TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA: LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Đề tài thảo luận
Môn : Xã hội học đại cương
Đề tài 10: Phân tích những biến động của thành thị
đối với sự phát triển của cộng đồng trong điều kiện
hiện nay.
Giảng viên hướng dẫn :
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 06
Lớp học phần : 1408RLCP0421
Hà Nội, Ngày 24/4/ 2014
1
Danh sách nhóm 6
STT
Họ và tên Phân loại Chữ ký
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
1
Mục lục
Lời mở đầu 3
Nội dung 5
2.5.5. Giao thông vận tải 25
2.5.6. Quy hoạch và kết cấu đô thị 26
2.5.7. Trung tâm văn hóa, giải trí, thể dục và thể thao 27
Kết luận 27
Tài liệu tham khảo 28
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
3
Ban đầu, Xã hội học Đô thị nghiên cứu hết sức rộng, theo A.
Boskoff: "Gia đình và hôn nhân, giáo dục trẻ em, tội phạm, đặc biệt là
tội phạm trẻ em, sự di cư, vấn đề chủng tộc, người gia, sức khoẻ tâm lý,
giai cấp xã hội, tôn giáo học vấn và các xu hướng trong các đời sống xã
hội-đó là phạm vi các vấn đề xã hội học đô thị nghiên cứu".
Các vấn đề nghiên cứu ở đây chiếm đa số các vấn đề xã hội. Điều này
cho thấy khi xã hội phát triển càng cao thì nảy sinh càng nhiều vấn đề
phức tạp hay nói xã hội học đô thị ra đời trong bối cảnh xã hội nông
thôn đang thay đổi nhanh chóng, các kiểu quan hệ truyền thống bị thay
đổi trong xã hội hiện đại.
Quá trình đô thị hóa: xu hướng đô thị hóa gia tăng, khu vực nông thôn
ngày càng thu hẹp, khu vực đô thị ngày càng mở rộng kéo theo sự tích
tụ, tập trung dân cư, mật độ dân số cao, rất nhiều hiện tượng xã hội
phức tạp khả năng kiểm soát của xã hội đối với mỗi hành vi của một cá
nhân là khăng khít, vì quan hệ xã hội ở đô thị là quan hệ xã hội mang
tính chất giao tiếp và đa dạng. Quá trình đô thị hóa làm thay đổi các
nguy cơ xã hội, các tệ nạn xã hội. Cơ cấu xã hội ở đô thị là quan hệ
mang giao tiếp và đa dạng, phức tạp và đan xen nhau. Đô thị có rất
nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội. Phân tầng xã hội, phân hóa giàu
nghèo ở đô thị diễn ra rát mạnh mẽ. Ở đô thị có người giàu nhất mà
cũng có người nghèo nhất. Lối sống đô thị là lối sống rất phức tạp, vừa
có chung của những người ở đô thị, vừa có cái riêng của từng giai cấp
Xã hội học đô thị là một nhánh của xã hội học chuyên biệt, nghiên
5
cứu về nguồn gốc, bản chất và các quy luật phát triển và hoạt động của
xã hội học
1.1. Khái niệm
1.1.1. Khái niệm đô thị
Đô thị là một điểm dân cư hiện đại, là nơi tập trung những
dân cư có những hoạt động phi nông nghiệp (chiếm 80%), thực
hiện các chức năng sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải,
dịch vụ v à là nơi tập trung chức năng quản lý hành chính của
một địa phương. Đó còn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá,
khoa học của một v ùng lãnh thổ nhất định Như vậy, đô thị có
nét nổi bật là tập trung những dân cư có các hoạt động phi nông
nghiệp (chiếm từ 70 -80%). Họ là những người thực hiện những
chức năng khác nhau như sản xuất trong nhà máy, các ngành
nghề tiểu thủ công nghiệp trong các hộ gia đ ình, hoạt động giao
thông vận tải dưới các hình thức khác nhau như xích lô, xe bò,
lái xe hơi, xe ôm và các dịch vụ thuê mướn… Chỉ xét riêng các
yếu tố ấy cũng có thể thấy đô thị hết sức đa dạng và phức tạp.
1.1.2. Khái niệm xã hội học đô thị
Là một nhánh của xã hội học chuyên biệt, xã hội học đô thị
nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất và các quy luật phát triển và
hoạt động của đô thị.
1.2. Lịch sử hình thành xã hội học đô thị
Cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, công nghiệp hoá và quá trình đô thị
hoá mạnh mẽ đã làm nảy sinh vô số những vấn đề xã hội tiêu cực và
phức tạp tại các đô thị và vì vậy đã thu hút sự chú ý của các nhà xã hội
học của Phương Tây.
6
Tác phẩm "Đô thị" xuất bản năm 1905, Max Weber đã chứng minh
hội nảy sinh trên cơ sở lối sống, giao tiếp của xã hội đô thị cũng như
trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, trong đời sống gia
đình đô thị.
- Về quá trình quản lý đô thị, các yếu tố xã hội cũng như hậu quả
của quá trình di dân, sự hoạt động của người dân thành phố. Sự
phân loại các thành phố cũng như vai trò của các thành phố lớn
trong hệ thống đô thị của xã hội.
- Về cơ cấu xã hội cũng như các vấn đề nảy sinh và sự chuyển biến
xã hội ở đô thị. Xem xét hàng loạt mối quan hệ tạo nên cơ cấu xã
hội của đời sống đô thị như mối quan hệ giữa các lĩnh vực hoạt động
cơ bản của đời sống xã hội ở đô thị (công nghiệp, tiểu thụ công
nghiệp, dịch vụ, ) hoặc mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp
xã hội của đô thị (công nhân, tư sản, trí thức, ) hay mối quan hệ
giữa khu vực dân cư trong thành phố (khu vực người da đen, người
Việt Nam, người Trung Quốc, ).
2. Quá trình hình thành,phát triển và vấn đề quản lí đô thị ở Việt Nam
2.1. Quá trình hình thành và phát triển đô thị ở Việt Nam
Ở Việt Nam và một số nước đang phát triển quá trình đô thị hoá diễn ra
tương tự như nhiều nước phát triển “đô thị hoá quá tải”, song Việt Nam có
những đặc thù riêng. Có thể điểm qua một cách sơ lược quá trình đô thị hoá ở
Việt Nam bằng các mốc lịch sử nổi bật sau đây:
2.1.1. Thời kỳ phong kiến (từ năm 1858 trở về trước):
+ Các thành thị Việt Nam thời kỳ này chủ yếu là các thành thị hành chính và
thương mại. Nó được hình thành trên cơ sở những thành luỹ lâu đài của vua
8
chúa phong kiến trên những khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho giao
lưu buôn bán.
+ Về kinh tế, trong khuôn khổ nền kinh tế tiểu nông đóng kín.
+ Về chính trị - xã hội,quan hệ cộng đồng làng, xã chiếm ưu thế tuyệt đối.
Thành thị lúc này không có vai trò và địa vị kinh tế đối với nông thôn và xã
đất nước cho nên các thành phố ở miền Bắc là quá trình “giải đô thị” sơ tán
người và các cơ sở về nông thôn để giảm thiệt hại do cuộc phá hoại bằng
không quân của đế quốc Mỹ.
* Chính vì vậy, các đô thị ở miền Bắc thời kỳ n ày có quy mô nhỏ gọn để thực
hiện hai chức năng vừa sản xuất vừa chiến đấu. Mỗi th ành phố là một pháo
đài (50 thành phố là 50 pháo đài).
Tại Miền Nam:
* Do chính sách khủng bố và bom đạn của Mỹ - Nguỵ, đặc biệt là chiến dịch
“bình định nông thôn”, “tát nước bắt cá” của chúng cho nên ở nông thôn đã
xảy ra tình trạng di dân bắt buộc vào thành phố.
* Chính vì vậy, ở miền Nam đã xảy ra quá trình đô thị hoá cưỡng bức, hàng
triệu người dồn về các đô thị như Sài Gòn, Đà Nẵng, Cần Thơ làm cho dân số
tăng lên gấp hai đến ba lần khiến cho các thành phố quá tải (từ tỷ lệ dân thành
thị là 15% đã tăng lên đến 60% năm 1970 với mật độ dân số là 34.000
người/km2).
2.1.4. Thời kỳ 1975 đến nay:
+ Thời kỳ này quá trình đô thị hoá đã lấy lại nhịp độ phát triển bình thường
trong điều kiện hoà bình.
10
+ Để khôi phục lại đô thị trong điều kiện ho à bình nhiều thành phốmới ra
đời, nhiều điểm dân cư của nông thôn trước đây như các thị trấn, thị tứ thì nay
đã trở thành các điểm dân cư đô thị.
+ Mạng lưới đô thị của cả nước có khoảng hơn 500 thành phố, thị xã, thị trấn.
Nhìn chung, các đô thị của Việt Nam từ khi cả nước thống nhất đến nay đã có
nhiều thay đổi.
+ Quá trình đô thị hoá đã được tiến hành nhanh hơn, cao hơn tạo ra những
chuyển biến hết sức căn bản, đặc biệt l à từ năm 1988 trở lại đây và đồng thời
mang một số đặc điểm sau đây:
* Chức năng của các thành phố về cơ bản vẫn như cũ và phát triển thêm một
số chức năng mới như: du lịch, sản xuất, dịch vụ.
thị:
+ Do sự tác động trực tiếp của việc cải cách kinh tế đ ã tạo ra sự
phân tầng xã hội và phân hoá giàu nghèo trong dân cư đô thị, cụ thể
là, ở các đô thị lớn, một bộ phận dân cư có được những điều kiện
chủ quan và khách quan thuận lợi nên đã có thể ổn định nhanh cuộc
sống gia đình và ngày càng gia tăng mức sống.
+ Trong khi đó, một bộ phận khác trong xã hội không những không
đủ điều kiện để khai thác các vận hội, cơ may trong cơ chế mới
mà còn bị những điều kiện mới (do sự chuyển đổi cơ chế) làm cho
cảnh sống của họ ngày càng sa sút, điều đó đã tạo ra một sự phân
hoá giàu nghèo trong cư dân đô thị và khoảng cách ngày càng gia
tăng.
+ Tại các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,
Hải Phòng, Cần Thơ, Biên Hoà, Nha Trang do tính phức tạp và năng
động của đời sống đô thị, do tính đa dạng trong c ơ cấu nghề nghiệp
12
của dân cư, vấn đề phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo càng nổi
lên mạnh mẽ.
+ Nó tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống x ã hội cũng như
đến cơ may cuộc đời mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội.
+ Trong kinh tế, phân tầng xã hội được thể hiện ở sự chênh lệch về
thu nhập và thù lao; trong lĩnh vực giáo dục là tình trạng thất học,
bỏ học của số đông con em các gia đ ình nghèo; trong lĩnh vực dịch
vụ xã hội là việc chi phí cho khám chữa bệnh, an ninh, nhà ở không
phải ai cũng đủ tiền chi trả…
2.2.3. Sự chuyển đổi các định hướng giá trị của các nhóm trong xã
hội:
+ Sự phân hoá xã hội như trên đã kéo theo sự chuyển đổi các định
hướng giá trị trong đời sống đô thị hiện nay, b iểu hiện của nó là
trước đây, các giá trị của cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và của dân
hữu trách nhận diện đầy đủ và toàn diện hơn về đô thị Việt Nam
hiện nay để kịp thời vạch ra những đối sách giải pháp, chiến l ược
phát triển đô thị thành công trong tương lai.
2.3. Vấn đề quản lý và phát triển đô thị ở Việt Nam hiện nay
Hiện nay nước ta có khoảng 76 đô thị loại 30.000 dân trở lên và
khoảng 400 thị trấn nhỏ. Tổng số dân đô thị là khoảng 25 triệu
người, chiếm trên 29% tổng số dân cả nước. Dự kiến đến năm 2010,
dân số đô thị sẽ chiếm tới 35-48% trong đó khoảng 50-60% thuộc 3
thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.3.1. Hiện trạng môi trường đô thị
Từ năm 1995 trở lại đây, các thành phố lớn như Hà nội, Hải
Phòng, thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành kiểm tra tình trạng
14
môi trường các nhà máy, doanh nghiệp cũng như các khu dân cư
và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Số liệu cụ
thể như sau:
2.3.1.1. Hệ thống cấp nước đô thị
Theo kết quả thống kê cho biết, khoảng 70% hệ thống cấp nước
đô thị lấy từ nguồn nước mặt, 30% lấy từ nguồn nước ngầm. Hệ
thống phân phối nước lại cũ kỹ, hư hỏng, rò rỉ làm thất thoát tới
30-40% lượng nước cung cấp. Như vậy lượng nước máy cung
cấp đến người dân đô thị còn thấp (ở các thành phố loại I, tỉ lệ
dân số được cung cấp nước máy chiếm 49,2%, ở thành phố loại
II tỉ lệ này là 47,1%) . Còn lại phần lớn dân cư tự khoan giếng
lấy nước sinh hoạt. Hiện nay, số lượng giếng khoan trên địa bàn
các thành phố như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh là không thể
kiểm soát nổi. Chính tình trạng khoan giếng một cách bừa bãi
như vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn nước mặt và nước
ngầm gây ô nhiễm nguồn cung cấp nước chính cho các nhà máy
nước đô thị.
2.3.1.4. Hệ thống xử lý chất thải rắn và tình trạng ô nhiễm đất
Kể từ năm 1997, Nhà nước đã có nhiều văn bản về quản lý
chất thải rắn ở các khu đô thị và khu công nghiệp nhưng vấn đề
này vẫn tồn tại nhiều bức xúc. Trong năm 2000, tổng lượng rác
thải đô thị ước tính khoảng 18 nghìn m3/ngày (82% là rác thải
sinh hoạt) nhưng mới chỉ thu gom được khoảng 45-55%.
Hiện nay ở các thành phố lớn chưa có biện pháp xử lý rác thải
đúng tiêu chuẩn kỹ thuật. Ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
đã có xưởng xử lý rác thải hữu cơ nhưng công suất thấp (chỉ
bằng 1% lượng rác thải trong thành phố).
16
Rác thải bệnh viện đang là một vấn đề gây rất nhiều sự chú ý
của người dân. Các bệnh viện hầu hết chưa có lò đốt rác hợp vệ
sinh. Không những thế khu vực đặt lò đốt rác lại sát ngay khu
dân cư, khi đốt dân cư xung quanh sẽ hít phải những mùi rất khó
chịu và rất độc hại. Đó là chưa kể đến tình trạng rác thải bệnh
viện không được phân loại mà đổ chung với rác thải thông
thường không qua xử lý. Đây là nguy cơ lây lan các căn bệnh
truyền nhiễm.
Gần đây, ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội nhiều bệnh
viện đã có lò đốt rác thải hợp tiêu chuẩn vệ sinh y tế nhưng vẫn
chưa xử lý hết được lượng chất thải bệnh viện. Ngoài ra ở một
số bệnh viện nhỏ do kinh phí còn hạn hẹp nên không có lò đốt
rác hoặc nếu có thì cũng không thể đưa vào hoạt động.
Phương pháp xử lý rác phổ biến hiện nay ở các đô thị là chôn
ủ tại các bãi rác tập trung. Nhưng hiện nay chưa có bãi rác nào
được coi là đảm bảo được vệ sinh môi trường, từ đó gây ô
nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm không khí khu vực
lân cận.
2.3.1.5. Hệ thống giao thông và tình trạng ô nhiễm không khí
đảm không gian, và kiến trúc văn hoá - xã hội truyền thống.
- Duy trì hoặc đổi mới các chức năng thiết chế xã hội cho phù
hợp với điều kiện đô thị công nghiệp, trung tâm chính trị v à văn
hoá như giáo dục, hệ thống an sinh xã hội, hệ thống pháp luật…
để đảm bảo trật tự xã hội đô thị lành mạnh.
- Chú ý các chính sách xã hội về phúc lợi (nhà cửa, trường học,
phương tiện đi lại, thuốc men y tế) cho các tầng lớp nhân dân đô
thị, đặc biệt là các đối tượng ưu tiên, người có công với cách
mạng, trẻ em, người già cô đơn, bệnh tật nghèo khổ, người vô
gia cư và các đối tượng yếu thế khác.
18
2.4. Một số giải pháp cho các vấn đề đô thị hiện nay
2.4.1. Biện pháp chống tiếng ồn
Trồng cây xanh ngăn cách giữa khu dân cư với các khu công nghiệp, đường
giao thông làm giảm cường độ âm thanh khi lan truyền trong không khí
khoảng 15-18dB.
2.4.2. Biện pháp điều chỉnh giao thông
- Cải thiện vận tải công cộng như cấu tạo tuyến đường hiệu quả hơn, giá vé
thấp hơn, thông tin tốt hơn, dịch vụ phục vụ thường xuyên hơn … Đây là biện
pháp cần có sự hỗ trợ tích cực và bù lỗ của chính phủ để đạt được lợi ích lâu
dài, làm cho vận tải công cộng trở nên hấp dẫn và thuận tiện hơn cho người
dân, giảm tình trạng ách tắc giao thông do lưu lượng xe lưu thông trên đường
quá lớn.
- Đặt ít bãi đỗ xe trong thành phố hoặc đánh thuế cao trên các bãi đỗ tự do ở
các nơi làm việc, tăng lệ phí đỗ xe. Tuy nhiên với Việt Nam, một nước có mật
độ giao thông bằng ô tô còn thấp thì biện pháp này hiện nay chưa thích hợp
nếu áp dụng quá cứng nhắc.
- Xây dựng lại các phố, xây đường dành riêng cho người đi xe đạp, tách biệt
hẳn với đường dành cho động cơ.
2.4.3. Biện pháp giải quyết rác thải
dân số phân theo địa phương tăng 7,4 %. Trong các thập niên gần đây, Thành
phố Hồ Chí Minh luôn có tỷ số giới tính thấp nhất Việt Nam, luồng nhập cư
từ các tỉnh khác vào Thành phố Hồ Chí Minh luôn có số nữ nhiều hơn số
nam.
Sự phân bố dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều. Trong khi một
số quận như 4, 5,10 và 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², thì huyện
20
ngoại thành Cần Giờ có mật độ tương đối thấp 98 người/km². Về mức độ gia
tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên khoảng 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học
lên tới 2,5%. Những năm gần đây dân số các quận trung tâm có xu hướng
giảm, trong khi dân số các quận mới lập vùng ven tăng nhanh, do đón nhận
dân từ trung tâm chuyển ra và người nhập cư từ các tỉnh đến sinh sống. Theo
ước tính năm 2005, trung bình mỗi ngày có khoảng 1 triệu khách vãng lai tại
Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2010, con số này còn có thể tăng lên tới 2
triệu.
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn thành phố có 13 Tôn giáo khác
nhau đạt 1.983.048 người, nhiều nhất là Phật giáo có 1.164.930 người, tiếp
theo là Công Giáo đạt 745.283 người, đạo Cao Đài chiếm 31.633 người, Đạo
Tin lành có 27.016 người, Hồi Giáo chiếm 6.580 người, Phật Giáo Hòa Hảo
đạt 4.894 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 1.387 người. Còn lại các
tôn giáo khác như Ấn giáo có 395 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 298
người, Minh Sư Đạo có 283 người, đạo Bahá'í có 192 người, Bửu Sơn Kỳ
Hương 89 người và 67 người theo Minh Lý Đạo.
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm
2009, toàn Thành phố Hồ Chí Minh có đủ 54 thành phần dân tộc cùng người
nước ngoài sinh sống. Trong đó, nhiều nhất là người Kinh có 6.699.124
người, các dân tộc khác như người Hoa có 414.045 người, người Khmer có
24.268 người, người Chăm 7.819 người, người Tày có 4.514 người, người
Mường 3.462 người, ít nhất là người La Hủ chỉ có 1 người
2.5.2. Y tế
cấp II, 81 trường cấp III và 55 trường cấp II, III. Ngoài ra, theo con số từ
1994, Thành phố Hồ Chí Minh còn có 20 trung tâm xóa mù chữ, 139 trung
tâm tin học, ngoại ngữ và 12 cơ sở giáo dục đặc biệt. Tổng cộng 1.308 cơ sở
22
giáo dục của thành phố có 1.169 cơ sở công lập và bán công, còn lại là các cơ
sở dân lập, tư thục.
Hệ thống các trường từ bậc mầm non tới trung học trải đều khắp thành phố.
Trong khi đó, những cơ sở xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tập trung chủ yếu
vào bốn huyện ngoại thành Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ. Các
trường ngoại ngữ ở Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ giảng dạy những ngôn
ngữ phổ biến mà còn một trường dạy quốc tế ngữ, một trường dạy Hán Nôm,
bốn trường dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay cũng có 40 trường quốc tế do các lãnh sự quán, công ty giáo dục đầu
tư.
Giáo dục bậc đại học, trên địa bàn thành phố có trên 80 trường, đa số do Bộ
Giáo dục và Đào tạo quản lý, trong đó chỉ có 2 trường đại học công lập
(Trường đại học Sài Gòn và Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) do
thành phố quản lý. Là thành phố lớn nhất Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh
cũng là trung tâm giáo dục bậc đại học lớn bậc nhất, cùng với Hà Nội. Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với 6 trường đại học thành viên. Nhiều
đại học lớn khác của thành phố như Đại học Kiến trúc, Đại học Y Dược, Đại
học Ngân hàng, Đại học Luật, Đại học Kinh tế đều là các đại học quan trọng
của Việt Nam. Trong số học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường đại
học, cao đẳng của thành phố, 40% đến từ các tỉnh khác của quốc gia.
Mặc dù đạt được những bước tiến quan trọng trong thời gian gần đây
nhưng giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều khiếm khuyết. Trình
độ dân trí chưa cao và chênh lệch giữa các thành phần dân cư, đặc biệt là
ngoại ô so với nội ô. Tỷ lệ trẻ em người Hoa không biết chữ vẫn còn nhiều,
gấp 13 lần trẻ em người Kinh. Giáo dục đào tạo vẫn chưa tương xứng với nhu
cầu của xã hội. Hệ thống cơ sở vật chất ngành giáo dục thành phố còn kém.
nhiều khó khăn. Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ
24