Líp C«ng nghiÖp 40A
14
người bán buôn trong kênh tiêu dùng cá nhân. Họ là những người mua sản
phẩm của công ty với khối lượng lớn để cung cấp cho các khách hàng công
nghiệp.
5.7. Người tiêu dùng .
Đây là người sử dụng sản phẩm mua được vào việc thoả mãn nhu cầu
của họ. Người tiêu dùng là mục tiêu và cũng là đích mà người sản xuất phải
hướng tới. Việc nắm bắt chính xác nhu cầu của người tiêu dùng cũng như dự
báo chính xác nhu cầu trong tương lai là điều kiện quan trọng quyết định sự
tồn tại của doanh nghiệp.
II. CÁC QUYẾT ĐỊNH TRONG VIỆC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ
KÊNH
1.Quyết định về thiết kế kênh.
Thiết kế kênh là toàn bộ các hoạt động có tính chủ động nhằm tổ chức
ra các hệ thống kênh phân phối hoàn toàn mới hoặc cải tạo các kênh phân
phối đã có trên thị trường. Đây là một quyết định có tính chiến lược, nó ảnh
hưởng trực tiếp tới việc thực hiện các chính sách bộ phận khác của
Marketing-mix như chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách xúc
tiến.
Thiết kế kênh là một công việc hết sức phức tạp đòi hỏi phải nghiên cứu
kỹ lưỡng trước khi đưa ra quyết định. Mặt khác công tác thiết kế kênh phải
được tiến hành thường xuyên bởi vì nó không chỉ là tạo mới một kênh phân
phối mà còn bao gồm cả việc cải tạo lại những kênh đã có sao cho có hiệu
quả hơn.
trong kênh như vận chuyển hàng hoá, tổ chức kho trung gian, thu thập thông
tin, các hoạt động khuyếch trương…Trên cơ sở đó sẽ cụ thể hoá và phân
công công việc cho từng thành viên. Líp C«ng nghiÖp 40A
16
Bước 3: Phác thảo những cấu trúc kênh có thể có. Nhiệm vụ chính của
bước này là xác định cho được kích thước của kênh( Chiều dài, chiều rộng,
chiều sâu của kênh) .
Bước 4: Sắp xếp và đánh giá những ảnh hưởng của môi trường tới cấu
trúc kênh dự kiến. Mục đích chủ yếu là xác định mức độ ảnh hưởng của các
yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp đến kênh như thế nào. Đồng
thời đánh giá mức độ phù hợp của cấu trúc kênh dự kiến trong những điều
kiện nhất định.
Bước 5: Lựa chọn kênh tối ưu. Dựa trên cơ sở các kênh phân phối đã
phác hoạ cùng với việc đánh giá ảnh hưởng của môi trường chọn lấy một
hoặc một số loại kênh hợp nhất, đây là những loại kênh có thể đảm bảo cho
việc phân phối sản phẩm của doanh nghiệp được thực hiện với thời gian
nhanh nhất và chi phí nhỏ nhất.
Bước 6: Lựa chọn các thành viên của kênh. Sau khi đã lựa chọn được
kênh phân phối phù hợp vấn đề đặt ra là phải tìm kiếm các trung gian phù
hợp với mục tiêu phân phối của doanh nghiệp. Đây là một công việc quan
trọng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của kênh do vậy đòi hỏi phải
được tiến hành cẩn thận.
3. Đánh giá hoạt động của kênh.
Đánh giá hoạt động của kênh phân phối chính là xác định hiện trạng
của kênh phân phối theo một số tiêu chuẩn nhất định trong mối liên hệ với
những mục tiêu chung trong chính sách phân phối của công ty như: Mức
doanh số đạt được, mức độ lưu kho trung bình, thời gian giao hàng… Líp C«ng nghiÖp 40A
18
Việc đánh giá hoạt động của kênh có thể được tiến hành một cách
thường xuyên hoặc theo định kỳ. Mục đích của việc đánh giá này là nhằm
phát hiện ra những điểm mạnh và điểm yếu trong kênh phân phối để từ đó có
biện pháp sử lý kịp thời đảm bảo cho kênh hoạt động hiệu quả. Việc đánh
giá hoạt động của kênh là rất cần thiết vì tình trạng hoạt động của kênh sẽ
ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng tiêu thụ sản phẩm, duy trì thị phần của
doanh nghiệp . Ngoài ra, các yếu tố của môi trường kinh doanh luôn thay đổi
các nhà sản xuất không thể kiểm soát được sự thay đổi này cũng như tác
động của nó đến hệ thống kênh phân phối của mình, do vậy các công ty phải
tiến hành đánh giá hoạt động của kênh để có biện pháp điều chỉnh sao cho
có hiệu quả.
Thông thường khi đánh giá hoạt động của kênh thường trải qua các
bước sau:
Bước 1: Thiết lập và lựa chọn các tiêu chuẩn đánh giá.
Trong bước này các nhà quản trị kênh phải thiết lập một hệ thống chỉ
tiêu dùng để đánh giá. Các chỉ tiêu có thể là: Doanh số bán, mức độ lưu kho
trung bình, thời gian giao hàng, cách sử lý hàng hoá thất thoát, mức độ hợp
sinh giữa các cấp trong cùng một kênh), có thể là mâu thuẫn ngang(nảy sinh
giữa các trung gian trong cùng một cấp), hoặc giữa các kênh với nhau.
Các xung đột xảy ra trong kênh chính là các mâu thuẫn nảy sinh giữa
các thành viên trong kênh. Các xung đột đó bao gồm các xung đột liên quan
đến lợi ích của các thành viên do không thống nhất về tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ
hoa hồng, các hình thức bổ trợ; các xung đột liên quan đến phương thức bán
hàng, điều kiện mua bán… Nguyên nhân gây ra các xung đột có thể là do sự
khác nhau về mục tiêu theo đuổi của các thành viên khi tham gia vào kênh,
có thể là do sự không thích hợp về vai trò và quyền hạn của các thành viên
trong kênh, do sự khác biệt về nhận thức của các thành viên trong kênh… Líp C«ng nghiÖp 40A
20
Khi xảy ra xung đột trong kênh, các nhà quản trị kênh phải tìm hiểu rõ
nguyên nhân xuất phát của xung đột và đề xuất biện pháp giải quyết xung
đột đó. Các biện pháp có thể được áp dụng để giải quyết xung đột là:
- Chấp nhận những mục đích tối thượng hy sinh những mục tiêu không
quan trọng. Khi trong kênh xuất hiện các xung đột các nhà quản trị kênh
phải căn cứ vào mục tiêu khi thết kế kênh để đề ra biện pháp giải quyết.
Chẳng hạn khi nảy sinh mâu thuẫn giữa các trung gian trong việc tổ chức
mạng lưới tiêu thụ trên một khu vực thị trường(các trung gian lấn sang địa
bàn của người khác) nếu mục tiêu là giúp cho người tiêu dùng có thể mua
sản phẩm của công ty với điều kiện thuận lợi nhất thì nhà quản trị kênh có
thể duy trì xung đột này để tạo ra sự cạnh tranh giữa các trung gian trong
việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm, nếu mục tiêu là khuyến khích sự hợp tác
giữa các thành viên thì khi xung đột này sảy ra công ty phải có biện pháp
CHƯƠNG II.
TỔ CHỨC MẠNG LƯỚI KÊNH PHÂN PHỐI Ở CÔNG TY GIẤY
BÃI BẰNG
I.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH.
1.Quá trình hình thành và phát triển.
1.1. Quá trình hình thành.
Vào năm 1969, các quan chức của chính phủ Việt Nam và Thuỵ Điển
đã bắt đầu bàn bạc về khả năng Thuỵ Điển viện trợ cho công nghiệp Việt
Nam. Vào thời kỳ đó, Việt Nam đã nhìn nhận việc có được công nghệ công
nghiệp tiên tiến là yếu tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế đất nước. Việt
Nam sẵn có đất lâm nghiệp và cũng cần giấy cho sự nghiệp giáo dục và các
mục đích khác. Líp C«ng nghiÖp 40A
22
Sau một thời gian đàm phán, ngày 20 tháng 8 năm 1974 hợp đồng về
công trình Nhà máy Giấy Bãi Bằng chính thức được ký kết, đây là một dự
án nhằm cải thiện mức sống thông qua mở rộng sản xuất giấy nội địa tại Bãi
Bằng. Dự án bao gồm việc xây dựng một nhà máy liên hợp sản xuất bột giấy
và giấy cùng với việc đảm bảo cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật cần thiết, vùng
nguyên liệu và hỗ trợ đào tạo để đảm bảo bàn giao thành công cho phía Việt
Nam.
Bãi Bằng đã dược thiết kế như một dự án hợp tác phát triển thay vì một
mức trên dưới 50% công suất thiết kế. Lợi nhuận đạt được còn quá thấp, nên
đời sống của người lao động chưa được cải thiện rõ rệt.
Tuy nhiên trong hai năm 1990 và 1991 với sự đổi mới mạnh mẽ trong
quản lý điều hành công ty đã vượt mức kế hoạch đặt ra. Năm 1990 sản lượng
đạt 103,9% kế hoạch, nộp ngân sách 13, 2 tỷ đồng. Năm 1991 sản lượng đạt
109,3% kế hoạch; nộp ngân sách 35 tỷ đồng, vượt kế hoạch 46%.
1.2.2. Giai đoạn từ 1992 đến nay.
Những năm đầu của thập niên 90 đây là thời kỳ khó khăn của ngành
giấy nói chung và của Giấy Bãi Bằng nói riêng. Hậu quả của cuộc khủng
kinh tế vào cuối những năm 1980 làm cho nhu cầu về giấy giảm sút. Mặt
khác giấy ngoại do không được quản lý tốt đã tràn ngập thị trường làm cho
hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Năm1993 chỉ sản xuất
được 32.000 tấn giấy và không có lãi.
Những năm cuối của thập niên 90, tình hình thị trường giấy có nhiều
biến động theo hướng có lợi cho sản xuất kinh doanh. Với việc Chính phủ
tăng thuế nhập khẩu giấy đã tạo điều kiện thuận lợi cho công ty đẩy mạnh
hoạt động sản xuất kinh doanh. Năm 1995 sản lượng giấy đạt 50.062 tấn đạt
92,03% công suất thiết kế. Năm1996 trong khi các doanh nghiệp khác đều
báo lỗ riêng công ty Giấy Bãi Bằng vẫn đạt mức lãi 42,8 tỷ đồng, cũng trong
Líp C«ng nghiÖp 40A
24
năm này sản lượng giấy đạt 57.027 tấn vượt công suất thiết kế( công suất
thiết kế là 55000 tấn giấy/năm).
Do sự cố gắng nỗ lực của đội ngũ cán bộ công nhân viên mà trong
những năm gần đây sản lượng giấy xuất ra ngày càng tăng , đời sống công
1.800
2. Tình hình sản xuất kinh doanh
2.1. Tình hình sản xuất
Líp C«ng nghiÖp 40A
25
Năm
Sản lượng
kế hoạch(tấn)
Sản lượng
thực tế(tấn)
So sánh(%)
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
36000
38000
35000
38000
60000
58000
Biểu đồ sản lượng giấy thực tế sản xuất
Líp C«ng nghiÖp 40A
26
0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
70000
80000
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
N¨m
S¶ n l î n g th ùc tÕ Qua sơ đồ trên ta có thể nhận thấy, tuy sản lượng giấy sản xuất có sự
biến động lên xuống giữa các năm song xu hướng đi lên vẫn là chính. Trong
những năm cuối của thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21, sản lượng
giấy tăng khá đồng đều và không có biến động lớn, tuy nhiên trong những
năm đầu của thập niên 90 sản lượng giấy sản xuất ra biến động rất thất
thường năm 1995 sản lượng giấy đạt 50.062 tấn tăng 15.581 tấn tương ứng
với 45,19 % so với năm trước đó. Điều này cho thấy rằng trong những năm
gần đây công ty đã có cố gắng rất nhiều trong việc ổn định sản xuất, đảm
bảo cho sản xuất phát triển nhịp nhàng cân đối tránh tạo ra những biến lớn
không có lợi.