ĐỒ ÁN THIẾT KẾ MẠNG LƯỚI CẤP NƯỚC QUẬN 9 NIÊN HẠN 15 NĂM - Pdf 19

Mạng lưới cấp thoát nước Th.s Lâm Vĩnh Sơn
LỜI NÓI ĐẦU
Cũng như không khí và ánh sáng, nước không thể thiếu được
trong đời sống con người. Trong quá trình hình thành sự sống trên
Trái Đất thì nước và môi trường nước đóng vai trò quan trọng. Nước
tham gia vào vai trò tái sinh thế giới hữu cơ (tham gia quá trình
quang hợp). Trong quá trình trao đổi chất nước đóng vai trò trung
tâm. Những phản ứng lí hóa học diễn ra với sự tham gia bắt buộc của
nước. Nước là dung môi của nhiều chất và đóng vai trò dẫn đường
cho các muối đi vào cơ thể.
Trong khu dân cư, nước phục vụ cho mục đích sinh hoạt, nâng
cao đời sống tinh thần cho nhân dân (một ngôi nhà hiện đại mà
không có nước khác nào một cơ thể mà không có nước).
Nước đóng vai trò cực kì quan trọng trong sản xuất công
nghiệp. đối với cây trồng nước là nhu cầu thiết yếu, đồng thời còn có
vai trò điều tiết chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật,
độ thoáng khí trong đất.
Cùng với quá trình đô thị hóa, kỹ thuật cấp nước cũng ngày
càng phát triển để đáp ứng nhu cầu của người dân đô thị. Với việc
pháp hiện dùng hóa chất dể xử lý nước, công nghệ cấp nước đã có
những bước tiến mới, hệ thống cấp nước đô thị ngày càng hoàn
thiện, đặc biệt là công trình xử lý nước. Các hạng mục công trình,
các thiết bị xử lý nước, cũng như các thiết bị điện điện tử và tự động
được áp dụng hiện nay rất đa dạng và phong phú. Có thể nói kỹ thuật
cấp nước của thế giới đã đạt tới trình độ cao về công nghệ xử lý và
thiết bị cơ giới, tự động trong vận hành quản lý.
Nhóm 16
1
Mạng lưới cấp thoát nước Th.s Lâm Vĩnh Sơn
MỤC LỤC
Phần I: Sơ lược về mạng lưới cấp nước

Mạng lưới cấp thoát nước Th.s Lâm Vĩnh Sơn
PHẦN I: SƠ LƯỢC VỂ MẠNG LƯỚI CẤP NƯỚC
I: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGHÀNH CẤP NƯỚC
- Theo lịch sử ghi nhận, lịch sử hệ thống cấp nước đô thị xuất
hiện sớm nhất tại La Mã vào năm 800 TCN. Điển hình là công trình
dẫn nước vào thành phố bằng kênh tự chảy, trong thành phố nước
được đua đến các bể tập trung, từ đó theo đường ống dẫn nước đến
các nhà quyền quí và các bể chứa công cộng cho người dân sử dụng
- Người Babilon có phương pháp nâng nước lên độ cao khá lớn
bằng phương pháp ròng rọc, guồng nước.
- Thế kỉ thứ XIII, các thành phố ở Châu Âu đã có hệ thống cấp
nước. Vào thời đó chưa có các chất hóa học để phục vụ cho việc keo
tụ xử lí nước mặt, người ta phải xây dựng các bể lắng có kích thước
rất lớn mới lắng được các hạt cặn bé. Do đó các công trình xử lí rất
cồng kềnh, chiếm diện tích và chí phí xây dựng lớn.
- Năm 1600, việc dùng phèn nhôm để keo tụ nước được các
nhà truyền giáo Tây Ban Nha phổ biến tại Trung Quốc .
- Năm 1800, các thành phố ơ Châu Âu, Châu Mĩ đã có hệ
thống cấp nước khá đầy đủ các thành phần như: công trình thu, trạm
xử lí, mạng lưới,
- Năm 1810, hệ thống lọc nước cho thành phố được xây dựng
tại Paisay- Scotlen
- Năm 1908, việc khử trùng nước uống với qui mô lớn tại
Niagara Falls, phía Tây Nam New york.
- Thế kỉ XX kỹ thuật cấp nước ngày càng đạt tới trình độ cao
và còn tiếp tục phát triển, các loại thiết bị cấp nước ngày càng đa
dạng và phát triển. Thiết bị dùng nước trong nhà luôn được cải tiến
để phù hợp và thuận tiện cho người sử dụng. Kỹ thuật điện tử và tự
động hóa cũng được sử dụng rộng rãi trong cấp thoát nước.
- Ở Việt Nam, hệ thống cấp nước đô thị được bắt đầu bằng

lượng theo tiêu chuẩn của từng nhu cầu dùng nước. Các nhu cầu
thường gặp là:
• Nước sinh hoạt: Tính bình quân đầu người, lít/ người/ ngày
đêm,
theo qui định trong tiêu chuẩn cấp nước hiện hành TCXD 33-85
• Nước công nghiệp: Tiêu chuẩn nước sử dụng cho công nghiệp
phải được xác định trên cơ sở dây chuyền công nghệ của xí nghiệp
do cơ quan thiết kế hay quản lý cấp. tiêu chuẩn dùng nướcđược tính
theo đơn vị sản phẩm.
 Nước cho công nghiệp bao gồm: nước cho sinh hoạt
của công nhân, cho công nhân tắm, và cho sản xuất. Trong đó nước
cho công nhân tắm sau giờ làm việc theo ca đồng nhất với tiêu chuẩn
40 người mội vòi tắm 500 lít/ giờ với thời gian tắm là 45 phút.
 Nước tưới cây, tưới đường: Tiêu chuẩn nước dùng
Nhóm 16
4
Mạng lưới cấp thoát nước Th.s Lâm Vĩnh Sơn
cho tưới cây, tưới đường , vườn hoa, quảng trường , mặt đường trong
các đô thị thì tùy theo loại mặt đường, loại cây trồng, khí hậu để
chọn. Theo quy phạm, có thể lấy từ 0,5 – 1 lít/ m
2
diện tích được
tưới.
• Nước dùng trong các nhà công cộng: Lấy theo quy định
của TCXD 33-85
• Nước rò rỉ của mạng lưới phân phối: Lượng nước này
không có tiêu chuẩn rõ rệt, tùy theo tình trạng của mạng lưới mà có
thể lấy từ 5-10% tổng công suất của hệ thống. Thực tế, lượng nước
rò rỉ của mạng lưới có khi lên tới 15- 20% .
• Nước dùng trong khu xử lý: Để tính toán sơ bộ có thể chọn

Mạng lưới phải bao trùm được các điểm tiêu thụ nước.
 Các tuyến ống chính nên đặt theo các thành phố lớn, có
hướng đi từ nguồn nước và chạy dọc thành phố theo hướng chuyển
nước chủ yếu. Khoảng cách giữa các tuyến chính, phụ thuộc vào quy
mơ thành phố, thường lấy từ 300- 600 m. Một mạng lưới phải có ít
Nhóm 16
6
1
2
3
4
5
6
Hình : Sơ đồ hệ thống cấp nước thành phố
Công trình thu và trạm bơm cấp I 4- Trạm bơm cấp II
Trạm xử lý nước 5- Đài nước
Bể chứa nước 6- Mạng lưới đường ống
Mạng lưới cấp thoát nước Th.s Lâm Vĩnh Sơn
nhất hai tuyền ống chính, đường kính ống chọn tương đương để có
thể làm việc thay thế nhau khi gặp sự cố.
 Tuyến ống chính được nối với nhau bằng các tuyến ống
nhánh với khoảng cách là 400-900m. Các tuyến vạch phải theo
đường ngắn nhất, cấp nước được về hai phía. Nó phải tránh các ao
hồ, đường tàu và các nghĩa địa… cần đặt ống ở những điểm cao để
bản than ống chịu áp lực mà vẫn đảm bảo đường mực nước theo yêu
cầu.
 Vị trí đặt ống trên mặt cắt ngang đường phố do quy hoạch
Khoảng cách nhỏ nhất trên mặt bằng tính từ thành ống đến các công
trình được qui định như sau:
- Đến móng nhà và công trình: 3 mét

kinh tế kỹ thuật các phương án quy hoạch mạng lưới đã đề ra.
IV: TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM
IV.1 Tài nguyên nước:
- Tài nguyên nước của Việt Nam khá lớn: lượng nước mặt
trong lãnh thổ là 32,5 tỷ m
3
/ năm, trữ lượng tiềm năng nước dưới đất
l à 48 tỷ m
3
/năm. Tuy nhiên do nhu cầu dùng nước của Việt Nam
tăng mạnh từ 79,61 tỷ m
3
/năm vào năm 2000 có thể lên đến vài trăm
tỉ m
3
/năm vào những thập niên đầu của thế kỉ XXI. Nguy cơ thiếu
nước biểu hiện ở nhiều vùng, kể cả vùng châu thổ sông Hồng. Trên
cơ sở phân tích các tài liệu hiện có, các tác giả đã đề cập hướng điều
tra, khai thác và bảo vệ các tài nguyên dưới đất.
- Việt Nam là một nước có lượng mưa trung bình hằng năm
khá lớn lên tới trên 2000mm. Ba phần tư lãnh thổ là đồi núi với độ
che phủ rừng hiện tại là 29%, mạng lưới sông suối ao hồ dày và có
nước quanh năm. Nhờ đó tài nguyên nước nhìn chung tương đối
phong phú: Hằng năm lượng nước mặt sản sinh nội địa 32.5 tỷ
m
3
/năm, nếu kể cả lượng nước bên ngoài lãnh thổ chảy vào khoảng
889 tỷ m
3
/năm, nước dưới đất có trữ lượng tiềm năng khoảng 48 tỷ

dòng sông sau khi đã tiếp nhận xả thải từ nhiều đô thị, khu dân cư,
khu nông nghiệp trên các vùng thượng lưu sẽ không còn độ trong
sạch như hiện nay.
 Tài nguyên nước trên lãnh thổ nước ta phân bố rất không
đều theo không gian và thời gian. Bình quân toàn lãnh thổ lượng
mưa năm là 1.944mm. Tuy nhiên lượng mưa này phân bố không đều
theo không gian.
 Một khó khăn khác là chất lượng nguồn nước đang ngày
càng giảm sút, trong khi đó nhu cầu về nguồn nước sử dụng ngày
càng tăng. Với sự phát triển nhanh của công nghiệp hóa, đô thị hóa,
gia tăng dân số ở nông thôn cũng như thành thị, chất lượng nguồn
nước mặt đã có những biểu hiện suy thoái khá nghiêm trọng.
IV.2 Một số các nguồn nước chính:
- Sông ngòi tự nhiên: Nguồn nước trong sông được cung cấp từ
nước mưa Dòng chảy của chúng biến đổi theo mùa và không ổn
định đặc biệt ở khu vực thượng lưu. Dòng chảy của những con sông
nhận được lượng bổ sung từ nước ngầm sẽ ổn định hơn. Những con
sông ở khu vực hạ lưu còn có thêm một lượng bổ sung từ nước đã
qua sử dụng, chẳng hạn nước từ hệ thống cống thoát nước và từ
lượng nước tưới tiêu.
- Ao hồ tự nhiên: Các ao hồ tự nhiên thường chỉ cho khai thác
một lượng nước giới hạn trừ khi chúng có một vài nguồn bổ sung
nước riêng biệt.
- Hồ chứa: Nước được trữ trong hồ chứa có đập ngăn phục vụ
nhiều mục đích sử dụng khác nhau. Ở những vùng có hai loại hình
khí hậu khô và mưa khác nhau rõ rệt, nước sẽ được trữ lại vào mùa
Nhóm 16
9
Mạng lưới cấp thoát nước Th.s Lâm Vĩnh Sơn
mưa và sau đó sẽ khai thác sử dụng vào mùa khô. Tại nhiều vùng

- Động thái của nước: được đánh giá bởi sự thay đổi của các
đặc trưng dòng chảy theo thời gian. Sự trao đổi nước giữa các khu
vực chứa nước, sự vận chuyển và quy luật chuyển động của nước
trong sông, sự chuyển động của nước ngầm, các quá trình trao đổi
chất hòa tan, truyền mặn…
Nhóm 16
10
Mạng lưới cấp thoát nước Th.s Lâm Vĩnh Sơn
Kiểm tra, giám sát chất lượng nguồn nước, việc khai thác hợp lý tài
nguyên nước, phòng chống và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi
trường nước.
b. Giáo dục cộng đồng.
Cần giáo dục cho người dân biết nhân loại đang đứng trước
nguy cơ khủng hoảng tài nguyên nước ngày một trầm trọng hơn.
Ðây là hậu quả tất yếu của những khủng hoảng về dân số, lương
thực, năng lượng, tài nguyên và sinh thái. Trong đó sự bùng nổ dân
số đóng vai trò chủ chốt. Một khi người dân biết rõ được mối nguy
cơ đe dọa đến sự thiếu nước, họ sẽ chung tay cùng giải quyết các vấn
đề đó.
Giáo dục ý thức tự giác, cùng nhau cải thiện chất lượng trong
hộ gia đình và nơi công cộng. Ðồng thời phổ biến các điều luật bảo
vệ tài nguyên để người dân nắm vững và chấp hành.
c. Tăng cường làm sạch nguồn nước.
Tự làm sạch nguồn nước là sự phục hồi trạng thái nước ban đầu
nhờ các quá trình thủy động học, lý học, hóa học, sinh hóa… diễn ra
trong nguồn nước,
Bản chất của tự làm sạch nguồn nước là sự xáo trộn pha loãng nước
thải với nguồn nước, sự phân hủy và chuyển hóa các chất bẩn trong
nguồn nước. Khả năng tự làm sạch của nguồn nước phụ thuộc nhiều
yếu tố như loại nước thải, chế độ thủy động học của nguồn nước, đặc

đường ống…Quan trọng, nếu không cân nhắc đến yếu tố địa chất khi
thiết kế rất có thể khi vận hành sẽ xuất hiện trường hợp lún nền đất,
làm nứt gãy đường ống.
V.3 Khí hậu
- Đây là yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu dung nước, do đó , nó
ảnh hưởng đến lưu lượng nước cấp trong mạng lưới.
- Khí hậu quận 9 mang đặc trưng của khí hậu Nam Bộ: Khí hậu
nhiệt đới gió mùa, tương đối ôn hòa, chia làm 2 mùa rõ rệt( mùa mưa
từ tháng 6-11, mùa khô từ tháng 12-5 năm sau)
Nhiệt độ trung bình: 27,9
0
C( dao động trong khoản 26- 34
0
C)
- Lượng mua cao nhất: 2178mm/ năm
- Lượng mưa thấp nhất: 1329mm/ năm
- Lượng mưa trung bình: 1895mm/ năm
- Số ngày mưa: 159 ngày
- Vận tốc gió trung bình: 2,1-3,7m/ s
- Độ ẩm không khí tương đối: 70- 85%
VI HIỆN TRẠNG CẤP NƯỚC
Về chất lượng nguồn nước cấp: Hiện trạng nước mặt hiện nay
có nguy cơ ô nhiễm rất cao do nạn vứt rác bừa bãi xuống kênh rạch,
nước thải của những cơ sở sản xuất hiện tại vẫn chưa qua xử lý mà
thải trực tiếp ra ống thoát nước chung hoặc xuống sông là chủ yếu.
Ví dụ như các cơ sở sản xuất bún tươi trên địa bàn quận xả nước thải
trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung.Vấn đề chăn nuôi cũng ảnh
hưởng lớn đến chất lượng nguồn nước, vì toàn bộ nước thải chăn
Nhóm 16
12

Nguyên nhân chủ yếu là do tuyến ống nước thô của nhà máy nước
Thủ Đức đang xuống cấp nên nước thô cung cấp để xử lý không bảo
đảm cho nhà máy phát hết công suất hiện nay. Sau khi trừ đi phần
thất thoát, lượng nước cung cấp thực tế bình quân 458.500 m
3
/ngày
(không kể lượng nước được cung cấp từ hệ thống giếng cũ). So với
năm 1991, lượng nước sản xuất tăng bình quân 1%, trong khi tốc độ
tăng dân số luôn trên dưới 3% (không kể khách vãng lai có mặt hàng
ngày) nên nước rất khan hiếm kể cả các khu vực đầu nguồn.
Cơ cấu tiêu thụ nước không có sự thay đổi lớn qua các năm.
Nước cho sinh hoạt vẫn chiếm tỷ trọng cao (83% - 85%), nước cho
sản xuất chiếm tỷ trọng không lớn, chủ yếu do nguồn cung cấp
không đủ, một số đơn vị sản xuất có nhu cầu nước lớn sử dụng
Nhóm 16
13
Mạng lưới cấp thoát nước Th.s Lâm Vĩnh Sơn
nguồn nước ngầm tự khai thác không được tính vào thống kê khối
lượng nước tiêu thụ.
Do lượng nước sản xuất ra không đáp ứng nhu cầu, mạng lưới
lại phân bố tập trung chủ yếu ở khu vực trung tâm, tỷ lệ thất thoát
nước lớn làm giảm áp lực nước ở cuối hệ thống nên lượng nước
cung cấp cho các địa bàn dân cư không đều, tập trung chủ yếu ở các
quận 1, quận 3, quận 5, quận Bình Thạnh nơi có mức tiêu thụ nước
bình quân đầu người cao hơn 1,5 lần so với mức bình quân chung
của toàn TP. Nhiều quận, huyện lượng nước cung cấp ở mức rất thấp
hoặc không có nước. Nước cấp bình quân đầu người chung toàn TP
năm 1995 là 100 lít/người/ngày, tính riêng nội thành là 122
lít/người/ngày, ngoại thành là 30 lít/người/ngày.
VII QUI TRÌNH THI CÔNG

đúng bản vẽ đã thiết kế. ở những chổ đặt phụ tùng mà phải cắt ống
thì phải mài nhẵn vị trí bị cắt. Chú ý: góc lệch tốt đa của mối giữa
hai ống khuỷu không quá 3
o
VII.3 Trải cát lót ống và phui đào
- Phui đào sau khi lắp đặt ống phải lấp bằng cát đầm kỹ để cố
định các đoạn ống vừa lắp đặt.
VII.4 Thử áp lực:
- Theo quy định của Tổng công ty cấp nước Sài Gòn- Sawaco,
đường ống cấp nước sau khi được lắp đặt phải được thử áp lực để
đảm bảo độ kín nước. Qui trình thử áp nhu sau: Khi đường ống cấp
nước đã lắp đặt xong phải kiểm tra độ kín nước bằng cách bịt kín 2
đầu ống , bơm nước vào với áp lực là 6 kg/cm2. Đường ống được
chấp nhận được yêu cầu kín nước nếu thỏa 1 trong 2 yếu tố sau:
o Trong thời gian tối thiểu 2h sau khi ngừng bơm, áp lực trong
đoạn
ống thử vẫn giữ nguyên 6kg/cm2
o Trong thời gian tối thiểu 2h sau khi ngừng bơm, áp lực trong
ống
thử có sụt giảm và ngay sau đó bơm them nước vào để đưa áp suất
lên trở lại 6kg/cm2. số nước them tối đakhông quá số lượng nước
tính theo công thức:
V=(S*D)/14750
Trong đó:
V: số lượng nước rò rỉ, hao hụt cho phép trong 2h thử( lít)
S: Chiều dài đoạn ống thử (mét)
D: Đường kính chuẩn đoạn ống thử (mm)
- Trước khi thực hiện công tác thử áp lực, đơn vị thi công đặt ống
phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện sau:
+ Gửi văn bản yêu cầu thử áp lực trước ít nhất 2 ngày đến

+ Trong quá trình súc xả, khi nhận thấy nước ra đã sạch
( bằng cảm quan thấy trong sạch, không cặn bẩn), tiến hành tăng và
giảm áp bất thường để tăng hiệu quả súc.
+ Sau khi tuyến ống cấp nước được khử trùng, đơn vị thi
công phải tiến hành súc xả ống lần 2 theo yêu cầu tương tự lần 1. Có
đại diện chủ đầu tư và đơn vị quản lý vận hành chứng kiến và xác
nhận kết quả.
+ Đối với tuyến ống cấp nước sau khi lắp đặt nhưng không
được đưa vào vận hành ngay, khi đưa vào vận hành khai thác các chi
nhánh cấp nước cần tiến hành kiểm tra lại chất lượng nước súc xả
theo 2 chỉ tiêu về độ trong ( bằng cảm quan ) và Clo dư. Nếu không
đạt các yêu cầu trên, chi nhánh Công ty cấp nước cần súc xả lại để
đảm bảo tuyến ống đã được xả sạch hoàn toàn.
Nhóm 16
16
Mạng lưới cấp thoát nước Th.s Lâm Vĩnh Sơn
- Khử trùng:
+ Sau khi đường ống đã thử áp lực xong, được chấp thuận
đạt yêu cầu trước khi ráp nối đưa vào sử dụng thì phải được khử
trùng.
+ Giao đơn vị thực hiện thử áp lực thực hiện công tác khử
trùng đường ống với sự hổ trợ của đơn vị thi công.
+ Trước khi thực hiện công tác khử trùng đơn vị thi công
phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện sau:
+ Gửi văn bản yêu cầu khử trùng trước ít nhất 2 ngày tới
đơn vị thực hiện công tác khử trùng.
+ Đoạn ống đã được nối một đầu với ống chính hiện hữu có
van chận tại điểm nối ( corporation cock lắp đặt trong công tác thử
áp lực vẫn ở sau van chận tính theo chiều nước chảy)
+ Xả nước trong ống đến khi ghi nhận ống sạch (bằng mắt)-

trùng xét nghiệm có Clo dư.
+ Lấy mẫu nước ở cuối đường ống sau khi xả sạch dung
dịch khử trùng xét nghiệm thấy có chất lượng giống như chất lượng
nước hiện hữu trong toàn mạng lưới.
+ Công tác khử trùng được lập biên bản có các thành viên
ký xác nhận trước, sau đó đơn vị thi công đặt ống tạo điều kiện để
đơn vị thử áp lực khử trùng hướng dẫn đơn vị có chúc năng đến hiện
trường lấy mẫu kiểm nghiệm tại những điểm đã nêu trong mục trên.
+ Kết quả kiểm nghiệm mẫu nước kèm theo biên bản khử
trùng đã lập, trình BGĐ Công ty kết luận để bổ túc hồ sơ nghiệm thu
công trình.
VII.5 Hoàn công, nghiệm thu:
• Tái lập mặt đường:
• Công tác tái lập mặt đường và lề đường: tái lập mặt đường
nguyên
trạng
• Quy định của sở GTCC về việc tái lập mặt đường và vĩa
hè sau khi lắp đặt công trình để đảm bảo giao thông, trong đó quy
định:
• Phui đào đường nhựa sau khi lắp đặt ống phải lấp bằng cát
đầm kỹ cách mặt đất 50cm, phui đào vĩa hè lấp cát cách mặt lề
15cm.
• Phần trên tái lập bằng lớp nền đá 0-4 dày 40-50cm và lấp
nhựa nóng dày 12-20cm ngay sau khi thi công để đảm bảo giao
thông
• Phần vĩa hè tái lập theo kết cấu hiện trạng
• Trong trường hợp không láng nhựa kịp thời, cho phép đầm
đá 0-4 dày 12cm tạm thời để đảm bảo giao thông. Lớp đá này sau đó
được đào lên khi trải nhựa nóng và tráng bê tông, sau đó chuyển
sang lấp phui kế tiếp.

- Tiêu chuẩn dùng nước: q
t/c
= 150 l/ng
- Tiêu chẩn tưới: q
tưới
= 1l/m
2
- Số sinh viên trường ĐH: 5000sv
- Số giường bệnh viện Quận 9: 500 giường
- Số công nhân trong xí nghiệp : 500 người
- Hệ số không điều hòa ngày: k = 1,3
A Tính lưu lượng nước dùng cho sinh hoạt
* Số dân hiện tại:
N
0
= 250 * 11400 = 2850000 người
- Chọn tốc độ gia tăng dân số: 2%
- Số dân sau 15 năm:
N = N
0
x (1+a)

t
Trong đó:
N
0
: là số dân trong thời điểm hiện tại
a: là tốc độ gia tăng dân số
∆t: là niên hạn thiết kế
N = 2850000 * (1+ 0.02)

Tưới
tb
= S * q
tưới
Trong đó:
S: Diện tích cần tưới, S =17100000 m
2
q
tưới
: Tiêu chẩn tưới, q
tưới
= 1l/m
2
= 10*1* = 10*1710*1 = 17100 ( /ngđ)
= = 17100*1.3 = 22230 ( /ngđ)
* Lưu lượng nước cần tưới trong một ngày đêm là:
= = 2223( /h)
B Tính lượng nước sử dụng ở các khu công cộng
1 Lưu lượng nước sử dụng cho trường ĐH
Q
đh
tb
=
Nhóm 16
21
Mạng lưới cấp thoát nước Th.s Lâm Vĩnh Sơn
Trong đó:
q
t/c
: là tiêu chuẩn dùng nước cho một sinh viên trong một ngày,

Trong đó:
N
1
: là số công nhân làm việc trong phân xưởng nóng,
N
1
= 250 người
N
2
: là số công nhân làm việc trong phân xưởng lạnh,
N
2
=250 người
Q
sh
= 15 m
3
/ngđ
Chọn xí nhiệp làm việc 3 ca một ngày, nên lượng nước dùng
cho sinh hoạt trong một ngày là:
Q
sh

max
= Q
sh

tb
* k
ngày

Q
sx
max
= Q
sx
tb
* k
ngày
= 200 * 1.3 = 260 (m
3
/ngđ)

3, Lưu lượng dùng để tắm:
Q
tắm
tb
= (q
tc
tắm
* N)/1000
 Số công nhân tắm N = 500 (người)
 Lưu lượng tắm cho công nhân theo tiêu chuẩn
q
t/c
= 5001/h cho 1vòi, tắm trong 45 phút cho 40 công nhân.
q
t/c
= = 9.375 (l/người/ngđ)
Q
tắm

= 19.5 + 6.094 + 260 = 285.6( /ngđ)
D: Công suất có ích của hệ thống cấp nước:
Q
có ích
= Q
sh
max
+ Q
Tưới
max
+Q
cc
+ Q
XN

= 770806.98 (m
3
/ngđ)
Nhóm 16
23
Mạng lưới cấp thoát nước Th.s Lâm Vĩnh Sơn
Chọn hệ số rò rỉ là: K
rò rỉ
= 1,05
E:Công suất trạm bơm:
Q
b
= Q
có ích
* K

Tổng chiều dài mạng lưới:
L= ΣL
i
= 80275 (m)
Tổng lưu lượng giờ dùng lớn nhất:
Từ bảng 1 (Bảng thống kê nhu cầu nước theo giờ) suy ra :
Q
max
h
( lúc 14h - 15h) = 46120.22 (m
3
/ng.đ)
Tương đương với 5.7 %tổng lưu lượng nước chứa trong ngày
Tổng lưu lượng tập trung:
Tra từ bảng 1 suy ra:
Lưu lượng nước ở các điểm tập trung đối với giờ dùng nước
lớn nhất ( lúc 14h - 15h)
Q
ttr
= Q
trường học
+ Q
bệnh viện
+ Q
công nghiệp

= 8.125 +9.75 + 13.394
= 43.4565m
3
/h)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status