MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với tiến trình hội nhập diễn ra mạnh mẽ, quá trình tự do hóa tài
chính liên tục, các luồng tài chính và các dòng vốn được giao lưu tự do và
chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác. Trong bối cảnh này, nền kinh tế
mỗi quốc gia càng gắn liền với tình hình biến động kinh tế chính trị diễn ra
trong toàn cầu, Việt Nam đã gia nhập WTO cũng chịu sự tác động to lớn
trong xu thế đó. Một nền kinh tế phát triển ổn định bền vững, tự chủ về tài
chính sẽ giúp nền kinh tế đất nước có sức đề kháng trước những cú sốc kinh
tế bên ngoài nhất là các cuộc khủng hoảng kinh tế, đồng thời chẩn đoán ra các
căn bệnh của nền kinh tế và tìm cách chữa trị nó là cách hữu hiệu để đứng
vững trên con đường hội nhập. Trong đó, vấn đề đặt ra đối với hệ thống tài
chính cũng như nền kinh tế hiện nay là tình trạng “đô la hóa” mà theo các
chuyên gia “đô la hóa Việt Nam đang ở mức báo động” có thể ảnh hưởng rất
lớn đối với nền kinh tế Việt Nam. Tại một nền kinh tế mà tình trạng đô la hóa
càng cao biểu thị vị thế của đồng tiền quốc gia đó càng thấp và ngược lại.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề đồng tiền quốc gia có tính
chuyển đổi ban đầu là chuyển đổi trong nước và tiến đến từng bước có tính
chuyển đổi quốc tế cũng là một yếu tố để đánh giá vị thế của đồng tiền quốc
gia. Một đồng tiền quốc gia có tính chuyển đổi càng cao càng biểu hiện vị thế
đối nội cũng như vị thế đối ngoại càng cao. Một đồng tiền có vị thế cao là một
điều kiện thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia.
Nâng cao vị thế của Việt Nam Đồng (VND) và phát triển kinh tế là
những nội dung có quan hệ hữu cơ. Trong đó, phát triển kinh tế vừa là nền
tảng, vừa là mục đích chính, còn nâng cao vị thế của VND sẽ góp phần thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Việc nâng cao vị thế của Việt Nam Đồng
1
bao hàm việc nâng cao vị thế đối nội và vị thế đối ngoại của đồng tiền, hay
nói các khác đó là hạn chế tình trạng đô la hoá và nâng cao tính chuyển đổi
của Việt Nam Đồng. Nghị quyết Đại Hội VIII đề ra “Tăng trưởng kinh tế
nhanh, hiệu quả, bền vững”, đồng thời chỉ đạo “Tăng khả năng chuyển đổi
Trong đề tài nghiên cứu khoa học của Học viên Ngân hàng năm 2003,
đề tài có Mã số VNH 2001-11 mang tên “Giải pháp hạn chế lưu thông ngoại
tệ mặt trên thị trường tự do ở Việt Nam – qua thực tiễn địa bàn thành phố Hà
Nội”, chủ nhiệm đề tài Ts. Nguyễn Ngọc Thủy Tiên. Đề tài này đã nghiên
cứu nội dung quản lý ngoại tệ trên thị trường tự do, một thị trường không
chính thức. Tuy nhiên, đề tài này cũng chưa có nhiều nội dung liên quan đến
vấn đề vị thế của Việt Nam Đồng mà mới dừng ở khía cạnh quản lý thị trường
ngoại tệ mặt (hay thị trường ngoại tệ tự do) để góp phần thực thi có hiệu quả
chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước.
Trong một đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế của Trần Vân Hà - Học viện
Ngân hàng, 2006 “Điều kiện và lộ trình để đồng Việt Nam được tự do chuyển
đổi” đã đi sâu vào nghiên cứu các giải pháp để Việt Nam Đồng được tự do
chuyển đổi. Qua nghiên cứu tác giả thấy luận văn này phần nào làm rõ về mặt
lý luận của vấn đề tính chuyển đổi của đồng tiền, nghiên cứu kinh nghiệm
chuyển đổi đồng tiền của một số nước châu Á và rút ra kinh nghiệm cho Việt
Nam, đồng thời đưa ra các lộ trình và giải pháp để Việt Nam Đồng là đồng
tiền chuyển đổi. Tuy nhiên, luận văn mới chỉ góp phần thực hiện vấn đề nâng
cao vị thế đối ngoại của đồng tiền mà chưa kết hợp với vấn đề nâng cao vị thế
đối nội của Việt Nam Đồng. Ngay trong một quốc gia mà tình trạng đô la hóa
còn tiếp diễn thì việc để đồng tiền đó là đồng tiền chuyển đổi là việc làm
không thể. Khi mà niềm tin của người dân chưa đặt hoàn toàn vào sức mạnh
3
của đồng nội tệ, họ vẫn sử dụng ngoại tệ như một đồng tiền giao dịch thứ hai
thì việc quản lý ngoại hối là vấn đề khó khăn, các giải pháp tự do hóa các giao
dịch vãng lai và giao dịch vốn sẽ là một rủi ro rất lớn đối với việc đảm bảo sự
ổn định của Việt Nam Đồng.
Năm 2007, một đề án cấp Nhà nước mang tên “Nâng cao tính chuyển
đổi của đồng tiền Việt Nam, khắc phục hiện tượng đô la hoá trong nền kinh
tế” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 98/2007/QĐ-
TTg. Nội dung của đề án đi sâu vào đánh giá tình trạng đô la hóa và tính
Nam là không thể thực hiện được. Bên cạnh đó có những đề tài chỉ nghiên
cứu các giải pháp nâng cao tính chuyển đổi của Việt Nam Đồng mà các giải
pháp đó chưa gắn với thực tiễn của Việt Nam đó là nền kinh có quy mô còn
hạn chế, lạm phát cao, hiệu quả đầu tư thấp, dự trữ ngoại hối còn nhỏ, thâm
hụt thương mại cao, các bất cập về cơ chế, chính sách điều hành nên khi đưa
ra các giải pháp và lộ trình khó khả thi. Ngay cả Đề án nêu trên của Ngân
hàng Nhà nước đầu mối thực hiện cũng còn có nhiều giải pháp không khả thi
và lộ trình thực hiện chưa thực tế. Hơn nữa, nền kinh tế đang trong quá trình
khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu (2008-2009) và hậu quả nặng
nề vẫn còn đang được các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam tìm
cách khắc phục đã tác động đến hiệu quả của các giải pháp nêu trong đề án,
về khía cạnh nào đó đã làm giảm tính thực tiễn của Đề án.
3. Mục đích nghiên cứu của Luận án
- Hệ thống hoá và làm sáng tỏ thêm lý luận về vị thế của đồng tiền
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
5
- Làm rõ bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của nó đến
nền kinh tế.
- Nêu ra sự cần thiết phải nâng cao vị thế của Việt Nam Đồng trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đánh giá vị thế của Việt Nam Đồng qua các giai đoạn phát triển kinh
tế, đưa ra các nguyên nhân làm cho vị thế của VND chưa được đánh giá cao.
- Đưa ra các giải pháp và lộ trình thực hiện các giải pháp để nâng cao vị
thế của Việt Nam Đồng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng vị thế
của Việt Nam Đồng qua các giai đoạn, đánh giá chung về vị thế đối nội cũng
như vị thế đối ngoại của Việt Nam Đồng, tìm hiểu các nguyên nhân để từ đó
đưa ra các giải pháp để nâng cao vị thế của Việt Nam Đồng trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế.
– tiền tệ Đông Nam Á năm 1997, giai đoạn nền kinh tế chịu tác động của
khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đông Nam Á (1998-2001), giai đoạn năm
2002 đến trước khủng hoảng kinh tế thế giới (2002-2007), giai đoạn nền kinh
tế chịu tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới (2008) đến nay.
+ Phân tích nguyên nhân dẫn đến tình trạng vị thế của Việt Nam Đồng
bị đánh giá thấp cả về vị thế đối nội và vị thế đối ngoại.
+ Phân tích quá trình nâng cao vị thế của đồng tiền Trung Quốc, Thái
Lan, Chi Lê và Mexico đề từ đó rút kinh nghiệm cho Việt Nam.
7
+ Đưa ra những luận giải và các giải pháp nâng cao vị thế của đồng tiền
cùng với lộ trình thực hiện phù hợp với quá trình phát triển của nền kinh tế.
7. Cấu trúc của luận án
Với những mục đích nghiên cứu trên đây, Luận án được tác giả chia
thành 3 chương, kết thúc mỗi chương đều có phần kết luận nhằm tóm lược nội
dung và nhấn mạnh những nội dung quan trọng, cụ thể:
Chương 1: Vị thế của đồng tiền quốc gia trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế
Chương này trình bày các vấn đề lý thuyết chung về vị thế của đồng
tiền. Một đồng tiền được coi là có vị thế cao nếu nó được thể hiện toàn bộ các
chức năng vốn có của nó (3 chức năng cơ bản là: công cụ trao đổi, thước đo
giá trị, phương tiện cất trữ giá trị) mà không bị đồng tiền nước khác thay thế
một hoặc một số các chức năng của nó ngay trong phạm vi quốc gia, đồng
thời chính đồng tiền đó được chấp nhận là đồng tiền thanh toán và dự trữ
quốc tế. Nội dung của chương này cũng làm rõ các vấn đề liên quan đến hiện
tượng đô la hóa, các vấn đề liên quan đến tính chuyển đổi của đồng tiền và
mối liên hệ của các vấn đề trên đến vị thế của đồng tiền. Các yếu tố tác động
đến vị thế của đồng tiền trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Nghiên cứu
các bài học xây dựng vị thế đồng tiền quốc gia của các nước như Thái Lan,
Mexico, Chi Lê và Trung Quốc sau đó rút ra bài học cho Việt Nam.
Chương 2: Đánh giá vị thế của Việt Nam Đồng trong điều kiện hội
(*) Khu vực hóa
Khu vực hóa được hình thành để tạo ra một khu vực có lợi ích riêng về
thương mại, đầu tư. Ví dụ: EU, ASEAN v.v Khu vực hóa được thực hiện vì
lý do muốn vươn lên làm đối tượng kinh tế với cường quốc kinh tế, thoát ra
khỏi sự lệ thuộc vào họ.
Như vậy hội nhập là xu thế nhất thể hóa các nền kinh tế trong quá trình
toàn cầu hóa, trong khi xu thế khu vực hóa cũng nằm trong xu thế toàn cầu
hóa, nhưng có xu hướng chống lại xu hướng đơn cực, muốn dựng lên một thế
giới đa cực, để tiến tới toàn cầu hóa trên cơ sở bình đẳng giữa các quốc gia.
Vì vậy xu thế hội nhập là xu thế nằm trong khuôn khổ của xu thế toàn cầu
10
hóa, với hai đặc trưng cơ bản đó là xu thế đơn cực và xu thế đa cực đối kháng
nhau, và xu thế các nước công nghiệp ngày càng mở rộng thị trường, trong
khi các nước kém phát triển ngày càng phụ thuộc vào các nước công nghiệp.
Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế hóa luôn luôn tiềm ẩn hai
mặt: Thời cơ và thách thức, hợp tác và đấu tranh, phát đạt và phá sản, vươn
lên và tụt hậu Các khả năng đó diễn ra như thế nào là tùy thuộc vào môi
trường kinh tế thế giới và nỗ lực chủ quan của từng quốc giá. Tuy vậy nguy
cơ thất bại, mắc nợ chồng chất luôn thường trực đối với các nước chậm phát
triển. Hội nhập kinh tế của Việt Nam được thực hiện theo hai phương thức:
song phương và đa phương; với nhiều đối tác theo chủ trương đa phương hóa;
trong nhiều lĩnh vực: Trao đổi hàng hóa, đầu tư mở rộng quan hệ tài chính -
tín dụng, hợp tác khoa học kỹ thuật.
(*) Toàn cầu hóa
Có thể hiểu là một xu thế chung trên thế giới chuyển các hoạt động
kinh tế trong phạm vi một quốc gia hoặc trong khu vực sang phạm vi hoạt
động toàn thế giới, mà không có giới hạn về biên giới quốc gia. Từ khía cạnh
về sức mạnh kinh tế giữa các nước, toàn cầu hóa có thể được hiểu là việc các
công nghiệp mở rộng phạm vi sang thị trường các nước đang phát triển, hay
ngược lại có sự xâm nhập hàng hóa của các nước đang phát triển. Xét tổng thể
ưu tiên kinh tế của một quốc gia. Về đối nội, đó là các chính sách hạn chế với
giá hàng hóa, dịch vụ tài chính. Ví dụ: quy định mức trần đối với giá lương
thực, quy định mức lãi suất cho vay của ngân hàng thấp, thậm chí quy định
mức lãi suất tiền cho vay, quy định mức trần đối với giá xăng điện, giá xăng
dầu v.v Loại chính sách thứ hai, thuộc chính sách bảo hộ hàng hóa sản xuất
12
trong nước. Các nước đang phát triển, với mục tiêu phát triển một số ngành
công nghiệp có tính chất chiến lược với nền kinh tế, có thể có chính sách bảo
hộ, bằng cách hạn chế nhập khẩu, đánh thuế cao đối với hàng hóa nhập khẩu.
Về đối ngoại, tự do hóa được hiểu là mở rộng thị trường trong nước đối
với người nước ngoài, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào trong nước, cho
phép các ngân hàng, tổ chức tài chính tham gia thị trường trong nước, đồng
tời xâm nhập thị trường nước ngoài qua đầu tư và thương mại. Lĩnh vực này
liên quan không những đối với các nước đang phát triển mà đối với cả nước
công nghiệp.
Tự do hóa kinh tế được coi là quá trình cải cách kinh tế, thực thi các
chính sách kinh tế cởi mở hơn, kích thích động lực cá nhân, và huy động tối
ưu các nguồn lực của đất nước cho phát triển kinh tế. Vì vậy, tự do hóa kinh
tế trong nước có thể được coi là động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế, thông
qua việc thu hút nguồn tài chính quốc tế công nghệ, quản lý để phát triển kinh
tế trong nước, nhưng mặt khác tự do hóa kinh tế cũng có nghĩa là mở cửa thị
trường cho người khác, đặc biệt là các công ty của các nước công nghiệp phát
triển xâm nhập thị trường trong nước, thậm chí có thể nắm giữ cổ phần các
doanh nghiệp trong nước.
(*) Mối quan hệ toàn cầu hóa kinh tế và thị trường tài chính
Trong nền kinh tế thị trường thì hoạt động của nền kinh tế gắn liền với
hoạt động của thị trường tài chính.
Toàn cầu hóa kinh tế thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa thị trường tài
chính và ngược lại. Về mặt toàn cầu hóa kinh tế thì thị trường thương mại và
đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển mạnh mẽ. Nhưng quá trình toàn cầu hóa
công nghệ. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong
14
chuyển giao công nghệ, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đổi mới phương pháp
quản lý trong kinh doanh, tạo công ăn việc làm, đào tạo được một thế hệ các
nhà quản lý mới. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đều có thể phục vụ cho cả chiến
lược hướng xuất khẩu lẫn chiến lược thay thế nhập khẩu. Chiến lược hướng
xuất khẩu, gắn với thương mại hai chiều, xuất khẩu sản phẩm có lợi thế so
sánh, nhưng lại phải nhập khẩu thiết bị công nghệ. Bên cạnh việc thu hút vốn
đầu tư trực tiếp thì các nguồn vốn đâu tư gián tiếp cũng đóng vai trò rất quan
trọng, góp phần giúp các doanh nghiệp trong nước có thêm nguồn vốn đầu tư
vào máy móc thiết bị, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Hội nhập kinh tế quốc tế là một cơ hội lớn cho hoạt động thương mại.
Với những cam kết trong các hiệp định thương mại, hiệp định song phương
và đa phương đã tạo điều kiện cho hàng hóa trong nước thuận lợi hơn trong
việc hướng tới thị trường quốc tế. Với những ưu đãi về thông tin thị trường,
các hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ về thủ tục và đặc biệt các nhà đầu
tư nước ngoài có cơ hội đến tìm hiểu và ký hợp đồng kinh tế đã giúp các
doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, kim ngạch
xuất khẩu không ngừng tăng lên.
- Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong
nước tiếp cận với những tiến bộ khoa học, công nghệ trên thế giới, thúc đẩy
các doanh nghiệp nhanh chóng thay đổi công nghệ, phương thức sản xuất tiên
tiến với năng suất cao, thân thiện với môi trường và từng bước nâng cao trình
độ, năng lực sản xuất và tính cạnh tranh trên thị trường.
- Với sức ép cạnh tranh ngày càng lớn của hàng hóa nhập khẩu, để giữ
thị phần trong nước bản thân các doanh nghiệp phải tự tìm ra các phương thức
sản xuất mới, nâng cao năng suất lao động, cải tiến chất lượng, mẫu mã sản
phẩm để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao và giá thành cạnh tranh với
các sản phẩm ngoại nhập. Quá trình này tiếp diễn không ngừng đã tạo cho nền
15
và có thể tăng áp lực tỷ giá cũng như việc đảm bảo ổn định giá trị đồng nội tệ
trước việc đảm bảo nguồn ngoại tệ lớn đáp ứng nhu cầu nhập khẩu.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động trực tiếp đến phát triển kinh
tế, có tác dụng làm cho nền kinh tế phát triển tương đối ổn định, tuy vậy về
lâu dài vẫn chứa đựng hai nguy cơ: nguy cơ khủng hoảng nợ và nguy cơ hầu
như toàn bộ tài sản nằm trong tay người nước ngoài. Nguy cơ lớn nhất của
nguồn vốn ngắn hạn đối với nền kinh tế là sự thay đổi tâm lý của các nhà đầu
tư nước ngoài, dẫn đến sự đảo chiều đột biến trong dòng vốn ngắn hạn mà ở
quy mô lớn là đẩy nền kinh tế trong nước lâm vào khủng hoảng. Các nguồn
vốn ngắn hạn này thường được đầu tư vào thị trường chính khoán và một
phần lớn khác đầu tư vào bất động sản, thông qua việc các ngân hàng nước
ngoài cho vay các ngân hàng, tổ chức tài chính trong nước. Các dấu hiệu về
trì trệ xuất khẩu áp lực tăng tỷ giá, tụt giá bất động sản sẽ tác động đến các
nhà đầu tư nước ngoài. Việc đảo chiều nguồn vốn còn gắn với việc đầu cơ
đồng tiền của các tổ chức đầu tư nước ngoài.
1.1.2. Khái niệm về vị thế của đồng tiền quốc gia trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế
1.1.2.1. Khái niệm và các chức năng của tiền tệ
(*) Khái niệm tiền tệ: Theo Mác, tiền tệ là thứ hàng hóa đặc biệt, tách
ra khỏi thế giới hàng hóa, dùng làm vật ngang giá chung để thể hiện và đo
lường giá trị của mọi hàng hóa. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội hội nhập
kinh tế quốc tế và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng
hóa. Quan điểm của các nhà kinh tế đương đại có mở rộng hơn khái niệm tiền
tệ, cho rằng tiền tệ là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh
toán để lấy hàng hóa hay dịch vụ hoặc trong việc hoàn trả các món nợ.
17
(*) Các chức năng của tiền tệ: Trong thời đại của K. Marx cho rằng
vàng trong vai trò là vật ngang giá chung là tiền hàng hóa và ông nêu lên 5
chức năng của vàng – tiền tệ thực hiện trong điều kiện kinh tế hàng hóa phát
triển là:
hay không, và trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì vị thế của đồng tiền
còn được đánh giá qua khả năng chuyển đổi sang các đồng tiền khác trên thế
giới.
1.1.2.2. Khái niệm vị thế của đồng tiền trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế
Vị thế của đồng tiền là một phạm trù rất trừu tượng, hiện nay chưa có
tài liệu nào đưa ra một khái niệm chuẩn về vị thế của đồng tiền, tuy nhiên
thuật ngữ “vị thế đồng tiền” lại được nhiều tài liệu sử dụng khi muốn đề cập
đến vấn đề đô la hóa, vấn đề tỷ giá, vấn đề tính chuyển đổi của đồng tiền. Các
tài liệu, các bài báo thường cho rằng do đồng tiền quốc gia có vị thế thấp dẫn
đến tình trạng đô la hóa hoặc tính chuyển đổi thấp. Theo tác giả thì vị thế của
đồng tiền thực chất được thể hiện hay được đo lường thông qua chính mức độ
đô la hóa và tính chuyển đổi của đồng tiền. Sau đây là một số quan điểm về vị
thế của đồng tiền quốc gia:
(*) Quan điểm thứ nhất: Vị thế của đồng tiền quốc gia được đồng
nhất với khả năng chuyển đổi của đồng tiền, tức là được chấp nhận một cách
rộng rãi trong các giao dịch về thanh toán và tiền tệ ở trong nước và quốc tế.
Đặc tính này mang yếu tố khách quan và chủ quan. Về chủ quan đó là ý chí
của Nhà nước, thông qua quy định về quản lý ngoại hối, cho phép dùng đồng
nội tệ mua ngoại tệ trong các giao dịch được phép hoặc được mang ra và
chuyển đổi ở thị trường quốc tế. Về mặt khách quan, đồng tiền đó phải có uy
19
tín hay nói cách khác là có một vị thế nhất định để dễ dàng chuyển đổi ra các
tiền tệ của các quốc gia khác ngay trong lãnh thổ quốc gia hay trên phạm vi
quốc tế.
Việc đồng nhất khái niệm vị thế đồng tiền quốc gia với khả năng
chuyển đổi của đồng tiền chưa lột tả bản chất của vị thế đồng tiền. Một đồng
tiền có vị thế cao chưa hẳn đã là đồng tiền chuyển đổi. Vì một lý do nào đó để
thực hiện các mục tiêu kinh tế mà một quốc gia không muốn đồng tiền nước
mình trở thành đồng tiền chuyển đổi. Bởi vì, một đồng tiền chuyển đổi bên
Một đồng tiền có vị thế cao là một đồng tiền mạnh (Hard Currency). Đó là
đồng tiền của một nước có dự trữ ngoại tệ lớn, thặng dư cán cân thanh toán, tỷ
giá thường ổn định hay đồng tiền đó có khả năng lên giá. Khái niệm đồng tiền
mạnh thích hợp trong một số trường hợp nhưng vấn đề một đồng tiền có
những tiêu chuẩn gì mới được coi là đồng tiền mạnh thì vẫn còn là một vấn đề
đang được tranh cãi.
Khái niệm đồng tiền mạnh có từ khi có sự ra đời của loại chứng thư
“quyền rút ưu tiên”- SDRs của IMF năm 1970. Vào thời gian đó, SDRs cho
phép quốc gia sở hữu nó được sử dụng để mua ngoại tệ mạnh là những đơn vị
tiền tệ của 16 nước có quan hệ với USD của Mỹ. Ngoại tệ mạnh là từ dùng để
chỉ “khả năng trao đổi hàng hóa trên thị trường quốc tế mạnh và tiện lợi” của
đồng tiền này so với những đơn vị tiền tệ còn lại khác. Ngoại tệ mạnh được
xếp thứ tự theo tiêu chuẩn là:
(1) Khả năng chấp nhận nhanh, chậm của quốc tế với đồng tiền đó
(2) Nhu cầu thương mại đối với nước phát hành tiền
(3) Tiềm năng cung ứng hàng hóa cho thế giới của quốc gia đó
21
Nói chung, hai yếu tố sau quyết định yếu tố đầu tiên, cho nên có thể nói
rằng, đồng tiền mạnh hay yếu được xem xét dựa trên tiềm lực kinh tế của
quốc gia đó. Ngoài các đồng tiền quốc gia có sức mạnh nêu trên thì một số
đồng tiền chung như EURO, nó tổng hợp sức mạnh kinh tế của các nước khu
vực Châu Âu thì bản thân đồng tiền này là đồng tiền mạnh (chỉ xếp sau USD
hiện nay).
Theo Mỹ, thế giới có 31 đồng tiền mạnh nhưng theo quan điểm khác
thì 27 đồng tiền của OECD là tiền mạnh. Tuy nhiên, đặc điểm chung là các
đồng tiền trên có sức mua và thanh toán vượt ra ngoài biên giới của nó.
Những nước mà tiềm lực sản xuất và thương mại càng lớn thì càng có nhiều
nước khác cần đến đồng tiền của nó. Và do đó, khả năng thanh toán quốc tế
càng mạnh. Một quốc gia, không thể bằng ý kiến chủ quan cho đồng tiền của
mình sẽ trở thành đồng tiền mạnh là có thể làm đồng tiền trong nước được
lãnh thổ mà do chính sách quản lý ngoại hối mà nó không được quốc gia đó
cho phép sử dụng trong giao dịch, thanh toán quốc tế thì đồng tiền đó cũng
không được coi là một đồng tiền mạnh theo định nghĩa trên. Tuy nhiên, đồng
tiền mạnh thì đương nhiên có vị thế cao trong phạm vi quốc gia và trên thế
giới. Do vậy, quan điểm cho rằng đồng tiền có vị thế cao là đồng tiền mạnh
thì chưa đầy đủ và chưa phản ánh đúng bản chất. Một đồng tiền có vị thế cao
có thể là vị thế trong phạm vi quốc gia. Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế thì cũng có thể mở rộng khái niệm vị thế đồng tiền là ngoài vị
thế quốc gia (vị thế đối nội) thì đồng tiền đó cần có vị thế quốc tế (hay vị thế
đối ngoại) để đảm bảo đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế.
23
(*) Quan điểm của tác giả: Đây là quan điểm xem xét một cách tương
đối toàn diện trên cả hai khía cạnh đối nội và đối ngoại. Tức là, khi xem xét vị
thế đồng tiền thì phải xem xét về vị thế đối nội của đồng tiền đó và khả năng
chấp nhận nó như một phương tiện thanh toán trong phạm vi quốc tế. Theo
quan điểm này thì để đánh giá một đồng tiền quốc gia có vị thế mạnh hay yếu
thì dựa vào hai khía cạnh sau:
- Mức độ chấp nhận sử dụng đồng tiền đó trong phạm vi quốc gia với
đầy đủ các chức năng chung của tiền tệ đó là: thước đo giá trị, phương tiện
trao đổi, phương tiện cất trữ. Một đồng tiền quốc gia chỉ tham gia một vài
chức năng như thước đo giá trị hay phương tiện trao đổi mà không được sử
dụng làm phương tiện cất trữ thì đồng tiền đó cũng không được coi là đồng
tiền mạnh trong phạm vi quốc gia vì đồng tiền đó không được dân chúng tin
tưởng làm phương tiện cất trữ giá trị do sự bất ổn định về giá trị đồng tiền.
Hoặc đồng tiền quốc gia đó có tỷ trọng sử dụng làm phương tiện thanh toán
thấp trong tổng giá trị giao dịch thì cũng không coi là đồng tiền có vị thế đối
nội cao.
- Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì ngoài chức năng thanh
toán, trao đổi, cất trữ, thước đo giá trị trong phạm vi quốc gia thì đồng tiền
được coi là đồng tiền mạnh nếu nó được chấp nhận trong giao dịch quốc tế.