triển bất thường (dysplasie) và ung thư chưa xân lấn
(carcinome in situ) gọi chung là bưóu nội biểu bì (néoplasie cervicale intra-

Các ung thư Ib, IIa IIb có kích thước nhỏ hơn 4 cm, thường được chỉ định:
curiethérapie tử cung và âm đạo với liều 60 Gy, phối hợp sau đó là giải phẩu toàn
bộ tử cung, phẩu thuật vùng phụ cận, phẩu thuật hạch rộng. Xạ trị hậu phẩu bổ
sung nếu cần.
Xạ trị tiền phẩu có mục đích giết chết những tế bào ung thư ở những vùng vi xâm
lấn, làm nhỏ thể tích khối bướu chính, giúp phẩu thuật dể vượt qua vùng lành, lấy
hết bướu, và giảm di căn trong lúc giải phẩu.
Xạ trị hậu phẩu có mục đích tiêu diệt các tế bào ung thư vùng phụ cận còn sót sau
phẩu thuật, do đógia tăng hiệu quả điều trị và mức độ sống còn sau 5 năm ở những
bệnh nhân có nguy cơ tái phát cao. Nguy cơ tái phát thường do còn sót tế bào ung
thư vùng phụ cận (paramètres) và ở các hạch, ở những bướu có kìch thước lớn hơn
2 cm. Xạ trị hậu phẩu thường được chỉ định khi có di căn ở các hạch. Lượng xạ 45
– 45 Gy thường được áp dụng. Trong trường hợp đường mổ vùng cận cổ tử cung
và âm đạo không đưọc an toàn (còn nằm trong vùng bướu), cần bổ túc điều trị
bằng curiethérapie vùng đáy âm đạo.
Các ung thư IIb kích thước lớn hơn 4 cm và ung thư III thường được điều trị bằng
xạ trị dơn thuần. Xạ trị bao gồm 40-55 Gy vùng chậu và hạch lombo-aortiques
(vùng hạch lombo-aortique không được quá 45 Gy) bổ túc bằng curiethérapie tử
cung, âm đạo.
Xác suất bị di căn các hạch lombo-aortiques khoảng 8% ở các bướu Ib và 30% ở
các bướu III, do đó xạ trị phòng ngừa (prophylactique) thường được chỉ định ở Ib
và II đã được giải phẩu. Chỉ định xạ trị phòng ngừa (prophylactique) cũng được
chỉ định, tuy nhiên đem lại lợi ích ít hơn vì mức di căn quá tiến triển và nguy cơ
tái phát quá cao.
Các ung thư IVa thường được điều trị bằng ngoại xạ và curiethérapie, bổ túc bằng
phẩu thuật rộng nếu có thể.
Các ung thư đã tiến triển nhiều, và không thể giải phẩu, chỉ định xạ tri với liều
lượng nhẹ với mục đích làm chậm tiến triển bệnh và chống đau.
Ung thư cổ tử cung thường ít nhạy cảm với các dược liệu nên thường chỉ dùng
trong những giai đoạn tiến triển cao với mục đích ngăn chặn tiến triển và giảm

Biến chứng muộn có thể gặp ở nhiều cơ quan khác nhau: da và mô dưới da bị hoá
sợi,teo hẹp các ống dẫn tiểu, ống thoát tiểu, teo âm dạo, bàng quang. Viêm trực
tràng, viêm ruột cùng (sigmoide), viêm ruột non, tất cả đều có thẻ gây teo và tạo
nên tắc nghẽn đường ruột.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status