SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC LÀM
VĂN THỂ LOẠI “TỰ SỰ KẾT HỢP
VỚI MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM” Họ tên người viết: Huỳnh Thời
Đơn vị công tác: Trường THPT Bàn Tân Định
Nhiệm vụ được phân công: Giảng dạy môn ngữ văn lớp 10 I. ĐẶT VẤN ĐỀ :
1.BỐI CẢNH ĐỀ TÀI :
Trong những năm gần đây ngành giáo dục đã có nhiều biện pháp để nâng
cao chất lượng. Nhà trường có vai trò quan trọng việc đào tạo con người phát
triển toàn diện. Đặc biệt giáo viên dạy môn ngữ văn là người có cơ hội nhiều
nhất để truyền cho học sinh mình những cái hay, cái đẹp, cái thi vị của cuộc đời,
của lẽ sống, của ngôn từ, của vẻ đẹp thiên nhiên cả trong quá khứ và hiện tại…
Giáo viên dạy văn cũng chính là người dẫn đường, hướng đạo giúp học sinh
khám phá thế giới nghệ thuật muôn màu, muôn vẻ của văn học.
Học văn là để làm người, để hiểu biết, suy ngẫm; để tỏ thế thái nhân tình,
tường sự đời hay dỡ. Học văn còn để khám phá các giá trị thẩm mỹ, giá trị nghệ
thuật của ngôn từ. Văn học cũng là nơi để các tác giả bày tỏ thế giới quan và
muốn được trao đổi thêm kinh nghiệm với quý anh chị em đồng nghiệp.
2. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Môn Ngữ văn trong nhà trường THPT nói chung và lớp 8,10 nói riêng
chiếm một số lượng tiết đáng kể:
Lớp 6: 35 tuần x 4 tiết / tuần = 140 tiết.
Lớp 7: 35 tuần x 4 tiết / tuần = 140 tiết.
Lớp 8: 35 tuần x 4 tiết / tuần = 140 tiết.
Lớp 9: 35 tuần x 5 tiết / tuần = 175 tiết.
Lớp 10 : 35 tuần x 3 tiết / tuần = 105 tiết.
Lớp 11 : 35 tuần x 3.5 tiết / tuần = 122.5 tiết.
Lớp 12 : 35 tuần x 3 tiết / tuần = 105 tiết.
Đối với học sinh, có thể nói phân môn tập làm văn là phân môn khó
nhất trong môn Ngữ văn, theo kết quả điều tra của bản thân tôi vào đầu năm học
bằng phiếu an-két sau đây:
Học phân môn tập làm văn: Thích
Không thích:
Năng lực học tập làm văn: Giỏi
Yếu:
Làm tập làm văn: Khó
Dễ
DẠY HỌC LÀM VĂN TỰ SỰ KẾT HỢP VỚI MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM”
3. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ TÀI :
ĐỀ TÀI :“ Biện pháp hướng dẫn học sinh làm văn tự sự kết hợp với miêu
tả và biểu cảm” ứng dụng trong việc dạy ngữ văn khối 6,8,10.
Phân môn tập làm văn lớp 8,10 tập trung đi sâu vào ba thể loại :văn bản
thuyết minh, văn tự sự kết hợp với miêu tả, văn nghị luận.
Thế nhưng làm thế nào để giúp học sinh làm tốt kiểu bài văn tự sự kết hợp
với miêu tả và biểu cảm ? Đó là câu hỏi mà tất cả giáo viên dạy ngữ văn đều
trăn trở, suy nghĩ. Bản thân tôi cũng cố gắng tìm hiểu và xin trình bày “Vài
biện pháp dạy học làm văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm ”. Với mong
muốn được trao đổi thêm kinh nghiệm với quý anh, chị, em đồng nghiệp.
Có thể nói trong các môn học trong nhà trường THPT, môn ngữ văn
đóng vai trò hết sức quan trọng, không những tạo tiền đề cho học sinh có kĩ
năng nghe, nói, đọc, viết tiếng việt khá thành thạo theo các kiểu văn bản và có
kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, tự sự bước đầu viết được văn
tự sự. Đồng thời còn giúp cho các em tiếp nhận các môn khoa học khác một
cách tốt hơn.
4. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI :
Thực hiện đề tài này tôi không có tham vọng gì hơn ngoài mục đích cung
cấp cho học sinh những kĩ năng làm văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm
để các em cải thiện được kĩ năng viết văn của mình nói riêng và để học tốt bộ
môn Ngữ văn nói chung.
II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: (NỘI DUNG )
1.CƠ SỞ LÍ LUẬN::
Dựa vào các sách tham khảo có liên quan đến đề tài, tôi đưa ra một số
kinh nghiệm, kĩ năng về làm văn tự sự để giúp các em tháo gỡ những khó khăn,
quan tâm giúp đỡ, chỉ đạo sâu sát của Ban Giám Hiệu trường. các anh chị đồng
nghiệp cho ý kiến tham khảo, bản thân được phân công giảng dạy nhiều năm
liền môn ngữ văn nên đã tích lũy được một số kinh nghiệm trong công tác giảng
dạy và bản thân tôi xét thấy năng lực cũng có thể làm được điều đó.
- Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ đáp ứng cơ bản cho việc dạy học.
Tuy nhiên, do thời gian không cho phép đề tài tôi chỉ nghiên cứu trong
giới hạn phạm vi trường THPT Bàn Tân Định với khối 6,8,10.
Tôi chân thành cảm ơn quý cấp lãnh đạo, quý đồng nghiệp đã giúp đỡ,
góp ý xây dựng những khiếm khuyết mà tôi chưa thấy hết. Xin chân thành cảm
ơn.
b.KHÓ KHĂN:
- Trường THPT Bàn Tân Định, thuộc vùng sâu, vừa mới thoát nghèo của Huyện
Giồng Riềng, đa phần học sinh là con em nông dân. Học sinh ý thức học tập
chưa cao. Các phương tiện giúp học sinh có thể tham khảo, tìm tòi học tập môn
ngữ văn còn hạn chế, từ đó học sinh gặp không ít khó khăn trong việc học tốt
môn ngữ văn.
- Học sinh học yếu từ tiểu học , lên lớp 6 học sinh còn viết chậm, đọc chậm.
- Còn một số ít học sinh không động não soạn bài, chỉ học theo cách đối phó,
phụ thuộc vào tài liệu, sách giải.
- Đa số học sinh không yêu thích môn ngữ văn, rất lười đọc sách. Mặt khác
cách lưa chọn nghề của môn học này cũng không phong phú như các môn học tự
nhiên. Do vậy tỉ lệ học sinh yêu thích và đầu tư vào môn học Ngữ văn chỉ chiếm
tỉ lệ rất thấp. Vì vậy các em chỉ học mang tính chất đối phó.
4.NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
Như đã nói ở phần trên, để làm văn tốt, đòi hỏi học sinh phải có nhiều
kiến thức, kĩ năng tổng hợp. Bài viết không có tham vọng đi sâu phân tích tất cả
các biện pháp cần thiết để góp phần nâng chất lượng dạy làm văn cho học sinh;
câu chuyện, giáo viên có thể giúp các em hoàn chỉnh và bắt đầu cho các em triển
khai bài văn. Chưa qua được bước này mà yêu cầu các em viết hẳn một bài văn
hoàn chỉnh thì quả thật, không hiểu các em sẽ viết gì ngoài việc sẽ lại bắt chước
đâu đó.
2. Lưu ý khi lập dàn ý:
Lập dàn ý tức tìm ý cho các phần của bài văn sẽ viết. Nội dung chính ở
các phần mở bài, thân bài và kết luận các em đã được học. Nhưng để tìm đủ ý
cho bài văn phải có kỹ thuật. Cần hướng dẫn các em xác định các ý chính (ý chủ
đề của các đoạn), sau đó từ các ý chính này mà triển khai các ý chi tiết. Để có ý
chính phải dựa trên kết câu câu chuyện định viết để xây dựng. Đây là một kỹ
thuật quan trọng trong việc viết văn. Rất đáng tiếc là nhiều giáo viên không
hướng dẫn học sinh kỹ bước này do vậy nhiều học sinh không thể lập nổi dàn ý
trước khi viết bài văn. Hậu quả là văn rất khó đọc.
Ngoài ra cần phải lồng ghép các ý miêu tả và biểu cảm vào dàn ý của bài
tự sự sao cho hợp lý, vừa mức. Việc xây dựng được một dàn ý hoàn chỉnh là rất
khó, bởi nếu có dàn ý tốt thì việc viết bài văn sẽ rất thuận lợi.
Ví dụ với đề bài trên, sau khi lập xong dàn ý cơ bản dựa trên kết cấu câu
chuyện và dàn bài đã được xây dựng, giáo viên cần hướng dẫn học sinh những
điểm có thể lồng ghép các ý miêu tả và biểu cảm trong bài viết như:
- Tả gương mặt, mái tóc của bạn; cách ăn mặc; giọng cười, tiếng nói dẫn
đến biểu cảm: Em rất thích, rất mến bạn.
- Tả một vài cảnh quê hương đặc sắc, dòng sông nước dâng, bông điên
điển vàng lay; cánh đồng xanh ngút ngàn, bơi xuồng câu cá dẫn đến biểu cảm:
Tình cảm thân thiết, gắn bó
- Tả những món quà trao nhau dẫn đến biểu cảm: Tình bạn thân với
những kỷ niệm đẹp
Như vậy, việc lựa chọn các ý miêu tả là phải nhằm hướng đến việc bày tỏ
cảm xúc, suy nghĩ; phục vụ cho nội dung bài viết. Đây cũng là căn cứ quan
trọng để lựa chọn hay bỏ bớt các tình tiết thừa trong câu chuyện.
Mở bài: Giới thiệu sự việc, nhân vật và tình huống xảy ra câu chuyện.
Theo đó học sinh cứ thế mà làm văn như: Em có nhiều kỷ niệm đẹp với
một người bạn thân (Giới thiệu sự việc). Em tên Hoàng còn bạn ấy tên Mai
(nhân vật). Em quen bạn ấy hồi còn ở tiểu học (Tình huống ).
Lối viết này khá phổ biến hiện nay và thường là không hiệu quả. Bài viết
của các em thường theo các lối mòn một cách khó hiểu, khó chỉnh sửa nên rất
khó tiến bộ. Do vậy, giáo viên cần khuyến khích các em cần xấy dựng kết cấu,
dàn bài và đặt vấn đề một cách sáng tạo. Ví dụ như:
“Chuyến xe tốc hành chuyển mình như một cơn lốc. Vậy là Mai đã theo
gia đình đi xa. Chia tay với một người bạn thân suốt thời tiểu học không ngờ lại
xúc động đến vậy. Đã nhủ là phải bình tĩnh nhưng sao khóe mắt vẫn cứ cay.
Những kỷ niệm đẹp về bạn không bao giờ mình quên được ”
Rõ ràng cách mở bài này hoàn toàn dựa vào kết cấu câu chuyện mới có
được, từ kết cấu mà sáng tạo, hành văn. Từ kết cấu mà có được bối cảnh không
gian, thời gian sáng tạo. Do vậy có thể nói, để có được một dàn bài hay, hợp lý,
đặc sắc nhất thiết phải nắm vững nhiệm vụ của từng phần, mà nhất là phải định
hướng, xây dựng kết cấu bài viết một cách hoàn chỉnh rồi từ trên trên cơ sở đó
mà sáng tạo, phát triển. Đây là một nguyên tắc mà các nhà văn, các nhà biên
kịch, đạo diễn vẫn phải thường làm trước khi sáng tác.
4./ Những lưu ý cần hướng dẫn học sinh khi viết văn tự sự:
Để viết văn tự sự, cần lưu ý các nội dung quan trọng như cốt truyện, ngôi
kể, các tình tiết chính, nhân vật, bối cảnh, hoàn cảnh của câu chuyện Ở mỗi
phần, cần phát triển, gài kết các ý văn miêu tả và biểu cảm làm cho câu chuyện
sinh động, có sức hấp dẫn thu hút.
- Ngôi kể độc thoại: Thường dùng “tôi”. Trong trường hợp câu chuyện là
của nhiều người, có liên quan đến một nhóm bạn thì có thể dùng “chúng tôi”.
Tuy nhiên nhân vật độc thoại vẫn phải giữ vai chính nên dùng ngôi kể “tôi” là
hợp lý nhất. Ngôi kể hội thoại, đối thoại có thể dùng “mình-bạn”, “tên-tên”.
Hoặc tùy câu chuyện cụ thể mà xưng hô cho phù hợp.
trời nắng, trời mưa, chớp bể mưa nguồn và thiên nhiên: cây vườn, bãi cỏ, con
sông, Không, hàng đầu miêu tả là chú trọng sự việc, con người”. Cảm nhận
của con người đối với các sự vật hiện tượng thường mang tính chủ quan, cá
nhân; mang màu sắc đánh giá riêng tư. Cùng đối với một sự vật, hiện tượng
nhưng khi vui hoặc buồn, ta thường có cảm nhận khác nhau. Khi miêu tả, người
viết phải lồng được cảm xúc đó vào trong câu văn, đoạn văn và chuyển cảm xúc
ấy tới người đọc; tác động tới tâm hồn, nhận thức của người đọc. Bởi nếu chỉ
miêu tả thông thường thì câu văn sẽ không có hồn, trung tính và do vậy sẽ rất
khó thu hút, lôi cuốn người đọc.
Cần giúp học sinh nhận thức được mức độ biểu cảm trong câu văn miêu tả
thể hiện bản lĩnh, đẳng cấp quan sát của người viết. Trong các ví dụ dưới đây, ta
thấy rõ điều đó.
Khi viết “trăng tròn”, ta có ý văn miêu tả, thể hiện sự quan sát thông
thường, đánh giá sự vật bằng thị giác, bằng đôi mắt thật.
Trăng tròn như cái đĩa: Câu thơ đã được nâng lên ở mức độ miêu tả so
sánh, liên tưởng đến một vật khác gần gũi và do vậy gợi cho người đọc, người
nghe sự thân thiết gần gũi với mặt trăng hơn nhưng vẫn chỉ ở mức độ miêu tả
bằng mắt.
Nhưng khi Nguyễn Du viết “Vầng trăng ai xẻ làm đôi” (Miêu tả vầng
trăng hạ tuần, chỉ nhìn thấy một nửa), thì tác giả không chỉ miêu tả bằng mắt
(nửa vầng trăng) mà còn bằng cả nội tâm, bằng chiều sâu của tư duy và xúc
cảm, bằng tình cảnh chia ly của Thúy Kiều và Kim Trọng (ai xẻ làm đôi).
Ở một cấp độ khác, ta thấy có trường hợp không miêu tả bằng mắt, bằng
sự quan sát mà là bằng sự chiêm nghiệm, trải nghiệm. Đây là trường hợp miêu tả
“Nhìn cũng không thấy” và đó là một góc nhìn “có đẳng cấp” khác của nghệ
thuật sử dụng ngôn từ.
Khi nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa viết:
“Ngoài thềm rơi chiếc lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”
tuỳ tiện như trước đây.
- Một số em đã biết sử dụng khá tốt phương thức miêu tả kết hợp biểu
cảm trong thể văn tự sự. Lời văn ngày càng chân thật hơn, trong sáng hơn. Bước
đầu thoát được lối mòn trong việc dùng lời lẽ, hình ảnh của các bài văn mẫu.
Điều mà lâu nay tôi vẫn thường lên án và cố gắng khuyên các em tránh.
- Thái độ học tập của học sinh được nâng lên rõ nét. Nhiều em đã thích
văn hơn. Khi đọc các mẫu chuyện (sách giáo khoa hoặc sách báo trong thư
viện) các em đã cảm nhận được cái hay về bố cục, về kết cấu, về cách hành văn,
dẫn dắt câu chuyện, về cách dùng từ, đặt câu Đây là những dấu hiệu rất đáng
mừng bởi các em sẽ học tập được rất nhiều.
- Một số em đã có thói quen luyện viết, tập viết nhật ký, làm thơ, viết các
đoạn văn báo tường, lưu bút
- Hiện tượng sợ văn, ngán văn đã giảm đáng kể. Đối với các học sinh yếu
do được giáo viên động viên nên các em tự tin và tự mình có thể viết được
những đoạn văn ngắn.
- Kết quả học tập chung môn ngữ văn kỳ 1 như sau:
Tổng số học sinh 2 lớp: 69 em
Giỏi : Không
Khá : 6 tỉ lệ 8,69 %
Trung bình : 35 tỉ lệ 50,72 %
Yếu, kém :28 tỉ lệ 40,57 %
- Sau khi áp dụng đề tài sáng kiến kinh nghiệm chung môn ngữ văn ở 2
lớp có kết quả như sau:
Giỏi : Không
Khá : 10 tỉ lệ 14,5 %
TB : 40 tỉ lệ 58 %
Yếu, kém : 19 tỉ lệ 27,5 %
Còn một số học sinh yếu và trung bình yếu. Đây là những em mất căn bản
từ lớp dưới. Hiện tôi cũng đang quan tâm bồi dưỡng, giúp đỡ các em và hy vọng
+Lập dàn ý:
+Viết văn tự sự kết hợp với yếu tố miêu tả và biểu cảm.
Tôi nghĩ rằng, mỗi giáo viên ngữ văn đều mong muốn học sinh của mình
làm văn tốt, yêu thích văn. Thế nhưng con đường hướng đến mục tiêu đó luôn
có nhiều trở ngại. Hy vọng bài viết này góp phần tháo gỡ một vài khó khăn, gợi
ra được vài định hướng giúp cho việc hướng dẫn học sinh viết thể loại văn tự sự
kết hợp miêu tả và biểu cảm ngày càng tốt hơn.
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các anh chị em đồng nghiệp.
Bài học kinh nghiệm:
Để giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự đòi hỏi người giáo viên cần phải
có tâm huyết, kiên trì hướng dẫn, uốn nắn học sinh quy trình làm bài văn…
Kiến nghị:
-Nhà trường cung cấp đồ dùng dạy học (chân dung các tác giả).
Trên đây chỉ là những ý kiến chủ quan của cá nhân tôi, sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp của Ban Giám Hiệu, của tổ
chuyên môn và sự góp ý của các bạn đồng nghiệp tạo điều kiện cho tôi thêm
nhiều kinh nghiệm quý báu trong giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục.
Tôi xin chân thành cám ơn!
Bàn Tân Định, ngày 2 tháng 5 năm 2012
NGƯỜI VIẾT
Huỳnh Thời
Hướng dẫn học sinh phân tích đề và xây dựng kết cấu câu
chuyện
Trang 7
Lưu ý khi lập dàn ý Trang 7
Những lưu ý khi xây dựng dàn ý Trang 8, 9
Hướng dẫn học sinh viết văn tự sự Trang 10
Luyện viết văn miêu tả kết hợp với biểu cảm Trang 11
Kết quả đạt được Trang 12
Kết luận Trang 13,14
Bài học, kiến nghị Trang 14
Giới thiệu tài liệu tham khảo Trang 15
Mục lục Trang 16