MỤC LỤC Trang
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
2
1. lý do chọn đề tài 2
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 3
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
4
Phần 1: Cơ sở lí luận 4
Phần 2: Thực trạng vấn đề 4
2.1. Thực trạng chung 4
2.2. Thực trạng đối với giáo viên 4
2.3. Thực trạng đối với học sinh 5
Phần 3: Giải pháp và tổ chức thực hiện 5
3.1. Giải pháp 5
3.2. Tổ chức thực hiện 6
Phần 4: Kiểm nghiệm 16
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
18
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Văn nghị luận là thể loại văn: “Viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều
lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, triết học, kinh tế, văn hoá…Mục đích của
văn nghị luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một tư
tưởng, một quan điểm nào đó nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích của một tầng
lớp, một giai cấp nhất định…Đặc trưng cơ bản của văn nghị luận là tính chất
luận thuyết - khác với văn học nghệ thuật, văn chương nghị luận trình bày tư
tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lý lẽ…” (Từ điển thuật
2
-
Đối tượng sử dụng đề tài:
Các em học sinh lớp 11A6 và 11A9 năn học 2010 -
2011; lớp 10A9, 11A1, 11A2, 11A3 trường THPT Bá Thước năm học 2011 -
2012
4. Phương pháp nghiên cứu
- Tổng kết kinh nghiệm
- Nghiên cứu tài liệu: các loại sách tham khảo, tài liệu tham khảo về văn nghị
luận trung đại, phương pháp dạy văn nghị luận ở trường THPT.
- Xác định đối tượng học sinh áp dụng đề tài
- Kiểm tra sự tiếp thu của học sinh bằng bài tập về nhà và các đề ôn tập.
- Đánh giá, đưa ra sự điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.
3
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Phần 1: Cơ sở lí luận
Văn nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong đời sống xã
hội của con người, có vai trò rèn luyện tư duy lôgic, năng lực biểu đạt những
quan niệm, tư tưởng sâu sắc trước đời sống.
Văn chương trung đại là phần đã được đánh giá ổn định. Đó là những tác
phẩm tiêu biểu có giá trị nhất trong lịch sử giữ nước, dựng nước thời phong kiến.
Nó là “tiếng của cha ông thuở trước”, góp phần xứng đáng làm nên và hun đúc
những truyền thống quý báu của dân tộc. Nó là quyền tự hào chính đáng của mỗi
người Việt Nam chúng ta.
Sách Ngữ văn 10 và Ngữ văn 11, phần văn học trung đại đã tăng một số lượng
đáng kể những văn bản nghị luận. Coi trọng đúng mức những tác phẩm văn học
chính luận, những tác phẩm có màu sắc học thuật để tăng cường, tô đậm bản chất
văn hoá của văn học.
Đưa thêm văn nghị luận, tăng cường bản chất văn hoá của văn học là để giúp
học sinh vận dụng văn học vào cuộc sống. Văn nghị luận gắn với học sinh giúp
2.3. Thực trạng đối với học sinh:
Về phía học sinh, do chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá các tác
phẩm; bởi việc đọc - hiểu văn bản văn học trung đại đã khó thì việc đọc - hiểu
một văn bản nghị luận trung đại càng khó hơn. Vì trong văn bản nghị luận trung
đại, tư tưởng của tác giả khó nắm bắt bởi cách viết hàn lâm, với hệ thống điển
tích, điển cố dày đặc Điều đó, càng đọc học sinh càng không hiểu bởi vốn kiến
thức hạn chế, từ ngữ “xa lạ”.
Đặc biệt là khả năng lập luận trong văn nghị luận của học sinh hiện nay rất yếu,
nhiều em khi viết bài văn tỏ ra rất lúng túng, thậm chí chưa xác lập được một hệ
thống luận điểm, luận cứ một cách rõ ràng và xác đáng, biến bài văn của mình
thành một “rừng văn”, “bè văn”. Trong khi những bài văn nghị luận trung đại
trong sách giáo khoa Ngữ văn có thể coi là những bài văn nghị luận mẫu mực
trong cách lập luận. Việc dạy đọc - hiểu tốt các văn bản nghị luận trung đại sẽ
góp phần rất lớn vào việc rèn luyện và nâng cao kĩ năng lập luận trong văn nghị
luận của học sinh, giúp học sinh có hứng thú học tập và tác phẩm sẽ không còn
bị đóng băng trong lớp sương nghệ thuật trung đại.
Phần 3: Giải pháp và tổ chức thực hiện:
3.1. Giải pháp:
- Văn nghị luận trung đại ra đời trong bối cảnh văn hoá - xã hội phong kiến
chịu sự chi phối bởi hệ tư tưởng chính thống cũng như quan niệm văn chương
của thời đại. Trong quá trình dạy học, giáo viên một mặt phải tôn trọng tính
chỉnh thể của văn bản, bám sát văn bản để hướng dẫn học sinh đọc – hiểu, mặt
khác để hiểu thấu đáo các luận điểm và cách thức lập luận của tác giả trung đại,
giáo viên phải trau dồi tri thức văn hoá đọc cho bản thân và hướng dẫn cho học
sinh cách đọc tác phẩm của tiền nhân đúng với thi pháp của một thời đại, phù
hợp với ngữ cảnh sản sinh văn bản. Do đó, phương pháp dạy tích hợp trở thành
nguyên tắc quan trọng không thể thiếu.
Để dạy - đọc hiểu các văn bản nghị luận trung đại theo hướng tích hợp, tôi đã
làm như sau :
a. Xác định trọng tâm kiến thức cần đạt trong bài dạy.
điểm, luận cứ rõ ràng, mạch lạc và cách lập luận chặt chẽ nên khi dạy đọc - hiểu
các văn bản nghị luận trung đại, tôi đặc biệt chú trọng tới việc tích hợp với phân
môn Làm văn. Từ đó nhằm củng cố, rèn luyện và nâng cao khả năng lập luận
trong văn nghị luận của học sinh
- Điều này trước hết được thể hiện ở việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu bố cục
của văn bản nghị luận trung đại.
Nếu trong các loại văn bản khác ta thường hỏi: “Sau khi tìm hiểu văn bản, em
thấy văn bản có thể chia làm mấy phần? Nội dung của từng phần?” thì đối với
các văn bản nghị luận không nên hỏi như vậy vì không khai thác được đặc điểm
nổi bật của thể loại nghị luận. Vậy giáo viên phải đặt câu hỏi như thế nào đây?
Khi dạy văn bản: “Trích diễm thi tập” của tác giả Hoàng Đức Lương, tôi đặt
câu hỏi như sau: Theo em, văn bản “Trích diễm thi tập” gồm mấy luận điểm?
Đó là những luận điểm nào?
Có thể lúc đầu học sinh còn bỡ ngỡ trước cách hỏi như vậy nhưng nếu giáo viên
có sự gợi dẫn tốt và thường xuyên sử dụng kiểu câu hỏi như vậy khi dạy đọc
hiểu các văn bản nghị luận thì các em sẽ trả lời được.
- Việc tích hợp với phân môn Làm văn còn thể hiện ở bước hướng dẫn học sinh
đọc hiểu chi tiết văn bản.
+ Để làm được điều này khi dạy văn bản “Trích diễm thi tập”, tôi sử dụng một
hệ thống câu hỏi sau:
• Câu hỏi 1: Theo em, vấn đề nêu ra ở luận điểm một là gì?
6
Sau khi học trả lời : “Vấn đề mà tác giả Hoàng Đức Lương nêu ra ở luận điểm
một là: Những nguyên nhân làm cho thơ văn không lưu truyền hết ở đời”, ta sẽ
đưa ra tiếp các câu hỏi sau:
• Câu hỏi 2: Ở luận điểm một, tác giả Hoàng Đức Lương đã đưa ra những
lí do nào khiến thơ văn không lưu truyền hết ở đời ?
(Với câu hỏi này, giáo viên đã giúp học sinh phát hiện được: ở luận điểm một tác
giả đã nêu ra sáu lí do làm cho thơ văn không lưu truyền hết ở đời.
* Bốn lí do chủ quan:
cách lập luận trong văn nghị luận.
+ Đặt câu hỏi tích hợp ở hai câu: 5, 6, đã tích hợp được với bài: “Yếu tố biểu
cảm, tự sự trong văn nghị luận” mà các em đã được học ở THCS. Việc tích hợp
7
như vậy sẽ giúp các em hiểu được: Kết hợp nghị luận với biểu cảm, tự sự, làm
bài tựa có tính thuyết phục cao, tác động sâu sắc đến người đọc.
- Khi hướng dẫn học sinh phân tích văn bản nghị luận giáo viên thường đưa ra
câu hỏi: Em hãy nhận xét về cách lập luận của tác giả?
Câu hỏi này sẽ giúp học sinh củng cố lại kiến thức của các bài học về lập luận
trong văn nghị luận, các thao tác lập luận trong văn nghị luận
- Cuối cùng việc tích hợp với phân môn Làm văn còn được thể hiện ở phần củng
cố bài học.
VD: Sau khi dạy xong các bài văn nghị luận trung đại, tôi thường sử dụng câu
hỏi: Em hãy viết lại dàn ý của bài Tựa (Chiếu, Văn bia)?
*/ Tích hợp với phân môn Tiếng Việt
- Một trong những đặc điểm của văn học trung đại nói chung và văn nghị luận
trung đại nói riêng là dùng cách nói uyển ngữ, cách nói hình ảnh với nhiều điển
tích, điển cố. Vì vậy khi dạy đọc hiểu văn bản nghị luận trung đại, giáo viên cần
phải giúp học sinh thấy rõ được điều này.
Dạy bài “Chiếu cầu hiền” hoặc bài “Xin lập khoa luật”, ta có thể tích hợp với
bài Tiếng Việt học trước đó: “Thực hành về thành ngữ, điển cố.”
VD: Trong đoạn đầu của văn bản “Chiếu cầu hiền” tác giả Ngô Thì Nhậm đã
sử dụng mấy điển tích, điển cố? Đó là những điển tích, điển cố nào? ý nghĩa của
việc sử dụng đó?
Hỏi như vậy chắc chắn học sinh sẽ phát hiện và cảm nhận được: Chỉ trong một
đoạn văn ngắn, tác giả đó sử dụng 9 điển tích, điển cố được rút ra từ sách vở cổ
xưa, hàm ý chỉ những người ẩn dật uổng phí tài năng, hoặc những người làm
quan nhưng còn nghi ngại, kiêng dè, giữ mình mà không dám nói thẳng.
- Tích hợp với Tiếng Việt để giúp học sinh thấy được việc sử dụng từ ngữ chính
xác, giàu giá trị biểu đạt, biểu cảm của văn bản nghị luận trung đại.
Từ những đặc trưng cơ bản của văn nghị luận trung đại đã học, em hãy so
sánh với các văn bản nghị luận hiện đại đã học ở chương trình THCS. Từ đó rút
ra một số kết luận cần thiết khi viết một văn bản nghị luận?
3.2.2. Sử dụng sơ đồ
- Người xưa đã nói: “Trăm nghe không bằng một thấy”. Lí luận dạy học hiện đại
cũng khẳng định vai trò quan trọng của những ví dụ trực quan sinh động.
Sử dụng sơ đồ hệ thống luận điểm, luận cứ của văn bản nghị luận chính là làm
cho học sinh không chỉ “nghe” mà còn “thấy”.
VD: Khi dạy bài “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” ta cho học sinh quan sát sơ
đồ kết cấu của bài văn bia.
Sơ đồ kết cấu của bài văn bia “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”
9
Sau khi cho hc sinh quan sỏt s , giỏo viờn s yờu cu cỏc em rỳt ra kt lun:
Cỏch lp lun cht ch, mch lc ca bi vn bia.
3.2.3. S dng phn chỳ thớch cui mi trang ca vn bn
- S dng phn chỳ thớch cui mi trang ca vn bn s giỳp hc sinh hiu rừ
ý ngha ca nhng t ng m tỏc gi s dng, qua ú hiu rừ hn ni dung ý
ngha ca vn bn.
+ VD1: Da vo phn chỳ thớch cui trang, em hóy gii thớch nhan vn
bn: Trớch dim thi tp?
Nu khụng da vo chỳ thớch cui trang, hc sinh khú m hiu c rng:
* Trớch: trong ting Hỏn l chn hỏi mt bụng hoa p, hay tuyn chn.
* Dim: Ch s kiu dim, dim l, ch cỏi hay, cỏi p mc cao.
* Thi l th, dim thi l nhng bi th hay.
Vy Trớch dim thi tp l tp th tuyn chn nhng bi th hay.
+ VD2: Da vo phn chỳ thớch cui trang, em hóy gii thớch nhan vn
bn: Hin ti l nguyờn khớ ca quc gia ?
HS trả lời theo định hớng:
* Hiền tài: ngời có tài, có đức, tài cao, đức lớn.
* Nguyên khí: khí chất ban đầu làm nên sự sống còn và phát triển của sự vật.
B - Chuẩn bị
- GV: ảnh, tượng vua Quang Trung; Đọc SGK, SGV, giáo án.
- HS: Đọc lại các văn bản “Chiếu dời đô” (Lớp 8); “Hoàng Lê nhất thống chí”
(Lớp 9); “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” (Lớp 10)
C - Phương pháp : Nêu vấn đề , Gợi mở
D - Tiến trình lên lớp
1- Ổn định lớp: Kiểm tra sĩ số
2- Kiểm tra bài cũ
3- Bài mới
Hoạt động của GV - HS Nội dung cần đạt
Hoạt động 1:
- Thao tác 1: Tìm hiểu về tác giả
Ngô Thì Nhậm
+ GV : Yêu cầu HS đọc phần tiểu
dẫn và rút ra những nét chính về
Ngô Thì Nhậm.
- Thao tác 2: Tìm hiểu về hoàn
cảnh ra đời
Mục đích viết “Chiếu cầu hiền”?
I- Tìm hiểu chung
1- Tác giả:
- Ngô Thì Nhậm (1764 – 1803), hiệu Hi
Doãn.
- Người làng Tả Thanh Oai, trấn Sơn Nam
(nay: Thanh Trì - Hà Nội)
- 1775 đỗ tiến sỹ, từng làm quan dưới thời
Lê Cảnh Hưng
- Khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần 2, ông đã theo
giúp Tây Sơn. 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi,
Ngô Thì Nhậm được cử làm Thị lang bộ lại.
tài cần phải phụng sự cho đời mới
là đúng ý trời, tác giả đã xuất phát
từ điều gì, dẫn dắt ý ra sao?
Cách nêu vấn đề như vậy có tác
dụng gì?
- HS trao đổi, trả lời
diệt quân Thanh và bọn tay sai.Nhà Lê sụp
đổ.
- Bề tôi nhà Lê mang nặng tư tưởng trung
quân, phản ứng tiêu cực: bất hợp tác, thậm
chí chống lại phong trào Tây Sơn.
- Quang Trung giao cho Ngô Thì Nhậm
thay lời mình viết “Chiếu cầu hiền”- kêu
gọi những người tài đức ra giúp dân giúp
nước.
b- Thể loại: Chiếu
- Thuộc loại văn nghị luận chính trị - xã hội
do vua chúa ban ra để triều đình và nhân
dân thực hiện.
- Có thể nhà vua đích thân viết nhưng
thường do các văn tài võ lược viết thay vua.
II/ Đọc – hiểu văn bản
1. Đọc:
*) Giải thích từ khó: (SGK)
*) Bố cục:
a- Luận điểm 1: “ Từng nghe…người hiền
vậy”: mối quan hệ giữa người hiền và vua.
b- Luận điểm 2: “Trước đây…lẩn tránh
suốt đời”: ứng xử của người hiền khi
mà chúng biểu hiện là gì?
- Việc sử dụng chúng kết hợp với
các câu hỏi tu từ đó đem lại hiệu
quả nghệ thuật như thế nào cho
bài chiếu?
- HS theo dõi đoạn văn bản và
phát hiện các điển tích, điển cố
+GV: Tác giả có nói thẳng ra
những điều trên không? Nói như
vậy có ý nghĩa gì?
- Hiền tài ra giúp vua là hợp với quy
luật của vũ trụ.
* Hình ảnh “người hiền ắt làm sứ giả cho
thiên tử”, lấy từ lời Khổng tử trong sách
Luận ngữ: “ Vi chính dĩ đức, thí như Bắc
thần, cư kì sở, chúng tinh củng chi” (dùng
đức để cai trị đất nước cũng giống như sao
Bắc thần đứng đúng vị trí của mình mà các
sao khác phải chầu về.)
=> Mở đầu bài chiếu bằng lời Khổng Tử
có sức thuyết phục mạnh mẽ sĩ phu Bắc Hà
vì:
- Họ vốn am hiểu kinh điển nho gia nên
nghe đến là hiểu ngay.
- Trong lòng họ, Khổng Tử là vị thánh, lời
Khổng Tử là chân lý, ai cũng tin và tuân
theo.
=> Việc cầu hiền của nhà vua là có cơ sở,
căn cứ, hợp lòng trời, hợp lòng người. Lời
lẽ, ý tứ giàu sức thuyết phục, lập luận chặt
quyền cao nhất nhưng không
lệnh, gọi, mời mà phải cầu?
+GV: Tác giả đã đưa ra những lí
do nào khiến vua phải cầu hiền?
Em có nhận xét gì về lời lẽ của
người viết và cách lập luận ở đoạn
này?
- HS trao đổi, trả lời
+GV: Quang Trung đó đưa ra
cách cầu hiền như thế nào ở luận
điểm tiếp theo?
Em có nhận xét gì về cách cầu
hiền đó?
+GV: Theo em những bậc hiền tài
thời Quang Trung sẽ có thái độ ra
sao sau khi đọc “Chiếu cầu hiền”?
- HS thảo luận
Hoạt động 3:
Quang Trung.)
+ Tỏ ra người có kiến thức sâu rộng ->
người nghe phải nể trọng.
+ Người nghe không tự ái mà còn tự cười
về thái độ ứng xử chưa đúng của chính
mình.
c- Tấm lòng của Quang Trung
- Hình ảnh “ghé chiếu” (ngồi bên mép
chiếu chứ không ngồi chính giữa vì còn đợi
người hiền tài)
- “Cầu hiền”-> Sự khiêm tốn, tấm lòng
chân thành, khao khát người hiền tài của
- HS: đọc
(GV: Chiếu cầu hiền thể hiện
chiến lược của một vị vua sáng.
Tiếc rằng năm 1792 vua Quang
Trung đã băng hà đột ngột. Triều
đại Tây Sơn chỉ tồn tại đến năm
1802 trong cảnh hỗn chiến. Vì thế
chiếu cầu hiền chỉ mang ý nghĩa
như một văn kiện lịch sử, một tư
liệu lịch sử của một triều đại vang
bóng).
hiện một chiến lược phát hiện và sử dụng
người tài để xây dựng và phát triển đất
nước ngày một thêm cường thịnh.
- Bài chiếu còn thể hiện một tư tưởng tiến
bộ của vị vua anh minh đại diện cho nông
dân với chính sách chiêu mộ người tài bằng
những lý lẽ thuyết phục được minh họa
bằng những dẫn chứng thực tế chứ không
phải bằng giọng điệu ra lệnh của kẻ bề trên.
E – Củng cố và hướng dẫn về nhà
- Củng cố: GV yêu cầu Hs lập sơ đồ hệ thống các luận điểm của bài chiếu.
- Về nhà : + Câu hỏi: Qua tác phẩm “Chiếu cầu hiền” - Ngô Thì Nhậm, theo em
ngày nay chúng ta có còn cần chính sách “cầu hiền” như vua Quang Trung nữa
không?
+ Chuẩn bị bài đọc thêm “Xin lập khoa luật”.
15
Phần 4: Kiểm nghiệm
- Thực tế giảng dạy ở 2 lớp 11A6 và 11A9 năm học 2010 - 2011 và 4 lớp: 11A1,
sự chuyển biến nhận thức về vị trí, vai trò của văn chương nghị luận trong đời
sống con người. Điều quan trọng và cũng là nhiệm vụ của mỗi giáo viên là cần
nỗ lực tìm tòi, sáng tạo cùng trao đổi với đồng nghiệp những phương pháp dạy
học tích cực khi dạy những tác phẩm nghị luận trung đại nói riêng và các tác
phẩm nghị luận nói chung để đem đến sự say mê, hứng thú cho học sinh và trả
lại vẻ hấp dẫn đích thực của những văn bản đó.
- Đối với học sinh: Cần thấy được giá trị, cái hay cái đẹp của những văn bản nghị
luận trung đại từ đó tích cực tìm hiểu thêm những kiến thức có liên quan từ nhiều
nguồn khác nhau: sách vở, tư liệu tham khảo, Internet… để có những hiểu biết
đầy đủ, có thái độ học tập tích cực, chủ động.
- Nhà trường trang bị thêm các sách tài liệu cho thư viện để giáo viên và học sinh
tham khảo.
Do thời gian có hạn nên đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy
rất mong được sự góp ý của quý thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài
được hoàn thiện hơn và để được áp dụng thực hiện trong những năm học tới rộng
rãi hơn.
Bá Thước, ngày 15 tháng 05 năm 2012
Người thực hiện
Lê Thị Nguyệt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
17
[ ]
1
. Phan Trọng Luận, Thiết kế bài học Ngữ văn 11, tập 1, NXB Giáo Dục.
[ ]
2
. Hoàng Thị Mai, Kiều Thọ Long, Phương pháp dạy học văn bản nghị luận ở