Năm học 2011 – 2012
BM 01-Bia SKKN
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
- Họ và tên: Lê Đức Dũng
- Ngày tháng năm sinh: 06/12/1957
- Nam, nữ: Nam
- Địa chỉ: Ấp 1 - Xuân Đường - Cẩm Mỹ - Đồng Nai
- Điện thoại: 0613727356 (CQ) / ĐTDĐ: 0988927236
- Fax: E-mail: [email protected]
- Chức vụ: Hiệu trưởng
- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Xuân Đường – huyện Cẩm Mỹ
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị ( trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Đại học Sư phạm
- Năm nhận bằng: 1997
- Chuyên ngành đào tạo: Ngữ văn
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Dạy học
tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục nói riêng vào dạy học để góp phần xứng đáng cho sự
nghiệp xây dựng nền kinh tế mới, văn hóa mới và con người mới.(1)
2. Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo ký
ngày 22/7/2008 về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện,
học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013, phong trào thi đua
này là một trong những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện. Phong trào này xây dựng, củng cố mối quan hệ thân thiện giữa thầy với thầy, thầy
với trò, trò với trò, nhà trường với cộng đồng. Trong ngôi trường thân thiện, thầy và trò
được khơi gợi hứng thú, tình cảm để chủ động tìm tòi, sáng tạo trong giảng dạy và học
tập. Nhà trường không chỉ là môi trường sư phạm có chất lượng giáo dục luôn được
nâng cao mà còn là nơi có môi trường sống lành mạnh, an toàn, hợp vệ sinh và biết trân
trọng những giá trị văn hóa, lịch sử cách mạng.(2)
3. Một trong những mục tiêu quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” là đem lại hiệu quả tích cực, hỗ trợ cho việc
nâng cao chất lượng dạy học ở mỗi trường học. Bên cạnh đó, đây là một phong trào
mang tính chất mở nên mỗi đơn vị có thể vận dụng cho phù hợp với điều kiện, đặc điểm
của địa phương. Trong đó việc tổ chức cho giáo viên và học sinh, hai lực lượng quan
trọng trong nhà trường, cùng tham gia, để cả hai cùng thể hiện được mối quan hệ thân
thiện, tích cực, từ mối quan hệ này xây dựng, phát triển với các mối quan hệ khác bên
trong và tiếp tục mở rộng ra với lực lượng bên ngoài nhà trường là cách làm của nhiều
cơ sở giáo dục hiện nay nên có thể trao đổi, học tập kinh nghiệm của nhiều đơn vị bạn.
Chính vì thế tôi chọn đề tài: Một số giải pháp huy động giáo viên, học sinh
tham gia xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực tại trường Tiểu học
Xuân Đường để triển khai thực hiện và phát triển bền vững phong trào.
II.TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1.Cơ sở lý luận
1.1 Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng môi trường giáo dục
lành mạnh, đoàn kết, dân chủ, bình đẳng, tương trợ. Người dạy các nhà giáo phải có
tinh thần đoàn kết, kỷ luật, phát huy dân chủ, đó là mối quan hệ gắn bó giữa thầy với
thầy, thầy với trò, cần đoàn kết toàn thể nhà trường thành một khối, phát huy cao độ
toàn cho học sinh khi ra chơi và các hoạt động ngoài trời. Điều này được quy định rõ
theo nội dung thứ nhất của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008- 2013. Trường học xanh,
sạch, đẹp có ý nghĩa thiết thực trong việc giáo dục học sinh ý thức, thói quen gìn giữ
bảo vệ môi trường và tạo sự lan tỏa đến môi trường gia đình, cộng đồng các em đang
sống, đồng thời góp phần hình thành mầm mống nhân cách tốt đẹp và lối sống văn
minh, văn hóa cho thế hệ trẻ ngay từ tuổi học đường. Như thế việc huy động giáo viên,
học sinh cấp tiểu học cùng tham gia phong trào xây dựng trường, lớp xanh sạch đẹp là
việc làm cần thiết. (4)
Để có thể xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực trường Tiểu học
Xuân Đường phải vận dụng những quan điểm chỉ đạo, bài học kinh nghiệm trên để giải
quyết được một số khó khăn, trong đó trở ngại chính là làm thế nào để huy động đội
ngũ giáo viên, học sinh thực sự tham gia mà cả hai lực lượng này cảm thấy không phải
thêm công sức, thời gian.
2.Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Để giải quyết được khó khăn chính đã nêu trên, tập thể sư phạm nhà trường đã
thảo luận, thống nhất 2 nội dung cần tập trung là đổi mới phương pháp dạy học, xây
dựng trường xanh sạch đẹp, từ đó trường đăng ký tham gia phong trào với phương
châm “ tích cực chuyển biến dạy học-thể hiện hình thức thân thiện.” Với định hướng
này nhà trường lần lượt khắc phục khó khăn với hai giải pháp chính bằng cách phối hợp
những hoạt động cơ bản của quá trình dạy học, đó là hoạt động tương tác sư phạm giữa
ba yếu tố: giáo viên- học sinh- hoàn cảnh cụ thể của trường.
Giải pháp 1: Hợp tác, chia sẻ để thân thiện,tích cực hoạt động dạy học
Xây dựng trường học thân thiện trứơc tiên phải từ các yếu tố bên trong, đó là
môi trường “lành mạnh, đoàn kết, dân chủ, bình đẳng, tương trợ”, môi trường này thể
hiện bằng sự ứng xử có văn hóa giữa các thầy cô giáo, từ đó tạo ấn tượng thân thiện
nhằm nêu gương cho học sinh. Vì thế chúng tôi xây dụng việc hợp tác và chia sẻ giữa
giáo viên và học sinh theo 3 mối quan hệ: thầy-thầy; thầy-trò; trò-trò.
1.1. Xây dựng, phát triển quan hệ hợp tác, chia sẻ giữa thầy với thầy
trân trọng và góp sức phát huy thêm. Theo suy nghĩ của chúng tôi, đó cách quan hệ gắn
bó giữa thầy với thầy để trở thành một đội ngũ nhà giáo thân thiện, tích cực.
1.2. Xây dựng, phát triển quan hệ hợp tác, chia sẻ giữa thầy và trò
Nếu quan hệ “thân thiện, tích cực” giữa thầy với thầy là cơ bản thì quan hệ “thân
thiện, tích cực” giữa thầy và trò là trọng tâm. Trường học thân thiện phải làm cho mọi
hoạt động giáo dục đều vui tươi, nhẹ nhàng, hấp dẫn đối với học sinh.Trong các hoạt
động giáo dục, tiết học là đơn vị quan trọng nhất. Thực tế đã chứng minh, một tiết học
mà thầy giúp cho trò được phát huy tối đa khả năng cá nhân thì đó là quan hệ “thân
thiện, tích cực”. Có điều số học sinh đạt yêu cầu này thường là học sinh có năng lực học
tập khá, giỏi. Như thế cái khó là xây dựng quan hệ thân thiện giữa thầy với học sinh
chưa đạt chuẩn, không đề các em này trở thành người khách lạ ngay trong lớp học của
mình dẫn đến tự ti, chán học. Để khắc phục khó khăn thiếu quan hệ “ thân thiện, tích
cực”giữa thầy với học sinh yếu, chúng tôi đã gợi ý với thầy cô trường xây dựng, phát
triển quan hệ thân thiện, tích cực thầy- trò bằng cách hợp tác& chia sẻ thông qua
phương tiện học tập thầy trò cùng có thể chuẩn bị là “Phiếu học tập”.
Gọi là “hợp tác” vì khi soạn bài thầy đầu tư thiết kế “Phiếu học tập” theo mục
tiêu bài dạy; tại lớp, thầy nêu nhiệm vụ, cách thức thực hiện, học sinh theo gợi ý của
thầy suy nghĩ, tìm hiểu, khám phá, lĩnh hội tri thức nhằm đạt được mục tiêu bài học. Để
làm được yêu cầu này, học sinh cần hiểu và làm đúng theo lệnh của giáo viên. Muốn
học sinh hiểu, lệnh làm việc của thầy cô cần đúng yêu cầu về hình thức và nội dung. Về
hình thức cần bảo đảm học sinh nghe được, về nội dung phải nêu đủ những việc học
sinh cần làm. Và để giúp học sinh làm đúng theo lệnh, giáo viên phải chú ý quan sát
học sinh làm việc, dự kiến “khó” mà học sinh có khả năng gặp phải để hợp tác với các
em. Gọi là “chia sẻ”, vì sau khi làm việc, học sinh thông báo kết quả, trình bày sản
phẩm của mình. Dựa vào kết quả này, người thầy yêu cầu học sinh giải thích cách làm;
mời cả lớp tham gia nhận xét để sửa chữa chung; bổ sung, nhấn mạnh và tổ chức cho
học sinh ghi nhớ điều cần thiết.
để có được sản phẩm chung mang tính hợp tác cao của cả nhóm. Nhà trường củng chú ý
đến nhóm đôi để tận dụng được bàn ghế, giảm thời lượng di chuyển để các em vừa thể
hiện được năng lực của bản thân vừa sẵn sàng chia sẻ, hỗ trợ thường xuyên cho nhau.
( Học sinh sử dụng phiếu học tập để hình thành sản phẩm trong học nhóm)
Như thế nhờ chuẩn bị và tập cho học sinh vào hoạt động nhóm, nhà trường bước
đầu phát huy được lợi ích của việc dạy học theo nhóm. Học sinh đã được tham gia từng
bước trong mỗi hoạt động học dưới sự hướng dẫn của thầy cô, được chia sẻ hiểu biết,
kinh nghiệm của bản thân, được cơ hội học tập từ bạn và cùng phát huy vai trò trách
nhiệm đối với lớp, đây củng là cách khai thác ưu điểm phương pháp dạy học theo nhóm
nhằm xây dựng, phát triển quan hệ thân thiện, tích cực trò-trò.
Giải pháp 2: Thân thiện với môi trường
Môi trường giáo dục của trường tiểu học thân thiện là môi trường có khả năng
giúp mỗi em học sinh mỗi ngày đến trường là một ngày vui, từ những hoạt động mà học
sinh gắn bó trong toàn bộ thời gian đi học, qua đó các em được tập luyện những kĩ năng
cần thiết để ứng xử trong cuộc sống. Bên cạnh đầu tư cho lớp học, theo chúng tôi cần
làm cho mỗi học sinh thân thiện với nhà vệ sinh, sân trường và rác thải.
2.1.Học sinh thân thiện với nhà vệ sinh.
Năm học 2008-2009, trường chúng tôi tiếp nhận 3 phòng vệ sinh mới tại điểm
trường chính, mỗi phòng có nhà xí xổm giật nước, bồn tiểu cá nhân, bồn rửa có kiếng
soi. Ngay từ đầu sử dụng, đã có nhiều việc bất ngờ xảy ra ngoài dự kiến của chúng tôi:
long não trong bồn tiểu để khử bớt mùi hôi có em bốc làm đồ chơi, có em bỏ cả cuộn
giấy vệ sinh vào bồn xí,có em mở mà không khóa vòi nước để nước chảy tràn ra cả nhà
vệ sinh. Tại điểm trường lẻ, UBND xã có đầu tư sửa chữa 2 nhà vệ sinh có xí bệt riêng
cho nam, nữ song tình hình có cũng không khá hơn như các em không dội nước, bỏ
giấy làm tắc nghẽn hố xí.Thêm vào đó, bơm nước trong những ngày đầu luôn có sự cố
kỹ thuật. Lo lắng về nhà vệ sinh bốc mùi đã thực sự ám ảnh chúng tôi. Để giải quyết
để giáo viên hướng dẫn giúp các em lựa chọn trò chơi ưa thích, nhóm bạn thích hợp để
cùng tham gia hoạt động.
(Học sinh vui chơi với cầu đi thăng bằng, dụng cụ vận động do nhà trường làm
từ các phế liệu xây dựng)
Từ khi học sinh sử dụng được các dụng cụ vui chơi, các vụ việc cãi nhau, đánh
nhau có giảm bớt do các em giảm được cảm giác tù túng không được vận động. Điều
lợi ích lớn nhất là bổ sung, phát triển mối quan hệ trò– trò trên phạm vi toàn trường;
mối quan hệ bạn bè đã được hình thành một cách tự nhiên, các em dễ dàng làm quen,
hợp tác-chia sẻ để vui chơi với nhau.
Học sinh thân thiện với rác
Một trong những vấn đề lớn mà nhà trường phải xử lý rác do học sinh thải ra, số
em học hai buổi ngày mỗi năm học một tăng thêm nên số rác từ sinh hoạt, trong ăn
uống của trẻ cũng tăng thêm nhiều hơn. Lúc đầu, chúng tôi hợp đồng với Hợp tác xã vệ
sinh chuyển đổ toàn bộ. Có điều, nhà trường vẫn trăn trở phải làm gì để giáo dục học
sinh có ý thức về tiết kiệm, về bảo vệ môi trường với những vật dụng do chính mình
thải bỏ. Chúng tôi quyết định chọn cách hướng dẫn học sinh cùng tham gia hoạt động
có tên “thùng nhỏ đến thùng to đổi lấy tiền”
Thùng nhỏ là thùng rác tại lớp, tại căn tin, ở mỗi nơi này trường bố trí hai thùng
chứa rác: một đưng giấy, một đựng các rác thải khác. Cuối buổi học, thầy hướng dẫn
tròh chuyển từ hai thùng nhỏ đến hai thùng to. Liên Đội TNTP Hồ Chí Minh trường
phụ trách thu gom chung và bán lại rác đã thu gom. Số tiền thu được cả thầy-trò dùng
để mua quà tặng đến thăm các gia đình chính sách tại địa phương.
Với cách làm này chúng tôi đã nối dài được việc dạy học tích hợp giáo dục kỹ
năng sống, bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng; biến kiến thức thành thành vi cần
rèn luyện hằng ngày. Được sự tham gia của các em, phong trào xanh, sạch, đẹp được
95,9%
HS giỏi cấp huyện, tỉnh 1,4%
2,5%
3,3%
5.3%
Phòng học bộ môn 0
1
2
3
Thư viện 01
TT
TTXS
TTXS
Vận động 6 triệu
16 triệu
XI, kì họp thứ 7 thông quan ngày 14/6/2005;
2.Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT và Kế hoạch 307/KH-BGDĐT ngày 22/7/2008
của Bộ trưởng BGDĐT chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực”;
3.Hồ Chí Minh toàn tập-Nhà xuất bản Chính trị quốc gia- 1996
4.Cẩm nang xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực-Nhiều tác giả-
Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam-2009
5. Tài liệu BDTX cho GVTH chu kì II, Tập I- Nhiều tác giả- Nhà xuất bản Tiền
Giang- 2005
NGƯỜI THỰC HIỆN
Lê Đức Dũng
Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 1
Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao 1
Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao 1
Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại
đơn vị có hiệu quả 1
Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt 1 Khá 1 Đạt 1
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện
và dễ đi vào cuộc sống: Tốt 1 Khá 1 Đạt 1
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu
quả trong phạm vi rộng: Tốt 1 Khá 1 Đạt 1
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
(Ký tên và ghi rõ họ tên) THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu)