SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN, VĂN
HỌC TRUNG ĐẠI Ở TRƯỜNG THPT"
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Văn nghị luận là thể loại văn: “Viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực
đời sống khác nhau: chính trị, triết học, kinh tế, văn hoá…Mục đích của văn nghị luận là
bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó
nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích của một tầng lớp, một giai cấp nhất định…Đặc trưng
cơ bản của văn nghị luận là tính chất luận thuyết - khác với văn học nghệ thuật, văn
chương nghị luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lý
lẽ…” (Từ điển thuật ngữ Văn học - NXB Đại học Quốc Gia, 4/1999)
Trên thế giới và Việt Nam văn chương nghị luận có lịch sử từ rất lâu đời, nó không chỉ
có ý nghĩa đối với những vấn đề lớn lao của đất nước, thời đại như công cuộc giữ nước,
dựng nước, canh tân đất nước mà cũng rất gần gũi và có ý nghĩa trong đời sống con
người. Đã có rất nhiều áng văn trở thành mẫu mực, bất hủ của từng dân tộc và trên toàn
thế giới.
Trước đây do quan niệm phiến diện về văn học nên nhiều người cho rằng văn chương
chỉ bao gồm những sáng tác bằng tưởng tượng, hư cấu mà ít nghĩ đến văn nghị luận.
Hoặc có nghĩ đến thì lại cho rằng đây là thể loại thường đề cập đến những tư tưởng cao
siêu, trừu tượng, lập luận khô, diễn đạt khó nên không hấp dẫn. Do vậy văn nghị luận rất
ít được đưa vào chương trình phổ thông, có chăng chỉ một vài tác phẩm nghị luận trung
đại (Sông núi nước Nam, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo) và hiện đại (Tuyên ngôn độc
lập) ở cả hai cấp học (theo quan điểm đồng tâm mở rộng).
2
Hiện nay do thấy được vai trò quan trọng của văn nghị luận. Nên các nhà nghiên cứu
và biên soạn sách đã tuyển chọn một số văn bản nghị luận hay, có giá trị vào dạy trong
chương trình phổ thông với nhiều thể loại và đa dạng về đề tài…. đặc biệt là trong
chương trình Ngữ văn bậc THPT.
biểu có giá trị nhất trong lịch sử giữ nước, dựng nước thời phong kiến. Nó là “tiếng của
cha ông thuở trước”, góp phần xứng đáng làm nên và hun đúc những truyền thống quý
báu của dân tộc. Nó là quyền tự hào chính đáng của mỗi người Việt Nam chúng ta.
Sách Ngữ văn 10 và Ngữ văn 11, phần văn học trung đại đã tăng một số lượng đáng kể
những văn bản nghị luận. Coi trọng đúng mức những tác phẩm văn học chính luận,
những tác phẩm có màu sắc học thuật để tăng cường, tô đậm bản chất văn hoá của văn
học.
Đưa thêm văn nghị luận, tăng cường bản chất văn hoá của văn học là để giúp học sinh
vận dụng văn học vào cuộc sống. Văn nghị luận gắn với học sinh giúp các em về phương
pháp tư duy, cách lập luận đến cách viết bài văn nghị luận…
Phần 2: Thực trạng của vấn đề
2.1. Thực trạng chung:
Về cơ bản văn nghị luận là sản phẩm của tư duy lôgíc. Nhưng vẻ đẹp của một áng
văn nghị luận không chỉ thể hiện ở những tư tưởng đúng đắn, sâu sắc mà còn ở hình thức
lập luận phong phú, lý lẽ đanh thép, giọng điệu thuyết phục. Hiện nay mặc dù
những tác phẩm văn nghị luận trung đại đưa vào chương trình học đều là những tác phẩm
có giá trị cao về nội dung và nghệ thuật, nhưng thực tế trong quá trình giảng dạy cả giáo
viên và học sinh mới chỉ đi đúng, hiểu đúng những quan điểm tư tưởng của tác giả (chú ý
khai thác nội dung) mà chưa chú ý đến vẻ đẹp về hình thức nghệ thuật của các tác phẩm.
5
Vì thế việc dạy các tác phẩm nghị luận, đặc biệt là nghị luận xã hội thường khó, không
mấy hấp dẫn đối với cả giáo viên và học sinh.
2.2. Thực trạng đối với giáo viên:
- Thực tế cho thấy, không ít giáo viên có tâm lí không mặn mà, ít hứng thú khi dạy văn
bản nghị luận. Nhiều giáo viên cho rằng văn bản nghị luận khô khan, khó cảm nhận, khó
truyền được hứng thú cho học sinh. Do đó, dẫn đến việc dạy sơ sài, thiếu tìm hiểu sâu,
thiếu đầu tư cho tiết dạy này. Với thực tế đó, hiệu quả giờ dạy văn bản nghị luận khó đạt
được như yêu cầu đặt ra.
- Khi thực hiện chương trình sách giáo khoa Ngữ văn mới, nhiều đồng chí giáo viên còn
cảm thấy lúng túng về phương pháp dạy đọc - hiểu một số văn bản nghị luận trung đại vì
bản thân và hướng dẫn cho học sinh cách đọc tác phẩm của tiền nhân đúng với thi pháp
của một thời đại, phù hợp với ngữ cảnh sản sinh văn bản. Do đó, phương pháp dạy tích
hợp trở thành nguyên tắc quan trọng không thể thiếu.
Để dạy - đọc hiểu các văn bản nghị luận trung đại theo hướng tích hợp, tôi đã làm như
sau :
a. Xác định trọng tâm kiến thức cần đạt trong bài dạy.
b. Xác định đặc điểm nổi bật của thể loại.
7
c. Xác định nội dung kiến thức cần tích hợp (Xác định kiến thức của bài có liên quan đến
bài nào học sinh đó học và sắp học).
d. Xây dựng hệ thống câu hỏi tích hợp.
- Đặc điểm nghệ thuật nổi bật của các văn bản nghị luận là hệ thống luận điểm, luận cứ
hết sức rõ ràng, mạch lạc, lập luận rất chặt chẽ thế nhưng khi đọc xong văn bản, học rất
mơ hồ về điều này. Vậy khi dạy, chúng ta phải làm thế nào để khắc phục được hiện tượng
trên? Theo tôi giải pháp là sử dụng sơ đồ hoá nội dung bài học theo cấu trúc tầng bậc.
Làm như vậy, vừa khái quát hoá nội dung bài học một cách ngắn gọn, khoa học vừa
khiến cho học sinh dễ nhớ, khắc sâu được kiến thức.
- Các văn bản nghị luận trung đại thường mang đặc điểm của văn học trung đại: sử dụng
điển tích, điển cố, ngôn từ mang tính ước lệ, tượng trưng, hệ thống từ Hán Việt xuất hiện
dày đặc. Học sinh sẽ rất khó khăn khi đọc hiểu văn bản nếu không hiểu được các điển
tích, điển cố và những từ khó mà tác giả đó sử dụng. Do vậy khi dạy đọc - hiểu các văn
bản nghị luận trung đại, cần yêu cầu và hướng dẫn học sinh đọc và tìm hiểu phần chú
thích ở cuối mỗi trang của văn bản.
3.2. Tổ chức thực hiện:
3.2.1. Dạy đọc - hiểu văn bản nghị luận trung đại theo hướng tích hợp
3.2.1.1. Thế nào là dạy đọc - hiểu theo hướng tích hợp?
- Tích hợp ngang:
Tích hợp theo cả ba phần Văn, Tiếng Việt, Làm văn trong một đơn vị bài học.
- Tích hợp dọc:
Tích hợp theo từng vấn đề – vấn đề đang dạy ở phần này có liên hệ đến các nội dung
khiến thơ văn không lưu truyền hết ở đời ?
(Với câu hỏi này, giáo viên đã giúp học sinh phát hiện được: ở luận điểm một tác giả đã
nêu ra sáu lí do làm cho thơ văn không lưu truyền hết ở đời.
* Bốn lí do chủ quan:
+ Chỉ có thi nhân mới thấy được cái hay, cái đẹp của thơ ca.
+ Người có học thì ít để ý đến thơ ca.
+ Người quan tâm đến thơ ca thì không đủ năng lực và kiên trì.
+ Chính sách in ấn của nhà nước còn hạn chế.
* Hai lí do khách quan:
+ Thời gian làm huỷ hoại sách vở.
+ Chiến tranh, hoả hoạn làm sách vở rách nát, mai một.)
• Câu hỏi 3: Từ việc tìm hiểu các lí do trên, em thấy tác giả chọn cách lập luận nào
để luận chứng?
(Tác giả phân tích những luận cứ cụ thể về các mặt khác nhau để lí giải bản chất của hiện
tượng, vấn đề.)
• Câu hỏi 4: Tại sao tác giả không bắt đầu bài tựa bằng cách trình bày những công
việc sưu tầm của mình mà lại giải quyết trước luận điểm: Nguyên nhân làm cho thơ văn
không lưu truyền hết ở đời?
10
(Câu hỏi này giúp học sinh nhận ra rằng: Sở dĩ tác giả mở đầu bằng luận điểm trên vì hai
lí do:
- Đó chính là luận điểm quan trọng nhất của bài tựa.
- Bởi ông muốn nhấn mạnh việc làm sưu tầm, biên soạn cuốn sách là xuất phát từ
yêu cầu cấp thiết của thực tế chứ không chỉ từ sở thích cá nhân và đó là công việc khó
khăn vất vả nhưng nhất định phải làm.)
• Câu hỏi 5: Trước những nguyên nhân làm cho thơ văn không lưu truyền hết ở đời,
tâm trạng của tác giả ra sao? Những từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện tâm trạng đó?
• Câu hỏi 6: Tìm những từ ngữ thể hiện thái độ của tác giả khi sưu tầm biên soạn
sách?
=> Qua việc sử dụng các câu hỏi trên khi dạy đọc hiểu văn bản “Trích diễm thi tập”, ta
những người ẩn dật uổng phí tài năng, hoặc những người làm quan nhưng còn nghi ngại,
kiêng dè, giữ mình mà không dám nói thẳng.
- Tích hợp với Tiếng Việt để giúp học sinh thấy được việc sử dụng từ ngữ chính xác,
giàu giá trị biểu đạt, biểu cảm của văn bản nghị luận trung đại.
12
VD: Phân tích ý nghĩa nhan đề “Chiếu cầu hiền”, cần làm nổi bật tác dụng biểu đạt, biểu
cảm của từ “cầu”: Tại sao tác giả lại sử dụng từ “cầu” chứ không phải là từ “mời” hoặc
“gọi”?
Câu hỏi này giúp học sinh thấy được giá trị biểu đạt của từ ngữ: “Cầu” thể hiện sự mong
mỏi đồng thời là thái độ trân trọng và đề cao đối tượng mà vua Quang Trung muốn
hướng tới, còn “mời” hay “gọi” mang sắc thái tình cảm bình thường.
- Trong văn nghị luận trung đại cũng sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật phong phú để thể
hiện cảm hứng của chủ thể sáng tạo và tạo nên tính hình tượng cùng sắc thái trữ tình của
tác phẩm. Tính hình tượng của văn nghị luận trung đại thường thể hiện ở cấp độ ngôn từ,
ở cách diễn đạt tu từ
Ví dụ: Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” đã sử dụng thành công nghệ thuật so sánh,
cường điệu để diễn tả sức mạnh của nghĩa quân: “Gươm mài đá, đá núi cũng mòn. Voi
uống nước, nước sông phải cạn” và sự thảm bại nhanh chóng của kẻ thù: “Cơn gió to
quét sạch lá khô, tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ”
Khi phân tích văn bản giáo viên chỉ ra được điều này thì đồng nghĩa với việc giúp học
sinh củng cố lại kiến thức về các biện pháp nghệ thuật tu từ mà các em đã được học ở lớp
dưới.
*/ Tích hợp theo cụm thể loại
- Việc tích hợp theo cụm thể loại giúp học sinh hình thành được tri thức về thể loại và
vận dụng được những tri thức đọc hiểu về thể loại đó.
- Một số ví dụ
13
+ VD1: Dạy bài “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm, nên yêu cầu học sinh về nhà xem
trước lại bài : “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn đã được học ở Lớp 8.
Khi dạy ở trên lớp, ta có thể đặt câu hỏi: “Qua bài “Chiếu dời đô” đã được học ở Lớp
làm
3.2.3. S dng phn chỳ thớch cui mi trang ca vn bn
- S dng phn chỳ thớch cui mi trang ca vn bn s giỳp hc sinh hiu rừ ý ngha
ca nhng t ng m tỏc gi s dng, qua ú hiu rừ hn ni dung ý ngha ca vn bn.
+ VD1: Da vo phn chỳ thớch cui trang, em hóy gii thớch nhan vn bn: Trớch
dim thi tp?
Nu khụng da vo chỳ thớch cui trang, hc sinh khú m hiu c rng:
* Trớch: trong ting Hỏn l chn hỏi mt bụng hoa p, hay tuyn chn.
* Dim: Ch s kiu dim, dim l, ch cỏi hay, cỏi p mc cao.
* Thi l th, dim thi l nhng bi th hay.
Vy Trớch dim thi tp l tp th tuyn chn nhng bi th hay.
+ VD2: Da vo phn chỳ thớch cui trang, em hóy gii thớch nhan vn bn: Hin
ti l nguyờn khớ ca quc gia?
HS trả lời theo định hớng:
* Hiền tài: ngời có tài, có đức, tài cao, đức lớn.
* Nguyên khí: khí chất ban đầu làm nên sự sống còn và phát triển của sự vật.
-> Mi quan hệ giữa hiền tài với sự thịnh suy của đất nớc.
Son bi mu
16
Tiết: 23+24
Đọc văn: CHIẾU CẦU HIỀN
(Cầu hiền chiếu)
- Ngô Thì Nhậm
A- Mục tiêu bài học
1. Kiến thức:
- Hiểu được tầm tư tưởng mang tính chiến lược, chủ trương tập hợp nhân tài để xây dựng
đất nước của vua Quang Trung, một nhân vật kiệt xuất trong lịch sử nước ta. Qua đó HS
nhận thức được tầm quan trọng của nhân tài đối với quốc gia
- Thấy được cách diễn đạt tinh tế bằng lời lẽ vừa tâm huyết vừa có sức thuyết phục cao và
- 1775 đỗ tiến sỹ, từng làm quan dưới
thời Lê Cảnh Hưng
- Khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần 2, ông đã
theo giúp Tây Sơn. 1788, Nguyễn Huệ
lên ngôi, Ngô Thì Nhậm được cử làm
Thị lang bộ lại. Là người được nhà vua
tin dùng giao cho soạn thảo giấy tờ quan
trọng.
2) Tác phẩm
a- Hoàn cảnh sá ng tá c:
- 1788 Quang Trung tiến quân ra Bắc,
tiêu diệt quân Thanh và bọn tay sai.Nhà
18
“Chiếu cầu hiền” là những ai?
- Thao tác 3: Tìm hiểu thể loại
+ GV : Qua bài “Chiếu dời đô”
đã được học ở Lớp 8, em hiểu
như thế nào là thể chiếu?
Hoạt động 2:
- Thao tác 1: Gv hướng dẫn đọc
Giọng đọc rõ ràng, mạch lạc,
chú ý thể hiện tình cảm của
người xuống chiếu: lời lẽ nhún
nhường, tâm huyết, giàu sức
thuyết phục
Lê sụp đổ.
- Bề tôi nhà Lê mang nặng tư tưởng
trung quân, phản ứng tiêu cực: bất hợp
tác, thậm chí chống lại phong trào Tây
Sơn.
đã xuất phát từ điều gì, dẫn dắt
ý ra sao?
Cách nêu vấn đề như vậy có tác
dụng gì?
*) Bố cục:
a- Luận điểm 1: “ Từng nghe…người
hiền vậy”: mối quan hệ giữa người hiền
và vua.
b- Luận điểm 2: “Trước đây…lẩn tránh
suốt đời”: ứng xử của người hiền khi
Quang Trung ra Bắc.
c- Luận điểm 3: “Nay trẫm…hay sao?”:
Tấm lòng của Quang Trung với hiền tài.
d- Luận điểm 4: phần còn lại: Cách cầu
hiền của Quang Trung.
2. Phân tích:
a- Mối quan hệ giữa người hiền và
nhà vua
* Tác giả ví người hiền “như sao sáng
trên trời”, thiên tử là sao Bắc thần. Quy
luật vận động của vũ trụ là tinh tú chầu
về Bắc thần.
- Vai trò trọng đại của người hiền.
- Tạo cảm giác trang trọng thiêng
20
- HS trao đổi, trả lời
+ GV: Việc mở đầu có ý nghĩa
như thế nào đối với mục đích
cầu hiền?
đầu cho bài văn nghị luận của
mình?
- HS liên hệ
+ GV: Trong đoạn văn từ
“Trước đây” đến “phụng sự
vương hầu chăng?”, tác giả đã
sử dụng bao nhiêu điển tích,
điển cố? Nội dung mà chúng
biểu hiện là gì?
- Việc sử dụng chúng kết hợp
với các câu hỏi tu từ đó đem lại
hiệu quả nghệ thuật như thế nào
cho bài chiếu?
- HS theo dõi đoạn văn bản và
phát hiện các điển tích, điển cố
b- Ứng xử của người hiền khi Quang
Trung ra bắc
- 9 điển tích, điển cố thể hiện nội dung:
+ Một số người bỏ đi ở ẩn.
+ Một số người trốn tránh giấu mình.
+ Những người đó ra làm quan thì sợ
hãi, hoặc im lặng như bù nhìn “kiêng dè
không dám lên tiếng”, hoặc làm việc
cầm chừng như kẻ “gõ mõ canh cửa”
+ Một số lại đi tự tử, “ra biển vào sụng”
-> Đa số nho sĩ Bắc Hà không đem tài
năng ra phò tá triều Tây Sơn.
- Tác giả không nói thẳng ra điều trên
mà dùng hình ảnh hoặc lấy trong kinh
chiếu chứ không ngồi chính giữa vì còn
đợi người hiền tài)
- “Cầu hiền”-> Sự khiêm tốn, tấm lòng
chân thành, khao khát người hiền tài của
Quang Trung.
- Hai câu hỏi đặt ra tình thế lưỡng phân
hoặc thế này, hoặc thế kia. Cả 2 đều
không đúng với thực tế lúc bấy giờ. Vậy
thì chỉ còn cách ra giúp triều đại mới.
- Lí do phải cầu hiền.
+ Những khó khăn và nhiệm vụ mới
chồng chất, phức tạp của triều đình.
+ Một mình nhà vua không thể làm hết,
23
+GV: Tác giả đã đưa ra những
lí do nào khiến vua phải cầu
hiền?
Em có nhận xét gì về lời lẽ của
người viết và cách lập luận ở
đoạn này?
- HS trao đổi, trả lời
+GV: Quang Trung đó đưa ra
cách cầu hiền như thế nào ở
luận điểm tiếp theo?
Em có nhận xét gì về cách cầu
hiền đó?
+GV: Theo em những bậc hiền
tài thời Quang Trung sẽ có thái
độ ra sao sau khi đọc “Chiếu
cầu hiền”?
Triều đại Tây Sơn chỉ tồn tại
đến năm 1802 trong cảnh hỗn
chiến. Vì thế chiếu cầu hiền chỉ
mang ý nghĩa như một văn kiện
lịch sử, một tư liệu lịch sử của
một triều đại vang bóng).
đất nước ngày một thêm cường thịnh.
- Bài chiếu còn thể hiện một tư tưởng
tiến bộ của vị vua anh minh đại diện cho
nông dân với chính sách chiêu mộ người
tài bằng những lý lẽ thuyết phục được
minh họa bằng những dẫn chứng thực tế
chứ không phải bằng giọng điệu ra lệnh
của kẻ bề trên.
25