skkn một số biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học mônđ - Pdf 19



SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO ĐỔI
MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN
TIẾNG VIỆT TẠI TRƯỜNG TH SỐ 2
LIÊN THỦY
Họ và tên: đặng thị Lan
P.Hiệu trưởng Tiểu học số 2 Liên Thủy

sâu suy nghĩ để nắm bắt vững vàng về hệ thống kiến thứcTiếng Việt, thực sự coi trọng
việc đổi mới phương pháp, hình thức, phương tiện dạy học làm thế nào để tập trung rèn
luyện cho học sinh tính năng động và sáng tạo theo hướng tích cực hóa hoạt động học
tập của học sinh, lấy học sinh làm nhân vật trung tâm.Trong dạy học người thầy có quan
tâm vào hoạt động của người học mới có điều kiện rèn luyện cho trẻ em những năng lực
cần thiết đáp ứng với yêu cầu đổi mới của đất nước, phù hợp với xu thế giáo dục của
khu vực thế giới. Hiện nay, trong đổi mới giáo dục phổ thông thay sách giáo khoa mới
thể hiện rất rõ về mục đích dạy học. Con đường đạt đến mục đích hoàn toàn khác với
phương pháp dạy học cũ. Mục đích giờ học hiện nay không phải giáo viên truyền thụ lời
giảng của mình, học sinh nghe, ghi nhớ một cách thụ động, máy móc, không được
quyền đánh giá mình, đánh giá bạn với phương pháp cũ, mục đích cao nhất của phương
pháp mới là làm sao để chủ thể HS , dưới sự hướng dẫn của giáo viên chiếm lĩnh được
tri thức, hình thành phát triển kỹ năng, tạo ra được sự phát triển toàn diện về tri tuệ, tâm
hồn, nhân cách, năng lực. Con đường đạt đến hiệu quả tự phát triển là sự vận động tự
thân của mỗi chủ thể sinh (Học sinh tích cực tham gia các hoạt động, đào sâu suy nghĩ,
nghe, nói, đọc, viết dưới sự hướng dẫn, điều hành của thầy giáo). Mọi phương pháp,
biện pháp hình thức hoạt động của thầy và trò đều nhằm thúc đẩy trí tuệ từng học sinh .
Tất cả các hoạt động đó không thể có bằng những hình thức tác động từ bên ngoài mà
phải bằng một hệ thống những thao tác, biện pháp cho hoạt động được vật chất hóa.
Phương pháp dạy học phải vật chất hóa hoạt động bên trong của học sinh, tạo được sự
hoạt động và phát triển bên trong của học sinh, làm cho người học linh hoạt, sáng tạo, tự
tìm tòi, phát hiện, chiếm lĩnh kiến thức, vận dụng kiến thức thành thạo trở thành kỹ
năng, kỹ xảo tạo thành hệ thống tri thức và kỹ năng thực hành, hình thành nhân cách
người học. Mục tiêu đặt ra là như vậy, nhưng trong thực tế giảng dạy ở trường tiểu học
số 2 Liên thủy còn gặp không ít khó khăn, so với đích cần đạt thì nó có sự cách biệt bởi
lẽ: năng lực đội ngũ còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Khả năng tiếp nhận cái mới còn chậm, còn nặng về phương pháp dạy học theo lối cải cách giáo dục. Kỹ năng sư
phạm tổ chức dạy học trên lớp thiếu linh hoạt ở một số khâu quan trọng như : khâu giao

hưởng của môi trường kinh tế - xã hội .
Trong quá trình dạy học, thầy và trò cũng là chủ thể có mối quan hệ. Quá trình dạy
học muốn kiến tạo và phát triển nhân cách phải thông qua sự thống nhất ba mặt đó là :
+ Tính riêng biệt, độc đáo của cá nhân: Dạy học phải tạo được môi trường thuận
lợi nhất cho mỗi cá nhân phát huy được tiềm năng để trở thành chính mình.
+ Hòa đồng các mối quan hệ liên nhân cách: Giúp người học tham gia vào các
hoạt động và các mối quan hệ xã hội.
+ ảnh hưởng của nhân cách tới xã hội, cộng đồng: Giúp học sinh có thể đóng góp
cống hiến sáng tạo cho xã hội, cộng đồng.
Quá trình dạy học phải coi hoạt động là bản chất của mình có nghĩa là dạy học chính
là quá trình tổ chức các hoạt động khác nhau để học sinh được hoạt động và lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo. Chuyển hóa vào thực tiễn dạy học những thành tựu mới nhất
của khoa học công nghệ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức
Sử dụng tối đa phương tiện kĩ thuật hiện đại đa kênh, đa hình vào dạy học. Chú ý đến
điều kiện xây dựng công nghệ dạy học. Dạy học phải theo hướng cộng tác, thầy có chức
năng thiết kế , tổ chức chỉ đạo và kiểm tra quá trình học, không làm thay, hoc sinh tự
điều chỉnh quá trình chiếm lĩnh tri thức của bản thân, tự thiết kế, tổ chức thi công, kiểm
tra việc học của chính mình dưới sự hướng dẫn tổ chức, điều hành của giáo viên. Kiểu
dạy học này là coi trọng quá trình học của học sinh, tập trung chú ý hình thành ở học
sinh những kỹ năng " Học cách học" . Thầy giáo chỉ là trọng tài khoa học, cố vấn khoa
học để các em chiếm lĩnh đối tượng ( bài học) một cách chuẩn xác lôgic và hợp lý, vai
trò của giáo viên hoàn toàn không bị hạ thấp mà được nâng cao lên nhiều với những yêu
cầu cao hơn.
Như vậy, người giáo viên hình thành ở học sinh cách học đúng đắn nhờ đó mà phát
triển ở các em những kỹ năng cơ sở của quan sát, thu nhập thông tin, đưa ra những suy
luận, phán đoán và kết luận. Để làm được điều đó đòi hỏi người thầy không những có
đủ tri thức mà phải có phương pháp, kinh nghiệm và đầy sáng tạo, phải hiểu được tâm
lý đối tượng để lựa chọn và xây dựng những phương pháp phương tiện và hình thức dạy

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi những con người năng động, sáng tạo, tự lực,
tự cường. Hơn nữa thế giới đã chuyển sang thời kỳ kinh tế tri thức, cho nên đầu tư vào
chất xám sẽ là cách đầu tư hiệu quả nhất cho sự hưng thịnh của mỗi quốc gia. Vì vậy mà
nhu cầu học tập của người dân ngày càng nhiều, trình độ dân trí ngày càng tăng, xã hội
học tập đang hình thành và phát triển của khoa học công nghệ đã mở ra những khả năng
và điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng phương tiện công nghệ thông tin vào quá trình
dạy học. Như vậy, khi đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học và cách đánh giá kết quả
học tập của học sinh thì PPDH buộc phải cũng phải thay đổi theo. Đổi mới PPDH là nội
dung hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học. Trong giáo dục tiểu
học để thục hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục Tiểu học đặt ra là " Giúp học sinh hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để hoc sinh tiếp tục học trung học cơ sở".
Điều cực kỳ quan trọng đòi hỏi người thầy phải dạy cái gì? Dạy như thế nào? Dạy bằng
cách nào? để hình thành năng lực, hứng thú, khả năng hợp tác, phát huy hết tiềm năng,
sự sáng tạo, khả năng tự học, tự đánh giá, tham gia đánh giá bạn của học sinh.
.
II . Điều tra phân tích xử lí tình huống
1 - Tiến hành điều tra khảo sát
*. Khảo sát tình hình đội ngũ
* số lượng
Tổng số cán bộ giáo viên: 13 - Giáo viên đứng lớp :10
Trong đó: Tuổi đời bình quân
Tuổi đời : từ 40 trở lên : 09 đ/c Đạt tỉ lệ 69,2%
Dưới 40 04 đ/c Đạt tỉ lệ 30,8%
Dưới 30 không
Tuổi nghề: Dưới 5 năm Không
Dưới 10 năm Không
Dưới 15 năm 03 đ/c Đạt tỉ lệ 23,0%
Dưới 25 năm 05 đ/c Đạt tỉ lệ 38,5%
Trên 25 năm 05 đ/c Đạt tỉ lệ 38,5%

thống kiến thức đã học và sắp học, mối quan hệ của hệ thống các bài tập trong một tiết
học, chưa khai thác triệt để các PPDH luyện theo mẫu, PP thực hnàh giao tiếp chưa
khắc sâu kiến thức sau mỗi bài tập hoặc khái quát kiến thức cuối tiết học.
*Tập đọc: Quy trình dạy học thể hiện rõ ràng , cụ thể tuy nhiên trong từng hoạt
động bộc lộ những hạn chế nhất định qua các hoạt động luyện đọc(hướng dẫn, định
hướng giọng đọc,sự nhanh nhạy trong khâu phát hiện và chữa lỗi ); Hoạt động tìm hiểu
bài ,đọc mẫu tiếp sức cho học sinh hoặc chưa linh hoạt ở khâu tổ chức luyện đọc diễn
cảm.
*Tập làm văn: Do đặc điểm phân môn là rèn kỹ năng tổng hợp (nghe, nói, đọc,
viết)đòi hỏi học sinh biết phát huy cao độ trí tuệ và cảm xúcđể thực hiện tốt các yêu cầu
của bài học. Là môn học mang tính tích hợp cao. Nhưng thực tế học sinh khả năng vốn
từ hạn chế, dùng từ diễn đạt vụng, ít học sinh biết dùng từ ngữ miêu tả, biện pháp nghệ
thuật, so sánh để viết câu văn có hình ảnh sinh động (Văn miêu tả ) do vậy giáo viên
khi thao giảng, dự giờ ngại dạy Tập làm văn. Tronggiờ dạy chưa tạo được tình huống
giao tiếp tự nhiên, học sinh ít hứng thú học tập .
III. Các biện pháp chỉ đạo đổi mới PPDH môn Tiếng việt
1. Đổi mới PPDH nhất thiết phải đổi mới nhận thức trong cán bộ chỉ đạo đội ngũ
giáo viên
Những năm gần đây( từ năm 2002 đến nay) Phòng giáo dục Lệ thủy đã tổ chức hội
thảo nhiều chuyên đề. Trọng tâm của hội thảo là trao đổi ý kiến về thực trạng dạy học
theo chương trình mới đổi mới giáo dục phổ thông. Đi sâu vào tổ chức sinh hoạt chuyên
môn cụm trường giảng dạy thực tế, dạy học theo từng vùng miền mục đích chỉ đạo bồi
dưỡng đội ngũ thực hiện đổi mới PPDH. Chính vì thế phong trào đổi mới PPDH theo
hướng tích cực hóa học tập của học sinh nhằm tạo điều kiện cho mọi học sinh được bộc
lộ, được phát triển được diễn ra sôi nổi, rầm rộ trên diện rộng. Trường Tiểu học số 2 Liên Thủy cũng đang hòa vào trong không khí phong trào đó.
Bằng nhiều việc làm trước mắt, lâu dài bằng nhiều tài liệu văn bản chỉ đạo như tài liệu
bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ III ( 2003-2007) tài liệu bồi dưỡng các Mô đun dành

tổng quát, thiết lập quy trình bồi dưỡng: Xác định nội dung trọng tâm cần bồi dưỡng,
chú trọng những điểm yếu, thiếu, đối tượng được bồi dưỡng, lực lượng tham gia bồi
dưỡng, hình thức bồi dưỡng, thời điiểm bồi dưỡng. ở trường tôi đã thực hiện như sau:
Ví dụ:
*Nội dung cần bồi dưỡng là : Kỹ năng tổ chức dạy trên lớp môn Tiếng Việt đi sâu
chuyên đề: Dạy Luyện từ và câu, Tập làm văn, Tập đọc, những vấn đề đội ngũ vướng
mắc, khó khăn.
* Đối tượng: Toàn thể cán bộ giáo viên đứng lớp , chú trọng những đồng chí yếu. * Hình thức bồi dưỡng : thông qua sinh hoạt chuyên môn, tổ chuyên môn, coi tổ
chuyên môn là hạt nhân, là nơi bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ hoặc thông qua dự
giờ kiểm tra thường xuyên.
* Xây dựng lực lượng bồi dưỡng
+ Ban giám hiệu (Phó hiệu trưởng trực tiếp chỉ đạo) .
+ Tổ chuyên môn.
+ Giáo viên dạy giỏi.
* Thời gian bồi dưỡng : Mỗi tuần sinh hoạt tổ chuyên môn một lần, mỗi tháng sinh
hoạt chuyên môn chung 1 lần. Tháng 9 đi sâu chuyên đề đổi mới PPDH môn Tiếng
Việt, triển khai hàng tháng có rút kinh nghiệm, đến tháng 4 tổng kết.
- Nội dung sinh hoạt tổ, sinh hoạt chuyên môn là phải có kế hoạch trước đưa vào quy
trình đầu năm, tuy nhiên có một số yêu cầu cần thiết giải đáp vướng mắc trong thực tế
thì chuyên môn chỉ đạo thay đổi, tiến hành kịp thời, phù hợp với điều kiện nhằm tạo
động lực thúc đẩy đội ngũ.
3- Chỉ đạo lập kế hoạch bài dạy, kỹ năng sư phạm tổ chức lớp học
a. Chỉ đạo lập kế hoạch dạy học ( Dạy cái gì? Dạy bằng cách nào? Đối tượng nào?
Thời lượng cho mỗi hoạt động? Phương tiện bổ trợ cho thực hiện PPDH : Từ đó định rõ
các hoạt động) nhằm đạt được mục tiêu kiến thức, kỹ năng của từng tiết học, môn học
phù hợp với đối tượng học sinh.
b. Dạy trên lớp: chú trọng hoạt động dạy học Tiếng Việt của thầy, trò để tích cực

nhanh, chậm. khỏe, trung thành.
Cách dạy dạng bài tập này là giáo viên phải chuẩn bị đồ dùng dạy học và phương
pháp sử dụng cụ thể :
+ GV vẽ phóng to tranh minh họa ở SGK - TV2-Tập 1, trang 142
+ 4 thẻ từ dùng để viết tên 4 con vật: Trâu, rùa, chó, thỏ
+ Thẻ từ viết 4 từ chỉ đặc điểm: nhanh, chậm, khỏe, trung thành
- GV tổ chức cho học sinh họat động cá nhân ( 100% HS đều được tham gia) sau đó
hướng dẫn HS lần lượt đối chiếu từng từ cho sẵn với hình ảnh tương ứng thông qua tổ
chức một trò chơi " gắn nhanh đúng, các từ chỉ đặc điểm phù hợp với con vật " ở bài
tập này đòi hỏi GV phải vận dụng đồ dùng thiết bị dạy học linh hoạt, hình thức phù hợp
giúp học sinh nắm được nghĩa biểu vật đồng thời được mở rộng thêm vốn từ về vật nuôi
với những con vật gần gũi, thân thuộc xung quanh các em.
* Dạy kiểu bài tập điền từ vào chỗ trống dạng từ có sẵn cần điền.
Bài: Từ ngữ về Bác Hồ ( trang 104 - TV2- tập 2)
- Bài tập 1: Chọn từ ngữ trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống: ( nhà sàn, râm bụt,
đạm bạc, tinh khiết)
Bác Hồ sống rất giản dị . Bữa cơm của Bác như bữa cơm của mọi người dân.
Bác thích hoa huệ, loài hoa trắng Nhà Bác là một ngôi khuất trong vườn Phủ Chủ
tịch. đường vào nhà trồng hai hàng , hàng cây gợi nhớ hình ảnh miền Trung quê
Bác. Sau giờ làm việc, Bác thường chăm sóc cây, cho cá ăn.
- Bằng các vật thật, tranh ảnh GV giúp học sinh hiểu nghĩa các từ cần thiết đã cho
sẵn.
- HS phải biết lựa chọn và kết hợp từ đã chọn với những từ đứng trước, đứng sau nó
trong chuỗi lời nói bằng hai thao tác cơ bản của hoạt động sử dụng từ ngữ. GV hướng
dẫn HS đọc các từ ngữ trong câu hoặc đoạn chưa hoàn chỉnh đã cho để sơ bộ nắm nội
dung các câu, đoạn, sau đó cho HS đọc các từ đã cho sẵn một lượt rồi lần lượt chọn và
điền từ ngữ cho sẵn vào từng chỗ trống. Xem từ nào có khả năng kết hợp với những từ
trong câu phù hợp với nghĩa của câu thì điền từ đó.
Phân môn luyện từ và câu đối với lớp 2 nói riêng và với các lớp khác nói chung hệ
thống bài tập, kiến thức kỹ năng được hình thành từ thấp đến cao vì vậy trong quá trình

câu dài:
- Trước hết, cần nghỉ hơi ở những chỗ có dấu kết thúc câu hoặc dấu ngăn cách các bộ
phận với câu (các dấu chấm, chấn hỏi, chấm lửng hoặc các dấu phẩy, chấm
phẩy ) người đọc cần nghỉ một khoảng bằng khoảng thời gian phát âm một tiếng.
Trong từng trường hợp dấu kết thúc câu đồng thời cũng kết thúc đoạn để xuống dòng,
quãng nghỉ sẽ dài gấp đôi khoảng nghỉ phát âm một tiếng.
- Bên cạnh những dấu kết thúc câu hoặc ngăn cách các bộ phận câu còn có một số
dấu câu có cách dùng đặc biệt, cụ thể là:
* Dấu chấm lửng thể hiện lời nói ngắt quãng:
- Ngắt quảng giữa một tiếng. Ví dụ: Bỗng một tiếng " kít ít" làm cậu sững lại
(Tiếng Việt 3, tập 1, trang 54) trong trường hợp này, người đọc không nghỉ hơi mà phải
phát âm kéo dài chỗ có dấu chấm lửng.
- Ngắt quảng giữa các tiếng hoặc từ . Ví dụ: Ông ơi cụ ơi ! Cháu xin lỗi
cụ.(Tiếng Việt 3, tập 1, trang 55) ; chúng cháu đánh giặc Mỹ đến một trăm năm cũng
không sợ, chỉ sợ một điều là Bác trăm tuổi ( Tiếng việt 3, tập 1, trang100). Trong
trường hợp này người đọc chỉ cần nghỉ hơi ở chổ có dấu chấm lững một quảng bằng
khoảng thời gian phát âm một tiếng.
* Dấu chấm lững làm giãn cách lời nói để chờ đợi một thông tin bất ngờ, VD :
Mặt trời mọc ở đằng Tây! (Tiếng việt 3, tập 2, trang 52). Trong trường hợp này
người đọc cần nghỉ ở chỗ có dấu chấm lửng một quãng bằng thời gian phát âm một
tiếng. * Dấu ngoặc kép đánh dấu một số từ ngữ được dẫn nguyên văn từ lời nói khác
hay những từ ngữ có cách hiểu đặc biệt . VD : Nghe tiếng " chui", viên tướng thấy chối
tai (Tiếng việt 3, tập 1, trang 38) ; Bãi cát ở đây từng ngợi ca là " Bà chúa của bãi tắm"
(Tiếng việt 3, tập 1, trang 109). Trong trường hợp này người đọc không nghỉ hơi mà
nhấn giọng những từ ngữ được đánh dấu.
* Sự nghỉ hơi diễn ra giữa những cụm từ dài để lời nói được mạch lạc rõ ràng.
VD: Khi dạy học sinh đọc bài Chú sẽ và bông hoa bằng lăng, có câu " mùa hoa này,

bổ sung thêm câu hỏi phụ có tác dụng gợi ý, dẫn dắt HS trả lời câu hỏi hoặc thực hiện
tốt hơn bài tập trong SGK. Ví dụ:
+ Câu hỏi 2 trong bài “Cái gì quý nhất”? (tuần 9) - Mỗi bạn đưa ra lý lẽ như thế
nào để bảo vệ ý kiến của mình? nêu tách thành 3 ý nhỏ để HS dễ trả lời : Hùng đưa ra
lý lẽ thế nào để bảo vệ ý kiến của mình? (Quý nhất là hạt gạo ). Quý đưa ra lý lẽ như thế nào để bảo vệ ý kiến của mình? (quý nhất phải là vàng ). Nam đưa ra lý lẽ như thế nào
để bảo vệ ý kiến của mình? (quý nhất là thì giờ)
+ Trước khi trả lời câu hỏi 2 trong bài “ Chuyện một khu vườn nhỏ ”(tuần 11) -
Mỗi loài cây trên ban công nhà bé Thu có những đặc điểm gì nổi bật? giáo viên yêu cầu
học sinhđọc thầmđoạn 2( có thể kết hợp cho học sinh đọc thành tiếng) và trả lời câu hỏi
phụ: Ban công nhà bé Thu trồng những cây gì? Sau khi HS nêu được tên 4 loài cây (cây
quỳnh, cây hoa ti gôn, cây hoa giấy, cây đa ấn Độ ). GV cho các em đọc thầm lại đoạn 2
để trả lời toàn bộ câu hỏi trên hoặc tách thành nhiều ý cho từng học sinh trả lời (nêu đặc
diểm nổi bật của từng loại cây).
Tuy nhiên GV cần thận trọng và cân nhắc kĩ để tránh đặt thêm những câu hỏi khai
thác nội dung vượt quá yêu cầu bài học, không phù hợp với trình độ lớp 5, nhất là
những câu hỏi về cảm thụ văn học.
- Bằng nhiều hình thức tổ chức khác nhau (làm việc cá nhân hoặc theo cặp, theo
nhóm ), GV tạo điều kiện cho HS luyện tập một cách tích cực: trả lời câu hỏi, diễn đạt
ý bằng câu văn gọn, rõ , dùng đúng từ. Sau khi HS nêu ý kiến, GV sơ kết ngắn ngọn,
nhấn mạnh ý chính và có thể ghi bảng (kết hợp cho HS ghi vào vở để rèn kĩ năng ghi
chép ở lớp 5 ).
c. Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc diễn cảm đối với HS lớp 5
- Sau khi HS đã tìm hiểu bài và nắm được nội dung, ý nghĩa của bài đọc. Muốn đọc
diến cảm một bài văn, phải tìm được giọng điệu ngữ điệu phù hợp với tình huống, thể
hiện được tình cảm, thái độ, đặc điểm của nhân vật hay thái độ của tác giả đối với nhân
vật và nội dung miêu tả trong văn bản . Dạy HS đọc diễn cảm, giáo viên cần hướng dẫn
các em luyện tập để từng bước đạt được yêu cầu theo mức độ từ thấp đến cao như sau:

Trong giờ dạy tập đọc đọc mẫu của GV được xem như là một trực quan cực kỳ quan
trọng nhằm tạo hứng thú và thu hút sự chú ý của HS. Vì vậy GV phải xác định được đọc
mẫu cái gì? đọc mẫu bao giờ? đọc mẫu như thế nào cho đúng với yêu cầu của bài dạy.
3. Phân môn Tập làm Văn
Ví dụ : Dạy bài Tập làm văn miêu tả ở lớp 4
* Mục đích : Rèn luyện kỹ năng cơ bản : quan sát đối tượng miêu tả, lựa chọn sắp
xếp ý, xây dựng đoạn bài, nhằm xây dựng kỹ năng, xây dựng văn bản hoàn chỉnh.
* Biện pháp : GV cần thực hiện tuân theo các yâu cầu cơ bản sau đây:
1. Rèn kỹ năng quan sát đối tượng miêu tả (Quan sát tỉ mỉ các bộ phận theo trình
tự hợp lý)
2-Kỹ năng lựa chọn sắp xếp ý để miêu tả: ( Chọn nét nổi bật, sắp xếp ý hợp lý theo
3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài)
3-Kỹ năng dựng đoạn, viết bài : mỗi đoạn văn miêu tả có một nội dung nhất định,
khi viết lời văn chân thực, giàu hình ảnh và cảm xúc, dùng các biện pháp nghệ thuật
nhân hóa, so sánh
* Lưu ý về cách diễn đạt:
1- Tả đồ vật : Thường dùng nhiều từ ngữ gợi tả hình dạng, đặc điểm, có thể so sánh
nhân hóa làm cho đồ vật thêm sinh động( anh, chị, bác. cô .chú )
2- Tả cây cối: Thường dùng những từ ngữ gợi tả hình dạng, màu sắc, hương thơm,
mùi vị, có thể sử dụng biện pháp liên tưởng, so sánh, từ láy
3- Tả con vật: Thường dùng những từ ngữ gợi tả hình dạng, màu sắc, âm thanh, từ
ngữ chỉ hoạt động, trạng thái của con vật có thể sử dụng biện pháp liên tưởng, so sánh
hay nhân hóa để miêu tả cho sinh động và bộc lộ mối quan hệ gần gũi với con người.
Với cách làm như trên, tôi đã triển khai rút kinh nghiệm, định hướng được nhiều tiết
dạy.Trong thực tế đã mang lại hiệu quả thiết thực cho đội ngũ các dạng bài khác nhau
và tiếp tục nhân lên diện rộng trên thực tế ở trường. Tồng số tiết thao giảng ở tổ chuyên
môn, phó hiệu trưởng dự giờ, rút kinh nghiệm là 42 tiết/ các phân môn, trên các lớp.
Với cách làm đó giúp cho đội ngũ cơ bản nắm khá tốt về tinh thần đổi mới PPDH
môn Tiếng Việt ở cấp Tiểu học nắm được kiến thức, kĩ năng, phương pháp, hình thức,
dạy các phân môn, biết vận dụng đổi mới kiểm tra đánh giá HS theo công văn số

kết quả học tập của học sinh mà phải tạo mọi điều kiện để các em tự đánh giá, đánh giá
lẫn nhau. Giáo viên luôn coi trọng năng lực, cá tính của học sinh.
-Để đảm bảo sự thành công của việc đổi mới PPDH môn Tiếng Việt, nhà trường cần
có sự đổi mới trong công tác quản lý chỉ đạo đảm bảo toàn diện. Đổi mới PPDH không
thể triền khai nếu không phát triển chuyên môn của đội ngũ giáo viên.
2 - Kết quả đạt được năm học 2006 -2007
* Chất lượng về học lực môn Tiếng Việt
Năm học
Giỏi Khá
Trung
bình
Yếu
TB trở
lên
Khá + Giỏi
SL % SL % SL % SL % SL % SL %
2006-2007 67 21,2

199 63,0 40 12,7

10 3,1

306 96,8

266 82,4

* Chất lượng về đội ngũ

Số giờ
dạy

Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi đã được áp dụng và đúc rút từ
thực tế chỉ đạo dạy học môn Tiếng Việt tại trường Tiểu học số 2 Liên Thủy. Đây chỉ là
bước khởi đầu không tránh khỏi những sơ suất sai sót. Để những kinh nghiệm này
được tiếp tục áp dụng, rút kinh nghiệm vào những năm học tới, tôi rất mong sự đóng
góp ý kiến của quý lãnh đạo cấp trên.

Liên thủy, ngày 22 tháng 5 năm
2007
Người viết

Đặng Thị Lan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status