báo cáo nghiên cứu khoa học 'giọng điệu thơ trào phúng tú mỡ trong “dòng nước ngược”' - Pdf 15

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
39
Giọng điệu thơ trào phúng Tú Mỡ trong
Dòng nớc ngợc
Nguyễn Don Quỳnh
(a)
Tóm tắt. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày những nghiên cứu về thơ trào
phúng Tú Mỡ trên phơng diện giọng điệu nghệ thuật. Bài viết đợc triển khai trên
hai nội dung chính: thứ nhất, xác định các loại giọng điệu thơ trào phúng Tú Mỡ theo
hai tiêu chí cụ thể: tiêu chí điểm nhìn nghệ thuật và tiêu chí cảm hứng; thứ hai, xem
xét mối quan hệ giữa giọng điệu thơ Tú Mỡ với giọng điệu của thơ ca thời đại, của
khuynh hớng mà nhà thơ là đại biểu của khuynh hớng, thời đại ấy.

1. Giọng điệu văn chơng vừa cho
phép ta nhận ra gơng mặt riêng của
tác giả, vừa giúp nhà văn bộc lộ rõ tài
năng của mình. Đã có nhiều công trình
luận bàn về các vấn đề của giọng điệu.

đây chúng tôi xin đợc đi vào một
trờng hợp cụ thể: tìm hiểu giọng điệu
thơ trào phúng của Tú Mỡ trong Dòng

bộc lộ.
Trong nhiều trờng hợp, ở thơ trữ
tình thông thờng, giọng kể chuyện
khách quan, miêu tả khách quan vẫn
xuất hiện với một vai trò nổi bật:
Những bài thơ vịnh vật trong thơ cổ
điển đặc một giọng tả; những bài thơ kể
chuyện trong Thơ mới (1932 - 1945) nổi
lên với một giọng thuật sự rõ ràng.
Song tất cả đó thực chất chỉ là những
tiếng nói khác nhau của chủ thể trữ
tình khi anh ta muốn dấu mình. Những
chi tiết, sự kiện của câu chuyện đã đợc
cái tôi trữ tình nội cảm hoá nhằm
chuyển tải những xúc động của tâm

Nhận bài ngày 27/11/2006. Sửa chữa xong 14/12/2006.

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
40
hồn. Còn trong thơ trào phúng, vấn đề
đã có nhiều khác biệt: Giọng tự thuật
tâm trạng vẫn phát huy hiệu lực, nhng
nhà thơ đặc biệt tô đậm giọng thuật sự

văn vần trong truyện nôm bình dân của
cha ông xa hay lối kể vè độc đáo. Thử
phân tích một ví dụ cụ thể để minh hoạ
cho điều này. Mở đầu bài S cậu đi hát
ả đào, Tú Mỡ đã vào bài bằng một giọng
kể chuyện rất tự nhiên:
Có hai s cậu chùa Bà
ăn no rửng mỡ la cà rong chơi
Tiếp đến nhà thơ kể từng chi tiết,
sự kiện xẩy ra với hai s cậu ngợc đời,
lố bịch. Sự dẫn dắt của tác giả bằng các
câu thơ S rằng: Chơi gió chơi mây,
Rằng: Nay trong cuộc tiêu giao đã tạo
ra cho giọng thơ của Tú Mỡ phảng phất
giọng kể chuyện của Nguyễn Du trong
Truyện Kiều và của các tác giả truyện
thơ nôm bình dân thế kỉ XVIII. Đây là
biểu hiện đặc trng trong giọng kể của
Tú Mỡ mà các nhà thơ trào phúng khác
không có đợc.
Đi liền với giọng kể, giọng tả là
giọng bình phẩm, đánh giá của nhà thơ.
Điều khác biệt với thơ trào phúng trớc
đây là Tú Mỡ thờng dành riêng những
câu thơ, đoạn thơ để bình phẩm, đánh
giá về đối tợng. Nó có thể xuất hiện ở
đầu bài (nh bài Đốt vàng đốt mã, Cáo
phó ), có thể xuất hiện giữa bài hoặc
cuối bài (Hội Gióng, Hội Láng, Hà Nội
ăn chơi), nhng bao giờ nó cũng mang

thanh minh, bày tỏ về tính cách của
mình: Tôi vốn trời sinh tính khác ngời,
Tú này béo mép ngời không béo Song
nhìn chung giọng tự thuật không phải
là một nét nổi bật trong thơ Tú Mỡ. So
với Nguyễn Khuyến, Tú Xơng, giọng
điệu này của Tú Mỡ còn tỏ ra đơn điệu,
nghèo nàn, cha gây đợc xúc động, ám
ảnh trong lòng ngời đọc.
Nh vậy, có thể nói rằng: giọng
điệu chủ thể trong thơ trào phúng của
Tú Mỡ rất đa dạng, phong phú. Qua
giọng điệu đó ta thấy tâm thế của nhà
thơ là tâm thế của một kẻ luôn tỉnh táo
để thức nhận vấn đề.
2.1.2. Giọng điệu khách thể là
giọng của đối tợng trào phúng tự cất
lên trớc cuộc đời. Bằng việc để cho đối
tợng tự nói bằng giọng của mình, tác
giả đã tìm đợc một hình thức khám
phá và tái hiện bản chất của cái hài
một cách thuyết phục. Thực ra giọng
điệu khách thể từ xa đã thấy xuất
hiện trong thơ của Nguyễn Khuyến với
bài Lời vợ anh phờng chèo. Nhng
trờng hợp nh thế không nhiều trong
thơ trào phúng cổ điển. Đến thơ Tú Mỡ
nó trở nên phổ biến và có những đặc sắc
đáng kể.
Có thể thấy giọng điệu khách thể

một cách riêng trong sáng tác của mình.
Để làm rõ vấn đề này, trớc hết xin nói
qua về giọng bông lơn, đùa cợt trong thơ
trào phúng của Nguyễn Khuyến, Tú
Xơng, Tản Đà. Đọc những bài thơ Tự
trào của Nguyễn Khuyến, Tự cời
mình, Ông phỗng đá, Văn tế sống vợ
của Tú Xơng, Tự thuật, Tự trào, Say
của Tản Đà ta đều nhận ra đằng sau cái
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
42
vẻ bông đùa kia là một nỗi niềm xót xa
của nhà thơ đang rất cần đợc chia sẻ.
Đó là sự tự cời mình, nhng là cời
bằng nớc mắt, bằng tâm trạng của
những kẻ bất bình với thực tại, đối
nghịch với thực tại. Còn trong thơ Tú
Mỡ, ở những bài viết về mình, về bạn
hoặc về vợ, cái tôi trào phúng đã xuất
hiện trong một vị thế khác hẳn. Khi
đứng trớc thực tại xấu xa nhà thơ có
thái độ phủ nhận, phản kháng quyết
liệt, thì khi đứng trớc bạn bè, trớc
chính mình ông lại cởi bỏ hết những u

xng hô gọi tên thân mật, suồng sã là
biểu hiện của một cái tôi trào phúng
đang vây quanh giữa mọi ngời. Nhà
thơ không tách mình ra mà kéo tất cả
vào trong mối quan hệ bạn bè.
Giọng bông lơn, đùa cợt còn thể
hiện ở những cách đùa nhiều khi có vẻ
rất quá lời của Tú Mỡ khi viết về bạn.
Ông nói về Tú Xơn:
Bác ơi tôi hỏi lần thần
Bác phò phụ nữ đỡ đần hai cô
Hay vì hôi nách rình rình
Chẳng ai chơi với một mình Tú Xơn
(Cùng bác Tú Xơn)
Nhà thơ vẽ chân dung ngời tình nhân
cha quen biết:
Tên với họ mô tê chẳng biết
Hình với dung xấu đẹp hay không?
Hơng trời nguyệt đắm hoa say
Hay là nhan sắc sánh tày Dạ Xoa?
Xuân mấy độ tuổi già hay trẻ
Nặng bao cân ngời khoẻ hay còm?
Tóc mây óng mợt đen ngòm
Hay là đỏ bẻm nh chòm râu ngô?
(Th gửi ngời tình nhân không quên
biết)
Rõ ràng, qua những bài thơ trên
đây, ta nhận ra cái cốt lõi làm nên giọng
thơ hài hớc trong thơ Tú Mỡ chính là
tình cảm vui đùa trong sáng. Nó khác

ngôn, 4 bài lục bát, còn lại là thể hát
nói và thất ngôn bát cú. Với tính chất
phóng túng trong việc tổ chức âm luật,
nhịp điệu, các thể thơ này rất phù hợp
cho việc bộc lộ những tình cảm trong
sáng, vui đùa của nhà thơ.
Nh vậy, giọng bông lơn, đùa cợt
trong thơ Tú Mỡ có đợc những sắc thái
riêng nhờ chỗ: Tác giả đã biết kế thừa
và phát huy giọng hài hớc trong thơ
trào phúng trớc đó trên cơ sở những
cảm xúc của tâm hồn mình.
2.2.2. Giọng châm biếm, mỉa mai:
Giọng châm biếm, mỉa mai là giọng
điệu chủ đạo trong thơ trào phúng Tú
Mỡ. Nó xuất hiện dới nhiều hình thức
giọng điệu khác nhau: Giọng chế giễu,
nhạo báng; giọng giả vờ; giọng lên án, tố
cáo sau đây xin đợc đi vào từng hình
thức cụ thể.
Từ xa, giọng chế giễu, nhạo báng
đã trở nên phổ biến trong thơ trào
phúng. Nó thờng đợc dự báo ngay từ
nhan đề, ví dụ: Chế ông đồ Cự Lộc của
Nguyễn Khuyến, Chế ông huyện, Chế
gái đĩ của Tú Xơng. Đến thơ Tú Mỡ nó
đã trở nên sinh động và đa dạng hơn
nhiều. Ngời đọc dễ dàng nhận ra giọng
chế nhạo của Tú Mỡ trong hệ thống từ
ngữ mà nhà thơ dùng để giới thiệu và
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
44
giỏi gớm, giỏi ghê khi vẽ chân dung ông
Phạm Duy Khiêm đã đem đối tợng vào
khu vực tiếp xúc thân mật đến thô bạo,
ở đó có thể suồng sã sờ mó nó từ khắp
mọi phía, lật ngửa, lộn trái, nhòm ngó
từ dới, từ trên, đập vỡ bề ngoài để nhìn
vào bên trong một cách tự do (dẫn
theo Trần Đình Sử) [6].
Cũng có khi giọng chế giễu của nhà
thơ lại đợc biểu hiện bằng một hình
thức trái ngợc với điều vừa nói. Tác giả
thờng trình bày cái tầm thờng, vặt
vãnh bằng một giọng thơ hệ trọng nh
thể đang nói về một điều gì lớn lao. Đọc
bài thơ Anh đốc, Cái giây kim tòng ta
sẽ thấy rõ điều đó.
Bên cạnh giọng chế giễu, nhạo
báng, Tú Mỡ đã sử hình thức giọng giả
vờ. Nhà thơ giả vờ xót thơng, giả vờ an
ủi, giả vờ ngợi ca, tán thởng. Nguyễn
Khuyến xa cũng đã từng giả vờ hỏi
thăm ân cần một tên quan tuần bị cớp
(Hỏi thăm quan tuần mất cớp), Đồ

nguyền rủa:
Buồn mà chi! bực mà chi!
Miếng ngon chấm mút no nê quá
rồi
Để phần kẻ khác ông ơi
Khỏi mang cái tiếng con ngời nan
du
Các bài thơ Ông trùm Phạm Lê
Bổng, Nam mô bồ tát bồ hòn, Các ông
nghị đi thăm đồn điền di dân lại
mang giọng tán dơng vờ vĩnh. Nhà thơ
ngợi ca, nhng là một sự ngợi ca đầy ác
ý. Ví dụ: Bằng con mắt của các ông
nghị, nhà thơ đã tán thởng các món ăn
đợc tiếp đãi một cách rất hào phóng:
Nào là lòng lợn mắm tôm
Nào là bò tái, chấm tơng điểm
gừng
Thịt dê nớng chả thơm lừng
Tiết dê pha rợu vô cùng bổ dơng
(Các ông nghị đi thăm đồn điền di dân)
ở những bài thơ mang giọng điệu
giả vờ này ta thấy xuất hiện rất nhiều
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007

đặc trng của thơ trào phúng là kiểu
tác giả luôn bày tỏ sự phê phán và phủ
nhận thực tại, đấu tranh trớc cái xấu,
cái lạc hậu, lỗi thời.
Qua sự phân tích trên ta có thể
thấy thơ trào phúng của Tú Mỡ có rất
nhiều loại giọng điệu khác nhau.
3. Có một vấn đề mà các nhà
nghiên cứu văn học và lý luận văn học
rất quan tâm khi tìm hiểu giọng điệu
nghệ thuật là xác định mối quan hệ
giữa giọng điệu của tác giả và giọng
điệu của thời đại, của trào lu, khuynh
hớng mà nhà văn thuộc vào. Họ đã chỉ
ra rằng giọng điệu của thời đại, của
khuynh hớng góp phần làm nên giọng
điệu của tác giả; còn giọng điệu của tác
giả là sự cụ thể hoá giọng điệu của thời
đại. Trong nhiều trờng hợp giọng điệu
của tác giả đã phá vỡ cấu trúc giọng
điệu của thời đại để vợt thoát lên,
khẳng định chính mình. Có thể thấy rõ
mối quan hệ này trong thơ trào phúng
của Tú Mỡ.
3.1. Giọng điệu của Thơ mới (1932 -
1945) là giọng điệu cá nhân, cá thể. Đó
là giọng của một cái tôi đã đợc giải
phóng và luôn khát khao đợc thành
thực đến tận cùng. Giọng điệu đó đã
ảnh hởng rất lớn đến sự hình thành

cuộc đời. Còn giọng thơ của Đồ Phồn
sâu cay quá, lắm lúc lại bi thảm khiến
ngời ta không thể cời đợc nữa [4].
Điều đó làm phong phú thêm cho giàn
hợp xớng của thơ ca hiện đại.
Tóm lại, trên đây là một cái nhìn
bao quát về giọng điệu thơ trào phúng
của Tú Mỡ trong Dòng nớc ngợc. Sự
nhìn nhận nh thế cha đủ nói lên tất
cả nhng cũng đã giúp ta phần nào
nhận ra đợc những đặc trng về phong
cách trào phúng của nhà thơ. Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Đăng Điệp, Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học, Hà Nội, 2002.
[2] Nguyễn Đăng Điệp, Vọng từ con chữ, NXB Văn học, Hà Nội, 2003, tr.33.
[3] Nguyễn Thái Hoà, Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo dục, Hà Nội,
2000, tr.170.
[4] Bùi Quang Huy, Thơ ca trào phúng Việt Nam, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2003,
tr. 584.
[5] Lữ Huy Nguyên, Hồ Quốc Cờng, Thanh Loan, Tú Mỡ toàn tập, Tập 1, NXB Văn
học, Hà Nội, 1996.
[6] Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Tú, Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn
Công Hoan, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.70.

Sumary

Tu Mos satirical poetry feature in the poem Adverse current


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status