Trường tiểu học Nông Trường Sông Đốc
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TRƯỜNG TIỂU HỌC NÔNG TRƯỜNG SÔNG ĐỐC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP
RÈN KĨ NĂNG HỌC TỐT MÔN
TẬP LÀM VĂN Ở LỚP 5”
Người thực hiện: BÙI MẠNH HÙNG
Tổ khối chuyên môn: 4-5
Chức vụ: Giáo viên
Đề tài thuộc lĩnh vực chuyên môn: Tiếng việt
Bùi Mạnh Hùng SKKN
Năm học 2012
-2013
Năm học 2012
-2013
Trường tiểu học Nông Trường Sông Đốc
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Sông Đốc, ngày 09 tháng 03 năm 2013
ĐỀ NGHỊ
CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng xét, công nhận sáng kiến: Trần Văn Thời
- Họ và Tên: Bùi Mạnh Hùng
- Đơn vị công tác: Trường tiểu học Nông Trường Sông Đốc.
Đề nghị Hội đồng sáng kiến công nhận sáng kiến năm 2013 như sau:
1. Tên sáng kiến: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG HỌC TỐT MÔN TẬP LÀM VĂN Ở LỚP 5
2. Sự cần thiết (lí do nghiên cứu):
Phân môn Tập làm văn là một môn có tầm quan trong trong tất cả các môn học vì chúng quyết định
về nhiều mặt. Trong tất cả các môn học đều phải sử dụng đến hành văn để làm: Lịch sử, Địa lí, Toán,
Khoa học,… và các phân môn khác của Tiếng việt, …
Trường tiểu học Nông Trường Sông Đốc
Bùi Mạnh Hùng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Sông Đốc, ngày 25 tháng 05 năm 2013
BÁO CÁO
TÓM TẮT NỘI DUNG, HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN
- Tên sáng kiến: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG HỌC TỐT MÔN TẬP LÀM VĂN Ở
LỚP 5
- Tên người thực hiện: Bùi Mạnh Hùng.
- Thời gian đã được triển khai thực hiện: Từ ngày: 27/8/2012 đến thời điểm này.
1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
- Phân môn Tập làm văn là một môn có tầm quan trong trong tất cả các môn học vì chúng quyết
định về nhiều mặt. Trong tất cả các môn học đều phải sử dụng đến hành văn để làm: Lịch sử, Địa lí,
Toán, Khoa học,…
2. Phạm vi triển khai thực hiện
- Trong khối 5.
3. Mô tả sáng kiến:
• Sáng kiến có các phần như sau:
I. PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1/ Sự cần thiết để chọn đền tài (Lí do nghiên cứu)
2. Khó khăn và thuận lợi
2.1 Thuận lợi :
2.2 / Khó khăn
PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
(Nội dung cơ bản của sáng kiến)
1. Cơ sở để cải tiến sáng kiến.
b) Ở lớp tôi đã dạy và đang dạy, học sinh có những điểm yếu làm văn cụ thể như sau:
2. Rèn kĩ năng làm văn cho học sinh.
Bùi Mạnh Hùng SKKN
Lớp TSHS
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
5A 27 10 37 8 29,6 9 33,4
5B 28 11 39,2 9 32,1 8 28,7
5C 26 9 34,6 9 34,6 8 30,8
Trường tiểu học Nông Trường Sông Đốc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG HỌC TỐT MÔN
TẬP LÀM VĂN Ở LỚP 5”
Đề tài thuộc lĩnh vực: Dạy học Tập làm văn
Người thực hiện: Bùi Mạnh Hùng
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nông trường Sông Đốc huyện Trần Văn Thời tỉnh
Cà Mau.
Sinh hoạt tổ chuyên môn: Khối 4 + 5
Nhiệm vụ được phân công: Dạy lớp 5A3
I. PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1/ SỰ CẦN THIẾT (Lí do nghiên cứu)
Phân môn Tập làm văn là một môn có tầm quan trọng trong tất cả các môn học vì chúng quyết định
về nhiều mặt. Trong tất cả các môn học đều phải sử dụng đến hành văn để làm: Lịch sử, Địa lí, Toán,
Chính trị và các phân môn khác của Tiếng việt, … môn Tập làn văn nó còn có tầm quan trọng cho đến
cả sau này khi học sinh không còn học trong mái trường nữa thì môn Tập làm văn vẫn theo là hành
trang để đi vào đời cho các em như: học sinh có làm văn tốt thì ăn nói mới lưu loát được, muốn có một
bài “diễn thuyết” giỏi mang tính thuyết phục thì cũng phải có hành văn tốt. Vậy có thể nói môn Tập
làm văn có tầm ảnh hưởng rất lớn trong cả một thế hệ con người. Vậy thì ngay trong nhà trường phải
dạy như thế nào để các em có thể lĩnh hội môn nay một cách tốt nhất, làm sao để phát huy khả năng
của học sinh, phát huy ngôn ngữ của học sinh đó là một vấn đề mà mỗi người giáo viên chúng ta cần
phải suy nghĩ dạy như thế nào để có chất lượng.
riêng mình thì sẽ trở thành người máy. Một lớp toàn người máy thì không còn là lớp học. Lớp mà như
vậy thì việc dạy và học đã đi chệch con dường dạy tốt học tốt.
- Được học như vậy, được đọc như vậy, học sinh càng thấy môn văn nói chung, môn tập làm
văn nói riêng là lĩnh vực không thể nào chiếm lĩnh được. Có chăng, chỉ một tỉ lệ phần trăm ít ỏi là có
may mắn học giỏi môn này mà thôi .
b. Nguyên nhân về phía cha mẹ học sinh:
- Một nét tâm lý khá phổ biến của cha mẹ học sinh là muốn cho con học thêm về toán, về các
môn tự nhiên, rất ít cha mẹ muốn cho con học làm văn nếu không có yêu cầu của giáo viên.
- Cha mẹ học sinh cũng còn nhược điểm là ít mua sách môn tập làm văn cho các em đọc, thường
chiều theo ý thích của con. Hiếm thấy nhữ gia đình xây dựng cho con tủ sách phục vụ tốt cho việc học
môn văn ở tiểu học.
PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Nội dung cơ bản của sáng kiến:
1. Cơ sở để cải tiến sáng kiến.
a) Thực ra điều này không mới. Giáo viên nào cũng phải làm. Riêng tôi nghĩ, sau ít nhất một
tháng tôi phải xác định được học sinh tôi dạy có những điều tốt, những điều chưa tốt như thế nào về
làm văn.
Tất nhiên nhận xét kết luận ấy còn phải được bổ xung thường xuyên trong suốt học kỳ, suốt năm
học.
Yêu cầu đặt ra là giáo viên phải hiểu thực sự trình độ người học: Em nào loại giỏi, loại khá, loại
trung bình, loại yếu kém về làm văn của lớp mình (chứ không phải lớp khác).
Điều đó làm cơ sở, làm điểm xuất phát cho bài soạn, cho lượng kiến thức, cho phương pháp dạy
mỗi bài.
b) Ở lớp tôi đã dạy và đang dạy, học sinh có những điểm yếu làm văn cụ thể như sau:
- Các em đều biết một bài văn có ba phần:
Mở bài, thân bài, kết bài. Nhưng viết từng phần như thế nào thì lại lúng túng, tôi giúp các em bằng
cách mỗi dạng bài, chọn một bài văn chuẩn để tập phân tích. Từ đó xác định cho mình có ý từng phần,
diễn đạt từng phần.
Trên đây tôi đã nói ở phần nguyên nhân về nhược điểm của sách tham khảo. Hiện nay rất may mắn,
chúng ta đã có cuốn “Tiếng Việt nâng cao lớp 4, lớp 5. Riêng tôi, tôi thấy 2 cuốn sách đó đúng là sách
a. Viết đoạn văn:
- Muốn viết được một bài văn hay thì người giáo viên cần hướng và rèn luyện cho học sinh viết
câu, đoạn cho tốt sau đó mới có thể viết được bài văn. Ở đây học sinh đã được rèn luyện viết câu rất kĩ,
kế đó là viết đoạn văn. Chính vì vậy trong lớp 5 giáo viên chú trọng vào viết đoạn văn cho học sinh.
- Khi viết giáo viên cần chú ý rèn kĩ năng viết được câu mở đoạn cho học sinh, từ câu mở đoạn
mới có thể triển khai viết thành một đoạn văn. Trong đoạn văn cần chú ý cho học sinh cách tả theo
trình tự lô gic nhất định, tránh tình trạng tả đi tả lại chỉ một vấn đề.
- Khi viết đoạn văn cần chú ý nhắc học sinh tránh lỗi lặp từ, nhiều học sinh đã mắc rất nhiều lỗi
đó là lỗi lặp từ, lặp ý trong cùng một đoạn văn. Cần nhắc học sinh khi miêu tả chúng ta cần tả kĩ các chi
tiết để tránh tình trạng học sinh mới viết được 5 đến 7 câu là đã tả xong cảnh vật đó mà không còn biết
tả gì nữa. Tức là học sinh miêu tả một cách rất chung chung đại khái không đi sâu vào nội dung chi tiết
cảnh vật tả.
- Học sinh viết đoạn văn theo yêu cầu của giáo viên:
- Học sinh viết bài, sau đó cho học sinh đọc bài của mình giáo viên cùng cả lớp nhận xét về bài
làm đó.
- Mỗi lần học sinh viết giáo viên nên gợi ý cho học sinh thấy đâu là câu mở đoạn trong đoạn
văn. Từ câu mở đoạn đó triển khai viết từ câu mở đoạn đó. Ví dụ: Câu mở đoạn là: “Quê hương em rất
đẹp.” Vậy quê em đẹp như thế nào thì phân tích và miêu tả ra trong các câu tiếp theo. Khi hết đoạn cần
có câu kết đoạn.
b. Viết cả bài văn.
- Dựa trên quá trình viết đoạn văn thì học sinh có thể viết được cả bài văn, giáo viên lưu ý cho
học sinh viết bài văn có đủ ba phần. Mở bài, thân bài, kết bài.
* Phần mở bài:
- Để viết một bài văn hoàn chỉnh có ý văn tốt giáo viên rèn cho học sinh cách mở bài. Cũng có
thể rèn cho học sinh cách mở bài theo kiểu dán tiếp, hay trực tiếp tùy theo khả năng tiếp thu làm việc
Bùi Mạnh Hùng SKKN
Trường tiểu học Nông Trường Sông Đốc
của học sinh. Nhưng tốt nhất giáo viên nên rèn cho học sinh viết mở bài theo kiểu dán tiếp tức là tả
vòng vo loanh quanh sau đó đi vào ý chính cần tả.
- Giáo viên cho học sinh tập viết phần mở bài sau đó cho học sinh đọc và các bạn khác nhận xét
chúng ta vẫn đang nặng nề nội dung mà còn coi nhẹ văn chương. Cho nên học những bài đó có thể đạt
kết quả cao về tinh thần, tư tưởng nhưng sẽ không cao về tâm hồn nghệ thuật, càng ít kết quả về sáng
tạo, thông minh hồn nhiên ngây thơ.
b. Như vậy bài văn thiếu tính hấp dẫn. Học sinh tiểu học không thích những bài đó. Đó cũng là
nguyên nhân dạy làm văn khó đạt kết quả cao.
c. Tôi chọn dạy thêm những bài văn như trên đây. Đặc biệt chọn những bài thơ phù hợp với tuổi
các em để dạy cảm thụ, dạng viết từ cảm thụ cái đẹp, cái hay, cái lạ của thơ văn.
* Hoặc cho học sinh cảm thụ thấy được cái hay, sự xúc động và những nét giản dị của Bác.
Học sinh xẽ cảm thụ, phân tích được cái hay cái đẹp về nghệ thuật miêu tả của tác giả trong thơ
hoặc trong văn.
Qua đó, dần dần các em không sợ làm văn nữa, yêu thích và viết văn được.
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN
1. Hiệu quả đạt được:
Bùi Mạnh Hùng SKKN
Trường tiểu học Nông Trường Sông Đốc
- Từ khi áp dụng sáng kiến thì thấy rằng chất lượng vượt lên hẳn, học sinh nhớ bài chắc chắn
hơn, hệ thống hơn; luôn thích học mỗi khi đến bộ môn này. Chính vì vậy mà sau một năm thực hiện
sáng kiến kết quả đạt được như sau:
THI KHẢO SÁT ĐẦU NĂM HỌC 2012 – 2013
Lớp TSHS
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
5A 27 3 11 4 14.8 18 66,6 2 7.6
5B 28 4 14.2 5 17,8 16 57.1 3 10,9
5C 26 3 11,5 4 15,3 16 61.5 3 11,9
THI KHẢO SÁT CUỐI NĂM HỌC 2012 – 2013
T
2. Bài học kinh nghiệm:
-Việc tạo hứng thú học tập, yêu thích môn học Tập làm văn, và rèn kĩ năng học tốt môn này là
một việc tất cả giáo viên khối 4 + 5 cần phải kiên trì, bền bỉ, không được nóng vội. Bởi vì có những
Bùi Mạnh Hùng
Bùi Mạnh Hùng SKKN