TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
60
ĐA DẠNG LOÀI GIUN ĐẤT Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
THE DIVERSITY OF EARTHWORMS IN DANANG CITY
Phạm Thị Hồng Hà
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Trên thế giới và ở Việt Nam, giun đất được quan tâm nghiên cứu từ lâu do vai trò quan
trọng của nó đối với thực tiễn. Bằng hoạt động sống của mình giun đất đã góp phần hình thành
và cải tạo đất trồng trọt, chống xói mòn, giúp cho vi sinh vật đất có ích hoạt động tốt, góp phần
nâng cao năng suất cây trồng. Ngoài ra giun đất còn có vai trò trong việc chữa một số bệnh:
hen suyễn, hạ sốt, an thầ
n, giải độc. Thịt giun đất còn được sử dụng như nguồn thức ăn giàu
đạm bổ sung trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, cá và tôm. Việc nghiên cứu thành phần góp
thêm dẫn liệu vào khu hệ giun đất ở Việt Nam và là cơ sở cho các ứng dụng trong cải tạo môi
trường đất ở thành phố Đà Nẵng.
ABSTRACT
Research projects on earthworms have been carried out in Vietnam and in the world as
earthworms play a significant role in practical conditions. With their living activities, earthworms
contribute to forming and improving soil, preventing soil erosion, helping useful microorganisms
to function well, thus contributing to increasing productivity of cultivated crops. Besides,
earthworms can be used as a tranquillizer, or for the treating of illnesses such asthma, for fever
reduction and for detoxication. The meat of earthworms can be used as a source of high-protein
supplementary food in cattle and livestock breeding and fish and shrimp farming. The study on
the components and distribution of earthworm species based on altitudes can contribute to the
database of the regional fauna of earthworms in Vietnam and can be a basis for some
applications to soil improvement in Danang City.
cơ sở các dữ liệuđa dạng về thành phần loài có thể triển khai việc chọn loài đưa vào cải
tạo và chỉ thị cho môi trường đất ở thành phố Đà Nẵng.
2. Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 05/2008 đến tháng 12/2009.
Địa điểm nghiên cứu: Mẫu vật được thu tại các địa điểm khác nhau của thành
phố Đà Nẵng, trong đó ưu tiên thu tại các địa điểm có nhiều rừng, có độ cao (Bà Nà,
Hải Vân, Sơn Trà) nhằm phát hiện nhiều nhất thành phần loài giun đất. Địa điểm nghiên
cứu chỉ giới hạn ở phần đất liền của TP. Đà Nẵng.
Phương pháp nghiên cứu
Mẫu định tính được thu theo các sinh cảnh và độ cao khác nhau. Mẫu thu toàn
bộ các cá thể đã gặp, con trưởng thành có đai sinh dục (C) và con non chưa có đai sinh
dục (A). Mỗi mẫu có nhãn ghi: Thời gian, địa điểm, sinh cảnh, độ cao và người thu
mẫu.
Mẫu định lượng thu theo hố đào có kích thước 50 x 50 cm. Giun đất được thu
theo từng lớp 10cm cho đến khi không gặp giun đất nữa. Sau đó số lượng và sinh khối
được quy đổi ra tương ứng 1m
2
.
Mẫu sau khi thu được đưa về phòng thí nghiệm, rửa sạch đất bằng nước và định
hình sơ bộ bằng foormol 2% ở trạng thái duỗi thẳng trong vòng 2 giờ, sau đó được lưu
giữ trong foormol 4%.
Mẫu giun đất được định loại theo khóa phân loại của các tác giả trong và ngoài
nước: Thái Trần Bái, 1983, 1984, 1986, 1990; Chen Y, 1933, 1936; Gates, 1972; E.G.
Eston, 1979, 1980; Michaelen, 1934; Phạm Thị Hồng Hà, 1984, 1995 [4].
Số liệu được xử lý bằng thống kê sinh học, dựa vào công cụ máy tính trên phần
mềm Microsoft Exel.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
62
3. Kết quả nghiên cứu
1990
3 Dichogaster bolaui (Mich., 1891) + + +
4 Dich. modigliani (Rosa, 1896) + +
5 Lampito mauritii Kinberg, 1872 + + + +
6 Perionyx excavatus Perrier, 1872 +
7 Pheretima alluxa Thai, 1984 +
8 Ph. amplectens Mich., 1934 + + +
9 Ph. aspergillum (Perrier, 1872) + +
10 Ph. bahli Gates, 1945 +
11 Ph. banaensis Pham, 1995 + + +
12 Ph. banamonotheca sp.n. +
13 Ph. banatetratheca sp.n. + +
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
63
14 Ph. banamultitheca sp.n. + + +
15 Ph. bianensis Stephenson, 1931 + +
16 Ph. campanoporophorata Thai, 1982 +
17 Ph. campanulata (Rosa, 1890) + + + +
18 Ph. corticus (Kinberrg, 1867) + + +
19 Ph. danangana Thai, 1984 + + +
20 Ph. digna Chen, 1946 + + +
21 Ph. divitopapillata Thai, 1984 + + +
64
40 Ph. swanus Tsai, 1964 + +
41 Ph. taprobanae (Beddard,1892) + + + +
42 Ph. touranensis, Mich., 1934 +
43 Ph. tiencanhensis Pham, 1995 + + + +
44 Ph. tuberculata Gates, 1935 + + + +
45 Ph. truongsonensis Thai, 1984 + + +
46 Ph. tripidoporophorata Thai et
Nguyen, 1993
+
47 Ph. tschiliensis Mich, 1938 + + + +
48 Ph. varians songbaana Thai, 1984 + + + +
49 Ph. varellana Michaelsen, 1934 +
50 Ph. vietnamensis (Thai, 1984) + + +
51 Ph. vuongmontis Thai, 1984 +
52 Ph. wui Chen, 1935 + + + +
53 Ph. juliani Perrier, 1875 +
54
Ph. sp 1
+
55
Ph. sp 2
+
56
Ph. sp 3
+
57
Ph. sp 4
+
58
65
68 Ph. non + + + +
MONILIGASTRIDAE Clau, 1880
69 Drawida annamensis Mich., 1934 + +
70 Drawida beddardi (Rosa, 1890) + +
71 Drawida delicata Gates, 1962 + + + +
72
Drawida sp1
+ + +
73
Drawida sp2
+
74
Drawida sp3
+
OCNERODRILIDAE Beddard,
1891
75 Gordiodrilus elegans Beddard, 1892 + + + +
76 Onerodrilus occidentalis Eisen, 1878 +
Tổng 50 32 25 58
* Loài có lỗ nhận tinh phía lưng
Cho đến nay ở Đà Nẵng đã thống kê 76 loài giun đất, thuộc 8 giống, 4 họ. Trong
số đó có 5 loài mới chỉ gặp ở TP. Đà Nẵng: Pheretima banaensis Pham, 1995; Ph.
banamonotheca sp.n; Ph. banamultitheca sp.n; Ph. banatetratheca sp.n; Ph.
Tran, 1986; Ph. rodercensis Grube, 1879; Ph. truongsonensis Thai, 1984; Ph. sp 8; Ph.
sp 9; Ph.sp 10;. Đà Nẵng có số loài giun đất có lỗ nhận tinh đổ ra phía lưng nhiều nhất
so với các khu vực đã được nghiên cứu ở Việt Nam [2]. Đây là thuận lợi lớn để nghiên
cứu quan hệ phát sinh của các loài có lỗ nhận tinh phía lưng với các loài có lỗ nhận tinh
bên bụng.
Xét về phạm vi phân bố gốc có 22 loài chung với khu hệ giun đất phía Bắc (lấy
đèo Hải Vân làm ranh giới) như: Pheretima aspergillum (Perier, 1872); Ph. exigua
austrina Gates, 1932; Ph. exilis Gates, 1935; Ph. morrisi Beddard, 1892; Ph.
turbeculata Gates, 1935; Ph. digna Chen, 1946; Ph. papulosa papulosa Rosa, 1896; Ph.
wui Chen, 1935; Ph. vuongmontis Thai, 1984; Ph.lacertina Chen, 1946; Ph.
campanoporophorata Thai, 1982…
Các loài giun đất có nguồn gốc phía Nam rất phong phú, phân bố rộng trong
nhiều khu vực là: Pheretima modigliani (Rosa, 1889); Ph. bianensis Stephenson, 1931;
Ph. rodericensis Grube, 1879; Ph. penichaetifera Thai, 1984; Ph. danangana Thai,
1984; Ph. truongsonensis Thai, 1984; Ph. varians songbaana Thai, 1984, Ph.
tschiliensis Mich., 1938; Ph. divitopapillata Thai, 1984; Ph. vietnamensis (Thai, 1984);
Ph. exigua chomontis Thai et Samphon, 1988; Ph. taprobanae Beddard, 1892;
Pontoscolex corethrurus (Miiler, 1856); Drawida beddardi (Rosa, 1890); Dra. delicata
Gates, 1962…
Các loài phân bố mang tính chuyển tiếp giữa hai yếu tố Á nhiệt đới phía Bắc và
nhiệt đới phía Nam là: Ph. tuberculata Gates, 1935; Ph. robusta Perrier, 1872; Ph.
corticus Kinberg, 1867; Ph. rodericensis Grube, 1879; Ph. bianensis Stephenson, 1931;
Ph. tschiliensis mich., 1938; Ph. modigliani (Rosa, 1889); Ph. divitopapillata Thai,
1984…
Pheretima lacertina Chen, 1946 là loài thuộc nhóm giun lá (Planapheretima)
trước đây mới chỉ gặp ở vùng núi Đông Bắc và Tây Bắc, nay đã được mở rộng xuống
sườn núi phía Nam của khu Bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa [2].
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
67
Ấn Độ - Trung Hoa Etiopi
Tân
Nhiệt
Đới
Đặc
hữu
Đông
Dương-
Trung
Hoa
Mã
Lai
Ấn Độ -
Myanma
1
Dichogaster
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
68
2
Drawida
6
3
Gordiodrilus
1
4
Lampito
5,3
8
10,6
3
4,0
3
4,0
Tổng chung
(%)
91,9 4,0 4,0
4. Kết luận
1. Cho đến nay ở TP. Đà Nẵng đã phát hiện được 75 loài giun đất, thuộc 8 giống
và 4 họ. Nhóm Pheretima không có manh tràng có 5 loài: Ph. touranensis Michaelsen,
1934; Ph. taprobanae (Beddardi) là Ph. parataprobanae, Ph. vietnamensis và Ph.
tiencanhensis Pham, 1995. So với các khu vực khác đã được nghiên cứu của Việt Nam
thì số loài giun đất không có manh tràng ở Đà Nẵng là phong phú nhất.
2. Ở Đà Nẵng gặp 8 loài giun đất có lỗ nhận tinh đổ ra phía lưng là: Pheretima
banamonotheca sp.n; Ph. amplectens Mich., 1934; Ph. prava mungxenensis Thai et
Tran, 1986; Ph. rodercensis Grube, 1879; Ph. truongsonensis Thai, 1984; Ph. sp 8; Ph.
sp 9; Ph.sp 10. Đây là thuận lợi lớn để nghiên cứu quan hệ phát sinh của các loài có lỗ
nhận tinh phía lưng với các loài có lỗ nhận tinh bên bụng.
3. Yếu tố Địa động vật học của khu hệ giun đất ở TP. Đà Nẵng có yếu tố Ấn Độ-
Trung Hoa chiếm ưu thế (91,9% tổng số loài), yếu tố Địa động vật học Etiopi chiếm
4,0%, gồm những loài giun đất có kích thước bé trong giống Dichogasster và
Gordiodrilus, yếu tố Tân nhiệt đới chiếm 4,0%, là các loài giun đất thuộc 2 giống