Báo cáo nghiên cứu khoa học: " VỀ KHÁI NIỆM MỆNH ĐỀ NGHĨA TRONG NGÔN NGỮ HỌC ANH" - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
1
VỀ KHÁI NIỆM MỆNH ĐỀ NGHĨA TRONG NGÔN NGỮ HỌC ANH
ON THE CONCEPT OF PROPOSITION IN ENGLISH LINGUISTICS

Nguyễn Xuân Thơm
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội

TÓM TẮT
Mệnh đề nghĩa là một khái niệm thuộc lôgic học và ngữ nghĩa học. Mệnh đề nghĩa là
nghĩa cơ sở được biểu đạt bởi một câu bao gồm (1) một cái gì đó được gọi tên (định danh) và
đang được nói đến (như là một lập luận hay một thực thể) và (2) một khẳng định hay một xác
nhận về lập luận đó. Một câu có thể
biểu thị hoặc hàm ẩn hơn một (= nhiều) mệnh đề. Bài báo
trình bày các suy nghĩ về mệnh đề nghĩa của các tác giả Jacob (lấy động từ làm trung tâm) và
Halliday (lấy cú làm trung tâm), trên cơ sở đó rút ra các nhận định riêng của chúng tôi (tác giả
bài báo-NXT) về nghiên cứu ngôn ngữ nói chung và nghiên cứu ngữ nghĩa nói riêng.
ABSTRACT
Proposition is a concept in logics and semantics. A proposition is the basic meaning
expressed by a sentence, including (1) something which is named or talked about (known as
the argument or entity), and (2) an assertion or predication which is made about the argument.
A sentence may express or imply more than one proposition. This article presents thinkings on
proposition as presented by Jacob (a verb-centered viewpoint) and Halliday (a clause-centered
viewpoint), on the basis of which to draw out our own remarks (remarks by the author of the
article, NXT) on linguistic studies in general and semantic studies in particular.

1. Mở đầu
Từ điển Longman Dictionary of Applied Linguistics (Richard & Platter:1985)
định nghĩa mệnh đề nghĩa (proposition) là một khái niệm thuộc lô-gic học và ngữ nghĩa
học. Mệnh đề nghĩa là nghĩa cơ sở được biểu đạt bởi một câu bao gồm (1) một cái gì đó
được gọi tên (định danh) và đang được nói đến (như là một lập luận hay một thực thể)

câu.
Trong phần lớn câu tiếng Anh, bộ phận cốt yếu của nghĩa rơi vào động từ của
câu; cái khái niệm mà động từ biểu đạt chính là trọng tâm của mệnh đề nghĩa của câu.
Ngữ nghĩa học, theo Jacobs, là khoa học nghiên cứu về nghĩa, bao gồm nghĩa chứa
trong nội bộ một đơn vị từ vựng, gọi là ngữ nghĩa học nội hướng (word-internal
semantics) và các mối quan hệ về nghĩa giữa một đơn vị từ hay một ngữ với các bộ
phận khác của câu, gọi là ngữ nghĩa học ngoại hướng (external semantics). Trước hết
chúng ta xem xét vấn đề ngữ nghĩa trong nội bộ từ.
Các động từ tiếng Anh phần lớn không phải là các động từ chỉ gồm một nghĩa tố
đơn giản. Chúng ta hãy bắt đầu bằng cách so sánh nghĩa của một động từ tương đối đơn
giản trong tiếng Anh (trong các thứ tiếng khác, tình hình chưa hẳn đã là như vậy), động
từ “to die” (=chết), có nghĩa “become no longer alive” (=không còn sống nữa) với một
vài động từ khác . “To die” (chết) rõ ràng là một động từ đơn nghĩa hơn hẳn nếu đem
so với động từ “to kill” (=giết chết) trong tiếng Anh, một động từ vừa bao hàm ý niệm
“không còn sống nữa” lại vừa bao hàm việc xảy ra một sự kiện với sự tham gia của một
tham tố gây ra sự chấm dứt sự sống. Nói cách khác, “to kill” có nghĩa “to cause to
become no longer alive” (=gây ra cái chết). Nhưng “to kill” (=giết chết) không hẳn đã
liên quan đến việc phạm pháp. Những người lính dũng cảm giết giặc trên chiến trường
để bảo vệ tổ quốc họ là những người được coi là có công trạng lớn. Nhưng động từ
“murder” (=sát hại), bên cạnh nghĩa của “to kill” (=giết chết) còn có thêm nghĩa tố tội
phạm, Nghĩa của “murder”(=sát hại) trở thành “criminally cause to become no longer
alive” (=phạm tội gây ra cái chết). Chúng ta lại tiếp tục so sánh “to murder” (=sát hại)
với “to assassinate” (=ám sát), một động từ có cấu trúc ngữ nghĩa phức tạp hơn. Động
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
3
từ “to assassinate” (=ám sát), bên cạnh việc bao hàm trong nó nghĩa của động từ “to
murder” đã nói trên, còn bao hàm thêm hai nghĩa tố (mà Jacobs gọi là hai đòi hỏi
(requirements) áp đặt lên việc sử dụng động từ này), đó là (1) nạn nhân (bị sát hại) phải
là một chính khách có tên tuổi, và (2) động cơ của kẻ sát nhân là mang tính chính trị.
Nghĩa của động từ này trở thành “criminally cause politically prominent individual(s) to

give” (=đưa cho, trao cho) trong tiếng Anh thì đòi hỏi 03, người đưa, người nhận (quà)
và bản thân món quà. Ví dụ:
(5) The Dean of the Reptile Studies Faculty gave Madame Vice Dean a sunflower.
(Chủ nhiệm Khoa Nghiên cứu Bò sát đưa cho bà Phó Chủ nhiệm Khoa một đoá hoa
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
4
hướng dương)
Trong (5), có 03 danh ngữ, gồm (1) chủ nhiệm khoa nghiên cứu bò sát, người
đưa quà; (2) bà phó chủ nhiệm khoa, người nhận quà và (3) đoá hoa hướng dương, bản
thân món quà. Trong tiếng Anh chưa thấy có động từ nào đòi hỏi sự tham gia của trên
03 danh ngữ . Số lượng các danh ngữ mà một động từ đòi hỏi kết hợp với nó được gọi là
ngữ trị của động từ ấy. Ngữ trị của động từ, cũng giống như hoá trị của các nguyên tố
hoá học, cho biết số lượng chính xác các đơn vị danh ngữ mà nó có thể kết hợp. Tất
nhiên có những trường hợp động từ đứng riêng không kèm theo bất cứ danh ngữ nào
trong khi ngữ trị của nó có thể là 01 hoặc 02. Đó là trường hợp các câu mệnh lệnh, kiểu
như:
(6) Stop! (=Dừng lại!)
(Stop trong tiếng Anh là động từ có ngữ trị 02.)
Để cho câu (6) có nghĩa, một tham tố, người nhận lệnh “Dừng lại!” được hiểu là
có tham gia vào hành động được nêu. Và khi thực hiện mệnh lệnh, người nhận lệnh có
thể tiến hành dừng một thực thể nào đó (có thể là người, có thể là vật).
Trong tiếng Anh, mối liên hệ giữa ngữ trị của động từ và ý nghĩa (sense) của
động từ ấy là một quan hệ chặt chẽ. Chúng ta có thể quay lại với các khái niệm được
biểu đạt bởi các động từ “die”, “kill” và “give” nói trên (“die” đòi hỏi 01 danh ngữ ;
“”kill” đòi hỏi 02 ; “give” đòi hỏi 03). Một phương thức tiếp cận nghĩa như thế trong
ngữ nghĩa học có vẻ tương đồng với các phương pháp tiếp cận lô-gic. Lý do là động từ
và các danh ngữ không chỉ tạo thành một đơn vị cú pháp, mà còn tạo thành một đơn vị
ngữ nghĩa, một đơn vị được đề cập đến như là mệnh đề nghĩa. Một mệnh đề nghĩa
không nhất thiết tương đương với nghĩa của một câu, bởi vì một câu không nhất thiết
chỉ biểu đạt một mệnh đề nghĩa. Đơn vị ngữ pháp tương đối trùng khớp nhất với mệnh

đương nhiên trong đối thoại luôn luôn có người truyền đạt (người nói) và người tiếp
nhận (người nghe, cử toạ). Trong hành động nói, người nói tự trao cho mình một vai trò
nhất định. Trong khi tự trao cho mình một vai trò, người nói cũng tự phân cho người
nghe một vai trò có tính bổ trợ cho vai trò của mình và mong muốn người nghe chấp
nhận. Ví dụ, khi người nói đặt một câu hỏi, anh ta tự đặt cho mình cái vai trò tìm kiếm
thông tin từ người nghe và mong muốn người nghe đóng vai trò cung cấp thông tin theo
như yêu cầu.
Halliday cho rằng các vai trò nói năng căn bản nhất của con người chỉ bao gồm
hai loại: (1) vai trò trao/ cung cấp (giving) và (2) vai trò đòi hỏi/ bày tỏ nhu cầu
(demanding). Người nói có thể cung cấp một cái gì đó cho người nghe (ví như một mẩu
thông tin) hoặc đòi hỏi từ người nghe một cái gì đó (ví như cung cấp thông tin). Trong
hành động nói, người nói luôn luôn bao hàm sự thể hiện một vai trò kép: Khi trao/ cung
cấp (thông tin) người nói muốn phía bên kia “hãy nhận” (receive); và khi đòi hỏi (thông
tin) người nói thực hiện hành động đòi hỏi để bộc lộ nhu cầu muốn phía bên kia “hãy
trao” (give). Như vậy bản chất của đối thoại là trao đổi. Bản chất của hoạt động thị
trường cũng là trao đổi. Có lẽ sẽ dễ hiểu lập luận của Halliday hơn khi ngầm so sánh
trao đổi (thông tin) trong đối thoại với trao đổi (hàng hoá) trên thị trường.
Halliday không nói hẳn ra như vậy nhưng rõ ràng là ông có hàm ý rằng trong đối
thoại người nói và đối tác của họ (ngườ
i nghe) cùng tiến hành một loại hoạt động có bản
chất tương tự như bản chất của hoạt động trao đổi hàng hoá & dịch vụ trên thị trường.
Chúng ta hiểu thị trường với nghĩa là giao điểm, là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu một
hàng hoá và dịch vụ nào đó tai một thơì điểm nhất định nào đó. Một thị trường được gọi
là th
ăng bằng khi trên thị trường đó cung = cầu. Trong đối thoại, người nói không chỉ
tự nguyện tham gia một hành động (trao/ cung ứng hoặc đòi hỏi/ bày tỏ nhu cầu của
mình) mà còn mong muốn người nghe hành động theo (tiếp nhận cung ứng hoặc trao/
cung ứng thông tin).
Sơ đồ chức năng lời nói (Halliday: 1985)
Trao đổi hàng hoá

bạn đòi hỏi là một hành động (hôn), một vật thể (lọ muối) và ngôn ngữ chỉ là cái được
đưa vào cuộc để bạn hưởng lợi theo “cầu” (demand) của bạn. Halliday gọi đó là cuộc
trao đổi hàng hoá dịch vụ (tác giả bài viết nhấn mạnh). Nhưng nếu bạn nói cái gì đó
với tôi với mục đích muốn tôi nói cái gì đó với bạn, ví dụ “is it Tuesday?” (=Thứ ba rồi
phải không anh?) hay “When did you last see your father?” (=Anh gặp ba anh lần cuối
cùng khi nào?) thì cái được đòi hỏi theo yêu cầu của bạn lại chính là một ngôn phẩm.
Ngôn ngữ vì thế vừa là mục đích vừa là phương tiện theo “cầu” (demand) của bạn. Cái
mà bạn mong muốn lúc này là một sản phẩm ngôn từ (chứ không phải một hành động
hay một vật thể như trong trường hợp trên). Halliday gọi đây là cuộc trao đổi thông tin.
(tác giả bài viết nhấn mạnh). Hai biến thể này của trao đổi, khi gộp lại, cho ta thấy 04
vai trò căn bản của lời nói trong đối thoại, đó là, vai trò đề nghị (offer), vai trò mệnh
lệnh (command), vai trò nhận định (statement), và vai trò phát vấn (question).
Theo ý riêng của chúng tôi, ở đây có một sự tương ứng thú vị giữa đối thoại với
trao đổi hàng hoá dịch vụ thông thường trên thị trường. Trong trao đổi hàng hoá, các đối
tác (người mua và người bán, là hai mặt cung và cầu của thị trường) phải có các hành vi
chào hàng (offer) và hành vi hỏi hàng (request). Những chức năng này (đề nghị, nhận
định, mệnh lệnh, phát vấn) lại được đi kèm bởi một tập hợp các hồi đáp mong muốn
(desired responses) như chấp nhận lời đề nghị, thực hiện mệnh lệnh, thừa nhận một
nhận định, trả lời câu hỏi được phát vấn.
Sơ đồ chức năng lời nói và hồi đáp (Halliday:1985)

Khởi xướng
Đáp ứng theo
mong muốn (cuả
người nói trước)
Hồi đáp tuỳ lựa
chọn (của người
trả lời)
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
7

hình khác hẳn. Thông tin, theo Halliday, sẽ không có chỗ để mà tồn tại nếu không được
chuyên chở bằng phương tiện ngôn ngữ, thông qua hình thức của một cú. Hệ quả là cú
mang cấu trúc nội dung nghĩa mệnh đề. Cú trở thành một đơn vị ngôn ngữ có nội dung
thông tin, trở thành một đơn vị lập luận, nghĩa là một đơn vị có thể được khẳng định
hoặc bị nghi ngờ, phủ định, bị đối kháng, bị phê phán, bị bác bỏ từng phần hay toàn bộ,
bị cho là đáng tiếc, v.v.
Halliday định nghĩa khái niệm mệnh đề nghĩa là “chức năng ngữ nghĩa của cú
trong trao đổi thông tin”. Trong định nghĩa của Halliday, cụm từ “trao đổi thông tin” là
cụm từ có ý nghĩa quan trọng, trao đổi thông tin, chứ không phải là trao đổi hàng hoá và
dịch vụ. “Chúng ta [ ] dùng thuật ngữ proposition (mệnh đề nghĩa) trong nghĩa thông
thường của nó (= bày tỏ ý nguyện) để nói về một hành vi nhận định hay phát vấn.
Nhưng sẽ là hữu ích nếu ta có một thuật ngữ tương đương để đề cập đến các hành vi đề
nghị và mệnh lệnh. Và tình cờ, chúng ta tìm thấy nghĩa thường nhật của “proposition”
trong “I’ve got this proposition to put to you” (=Tôi có ý nguyện này muốn bày tỏ với
anh); chúng ta sẽ đề cập đến chúng [các hành vi đề nghị & mệnh lệnh] qua thuật ngữ
liên quan đến thuật ngữ “proposition”, đó là thuật ngữ proposal (=đề nghị). Chức năng
của cú trong trao đổi thông tin là proposition (=bày tỏ ý nguyện). Chức năng của cú
trong trao đổi hàng hoá & dịch vụ là proposal (=đưa ra đề nghị).” (Halliday:1985, tr.
71).
Từ những trình bày trên chúng ta rút ra:
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
8

 Theo Halliday, mệnh đề nghĩa là đơn vị nghĩa cơ sở của một cú (cú = đơn vị cú
pháp tương ứng với một câu đơn). Như vậy cũng như Jacobs, Halliday coi đơn vị
chuyển tải nghĩa mệnh đề không phải là đơn vị câu nói chung, bao hàm cả câu đơn
lẫn câu ghép. Một mệnh đề nghĩa là một đơn vị thông tin được chuyển tải nhờ một
đơn vị cú pháp là cú, cú với tư cách một đơn vị trao đổi thông tin.
 Về cấu trúc, mệnh đề nghĩa là một tập hợp các khái niệm thành một đơn vị thông tin
có giá trị thông báo, nhờ đó cú thực hiện được chức năng của nó như một thông điệp

thể, một đáp ứng hành động, cái được trao là dưới hình thức ngôn ngữ, cái được nhận là
dưới hình thức phi ngôn ngữ. Thông tin chỉ tồn tại dưới hình thức ngôn ngữ. Hàng hoá
(=thực thể) & dịch vụ (=đáp ứng hành động) tồn tại dưới hình thức phi ngôn ngữ.
Halliday cho ta khái niệm về mệnh đề nghĩa như một đơn vị thông tin được thể hiện
dưới hình thức ngôn ngữ trong giao tiếp. Mệnh đề nghĩa là đơn vị trao đổi thông tin.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009
9
* Việc nhận diện các mệnh đề nghĩa bắt đầu bằng việc phân loại các khái niệm
được trình bày bởi các mệnh đề nghĩa mà các mệnh đề nghĩa này thường có dạng thức
của một cú hoặc một câu đơn, xét về mặt cấu trúc ngữ pháp. Điều này có ý nghĩa đối
với việc tiếp cận và phân văn bản vì mục đích dich thuật. Chúng tôi không nghĩ dịch là
một ngành văn học, nguyên tác là nguồn cung cấp cảm hứng cho rằng người dịch và
dịch thuật là sáng tác lại. Chúng tôi cho rằng dịch là một ngành ngôn ngữ học có liên
quan đến chuyển mã ngôn ngữ giữa hai thứ tiếng. Về căn bản, tư duy con người là
giống nhau, họ chỉ khác nhau ở phương thức biểu đạt tư duy. Mỗi ngôn ngữ có một
phương thức biểu đạt riêng. Nhiệm vụ của người dịch là làm thế nào để chuyển mã (đổi
mã) mà vẫn không đổi (giữ nguyên) nội dung. Phân tích mệnh đề nghĩa là một công cụ
để tiến đến mục đích đó.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Geoffrey Leech, Style in fiction: A linguistic introduction to English fictional
prose, Longman Group Ltd, 1981.
[2] Jens Allwood et al, Logic in Linguistics, CUP, 1987.
[3] M.A.K Halliday, An Introduction to Functional Grammar, Edward Arnold, 1985.
[4] Roderick A Jacobs, A Grammar for English Language Professionals OUP, 1993.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status