Báo cáo nghiên cứu khoa học: " VỐN CON NGƯỜI VÀ ĐẦU TƯ VÀO VỐN CON NGƯỜI" potx - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009
1
VỐN CON NGƯỜI VÀ ĐẦU TƯ VÀO VỐN CON NGƯỜI
HUMAN CAPITAL AND INVESTMENT IN HUMAN CAPITAL

Bùi Quang Bình
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT
Vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích luỹ trong mỗi con
người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động. Nguồn vốn này được khai thác sử dụng
trong quá trình người lao động tham gia vào sản xuất và được phản ánh qua năng suất lao
động và hiệu quả công việc của họ. Cùng với vốn hữu hình nó tạo ra tài sản của nền kinh tế,
nhưng vốn con người là phần c
ấu thành quan trọng nhất trong đó, góp phần vào tăng trưởng
bền vững cho nền kinh tế của mỗi nước. Giáo dục đào tạo như “hệ thống tài chính” để hình
thành và tích luỹ vốn con người của nền kinh tế. Điều này khẳng định tầm quan trọng của đầu
tư cho giáo đào tạo cũng như sử dụng có hiệu quả khoản đầu tư đó để nâng cao ch
ất lượng
hoạt động này trong tương lai.
ABSTRACT
Human capital is the knowledge, skills and experience accumulated in each person in
the process learning, training and working. Capital is exploited as workers engage in production
and is reflected through the efficiency and effectiveness of their work. Along with its capital
tangible assets generated by an economy, human capital is the most important factor which
contributes to the sustainable growth of each country’s economy. Education and training is
regarded as a "financial system" which forms and accumulates human capital of a country’s
economy. This affirms the importance of investments in education and training and effective
uses of these investments in improving the quality of such work in the future.

1. Đặt vấn đề

vốn con người nhờ đầu tư học hành. Sự hao mòn của chúng ở đây cùng là hao mòn vô
hình dưới ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ. Tiến bộ công nghệ làm tư bản hữu hình lạc
hậu và mất giá, còn những kiến thức tích luỹ được cũng bị lạc hậu trong quá trình đó
nếu không được cập nhật thường xuyên thông qua quá trình đào tạo lại hay tiếp tục tự
học tập để bổ sung hoàn thiện. Chúng cũng có những điểm khác nhau nhất định. Thứ
nhất, vốn con người là vốn vô hình gắn với người sở hữu nó, và chỉ được sử dụng khi
người chủ của nó tham gia vào quá trình sản xuất. Loại vốn này không thể mang cho
vay hay thế chấp như vốn hữu hình. Thứ hai, Vốn này gắn với người sở hữu không chia
sẻ và đầu tư dàn trải tránh rủi ro. Thứ ba, Vốn con người dễ dịch chuyển hơn và động
hơn.
Vốn con người cấu thành từ ba nhân tố chính (1) năng lực ban đầu, nhân tố này
gắn liền với yếu tố năng khiếu và bẩm sinh ở mỗi người, (2) những năng lực và kiến
thức chuyên môn được hình thành và tích luỹ thông qua quá trình đào tạo chính quy, (3)
các kỹ năng, khả năng chuyên môn, những kinh nghiệm tích luỹ từ quá trình sống và
làm việc. Năng lực ban đầu nhận được từ cha mẹ và các điều kiện của gia đình và xã hội
khi khi chăm lo cho bà mẹ mang thai và sinh nở. Khi đi học để có năng lực thì người ta
phải bỏ ra chi phí học hành và cuối cùng những trải nghiệm trong cuộc sống làm việc
nhiều trường hợp người ta phải trả giá rất cao.
Như vậy vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích luỹ trong
mỗi con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động được thể hiện trong quá
trình sử dụng trong sản xuất. Vốn con người cũng hao mòn và phải tốn chi phí đề đầu tư
hình thành và là nguồn vốn quan trọng nhất để phát triển của mỗi doanh nghiệp và quốc
gia.
3. Vai trò của vốn con người
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009
3
Trong điều kiện nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá, yếu tố vốn hữu
hình tuy còn giữ vài trò quan trọng nhưng không như trong giai đoạn công nghiệp hoá,
Thay vào đó vai trò của vốn vô hình mà đặc biệt là vốn con người ngày càng lớn hơn.
Đây là nguồn vốn rất quan trọng với các công ty vì được tính vào giá trị của họ, và hình

thời gian dành cho sản xuất, H là vốn con người và sản lượng quốc gia Y phụ thuộc và
nó. Vốn con người được tích luỹ thế nào? Kiến thức và kinh nghiện thu nhận được trong
đào tạo và cuộc sống là hai yếu tố quan trong nhất hình thành vốn con người. Người
thông minh thường biết phân bổ học hành và làm việc một cách hợp lý (như thời gian
dành cho học tập và làm việc), và sau đó là học tập và làm việc (Lucas, 1988). Giả sử
rằng mỗi lao động phân bổ một đơn vị thời gian có thể cho học tập hay làm việc. Học
hay làm việc có thể được mô hình hoá như sau: γH = B(1-u) –δ. Ở đây γH là tỷ lệ tăng
trưởng của vốn con người cho cá nhân điển hình (do tổng hợp từ các cá nhân nên γH
cũng biểu hiện tỷ lệ tăng trưởng của vốn con người vĩ mô, 1-u là thời gian dành cho học
tập, B là mức độ kiến thức biến đổi thành vốn con người, δ là sự giảm giá của vốn con
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009
4
người.
Cốt lõi của mô hình tăng trưởng nội sinh đó là lợi suất không đổi theo quy mô
gắn với việc tạo ra các yếu tố đầu vào, tư bản hữu hình và vốn con người. Đầu tư vào tư
bản hữu hình và vốn con người bắt buộc phải cân bằng giữa tiêu dùng hiện tại và tương
lai. Tiêu dùng tối ưu được xác định từ mô hình tối đa hoá lợi ích của người tiêu dùng.
Trong mô hình này, sở thích người tiêu dùng và tích luỹ vốn con người cùng nhau xác
định mức tăng trưởng dài hạn. Do tăng trưởng kinh tế được xác định từ các biến cầu
trúc trong mô hình nên tăng trưởng được gọi là tăng trưởng nội sinh. Sự gia tăng vốn
con người thể hiện qua mức lương cao hơn và đó không phải là các tác động bên ngoài.
Vì vậy đó không phải là lý do cho sự can thiệp của chính phủ trong khuôn khổ này. Các
tranh luận viện dẫn rộng rãi rằng chính phủ nên hỗ trợ nhiều cho giáo dục vì giáo dục
tốt cho tăng trưởng. Lucas cũng cho rằng mô hình với biểu hiện bên ngoài vốn con
người. Sản lượng chịu ảnh hưởng của lượng vốn con người trung bình H.

Ở đây Y tiếp nhận từ ảnh hưởng tràn lấn. Do trình độ giáo dục trung bình nhận
được có ảnh hưởng một thời gian trước lên sản lượng, điều đó đôi khi được gọi là bên
ngoài tĩnh. Các cá nhân dựa vào sản phẩm biên của vốn con người cá nhân để quyết
định đầu tư vốn con người của họ, tạo ra lượng vốn con người trung bình. Sản phẩm

con người về phương thức tiến hành các hoạt động kinh tế xã hội với mục đích truyền
đạt lại cho những người đi sau. Ngoài ra bản thân xã hội cũng còn phương thức truyền
đạt thông tin kiến thức kinh nghiệm trực tiếp thông qua các phương thức khác như
truyền nghề gia truyền. Giáo dục đào tạo đem tới cho người ta những kiến thức kỹ năng
kinh nghiệm của xã hội được tích luỹ lại và không dừng ở đó theo thời gian còn trang bị
thêm bổ sung cho ngươi ta những kiến thức mới để đáp ứng những yêu cầu của cuộc
sống.
Để có được những năng lực này người ta cần phải bỏ ra chi phí nhất định để học
hành trong các trường học cuối cùng những trải nghiệm trên đường đời, nhiều trường
hợp người ta phải trả giá rất cao – chi phí đầu tư. Các loại chi phí này có thể bao gồm
chi phí nuôi dạy của gia đình và xã hội từ khi mới sinh, để học hành từ mẫu giáo cho
đến hết phổ thông trung học, để đào tạo nghề. Ngoài ra còn những chi phí do thất bại
hay để có thành công trong cuộc sống… Những khoản chi phí này sẽ giúp cho con
người tích luỹ được kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm để rồi làm việc hoàn thành tốt
công việc được giao và đem lại lợi ích lớn hơn. Ảnh hưởng lớn nhất tới mức tích luỹ
vốn con người là giáo dục đào tạo chính quy và quá trình rèn luyện trong lao động. Như
vậy vốn con người là kết quả của quá trình đầu tư. Cũng như vốn hữu hình, vốn con
người cũng phải thường xuyên được đầu tư bổ sung và làm mới thay thế những kiến
thức kỹ năng cũ không còn phù hợp tức vốn đã “bị hao mòn”. Để tích luỹ nhiều vốn con
người thì phải có thời gian tích luỹ nhiều hơn và cũng chi phí cao hơn.
Khi đầu tư vào vốn hữu hình, cần phải căn cứ vào tính khả thi của dự án đầu tư.
Nhưng với vốn con người thì tính khả thi đó phụ thuộc vào năng lực tiếp thu kiến thức
kỹ năng từ giáo dục hay phụ thuộc vào năng lực của mỗi người (Borjas George 2005).
Cơ hội đầu tư vào giáo dục đào tạo gần như bằng nhau cho mỗi cá nhân, nhưng việc tận
dụng các cơ hội đó để có được lợi ích cao là không giống nhau. Mức vốn con người có
thể nhận được phụ thuộc vào năng lực của con người và điều kiện kinh tế của gia đình
họ. Trường hợp khác nhau về năng lực đã có nhiều bằng chứng cho thấy hai người khác
nhau khả năng tiếp nhận những kiến thức, kỹ năng từ giáo dục hay kinh nghiệm từ thực
tế lao động khác nhau rất nhiều. Những người có năng lực cao hơn sẽ hứa hẹn làm việc
hiệu quả hơn, năng suất cao hơn và họ ở đường tiền lương học vấn cao hơn. Mức vốn

động nhằm để thu hồi khoản chi phí đào tạo. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp đào tạo
sẽ nhận ra rủi ro lớn với khoản đầu tư đào tạo lao động của mình, nên sẽ là đầu tư cho
đào tạo thấp, vì vậy khả năng dịch chuyển lao động càng lớn dẫn tới đầu tư thấp. Becker
lập luận rằng vì trong thế giới cạnh tranh những lao động hưởng toàn bộ lợi nhuận từ
đào tạo chung, do vậy họ sẽ tài trợ cho điều đó bằng cách trực tiếp hay thông qua nhận
lương thấp. Từ khi lao động tự tài trợ cho đào tạo chung thì lôi kéo lao động tiêu cực
biến mất và đầu tư thấp trong đào tạo chung chỉ xảy ra khi người lao động bị gượng ép.
Sự sáng tạo quan trọng thứ 2 trong lý thuyết của Backer đó là doanh nghiệp sẽ tài trợ
cho đào tạo đặc thù nhưng với điều kiện lao động chấp nhận làm việc sau đào tạo với
mức lương thấp hơn sản phẩm biên của họ và phải bảo đảm mức lương sẽ cao hơn mức
lương trên thị trường.
Trong hoạt động đầu tư, tính hiệu quả của các dự án đầu tư phụ thuộc vào thời
điểm đầu tư, nếu lựa chọn đúng thì hiệu quả cao và đầu tư sai thì hiệu quả thấp hay thất
bại. Vốn con người được tích luỹ thông qua quá trình đầu tư theo thời gian, tuy nhiên
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(31).2009
7
lượng vốn này cao hay thấp còn phụ thuộc vào thời điểm đầu tư vào giáo dục của mỗi
người. Nếu ai đó đi học đúng tuổi và nhận được giáo dục và nghề nghiệp trẻ thì chính là
đầu tư đúng thời điểm và việc tích luỹ vốn tốt nhất. Công trình nghiên cứu của George
Borjas ( 2005) đã kết luận rằng người ta đi học lúc trẻ sẽ tích luỹ được nhiều hơn “năng
lực” tức kiến thức kỹ năng kinh nghiệm tích luỹ được nhiều hơn. Giáo dục tạo ra và góp
phần tích luỹ vốn con người và làm gia tăng nó theo thời gian do vậy đầu tư đúng thời
điểm sẽ quyết định mức vốn được tích luỹ. Đây là cơ sở để luật giáo dục nhiều nước
quy định độ tuổi đến trường của trẻ em chẳng hạn ở Việt Nam trong điều 6 về Giáo dục
phổ thông của Luật giáo dục quy định độ tuổi bắt đầu vào lớp một là sáu tuổi.
Như vậy giáo dục đào tạo cùng với các hình thức khác của nó đem tới cho mỗi
người học vốn kiến thức kỹ năng và kinh nghiệm và giúp họ không ngừng hoàn thiện
gia tăng tích luỹ chúng. Hay nói cách khác, vốn con người được hình thành và tích luỹ
gia tăng nhờ quá trình giáo dục đào tạo. Mức vốn con người phụ thuộc vào thời gian và
chi phí đầu tư để học hành trong hệ thống giáo dục và từng trải trong cuộc sống.

2. Mincer, Jacob, Schooling Experience and Earnings, Columbia University Press,
1974.
3. Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, NXB Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội –
2006.
4. Pedro, Carneiro và James J. Heckman, The Evidence on Credit constraints in post –
secondary schooling, Economic journal, 112 - 2003.
5. Rauch, J., 1993, Productivity gains from geographic concentration of human capital:
evidence from the cities, Journal of Urban Economics, vol. 34, pp. 380-400.
6. W.J Waines, The Role of Education in the Development of Underdeveloped
Countries, Economics and Political Science, XXIX, 1963 – JSTOR.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status