lạnh bằng CO
2
lỏng. Để cấp lỏng cho điện cực phải sử dụng một bơm
CO
2
lỏng đặc biệt.
5. Xử lý bề mặt bằng điện hoá
Trong việc xử lý bề mặt nhôm để tạo một lớp ôxit dày, chất điện
phân phải có nhiệt độ từ 21 đến 26,5
o
C. Nhiệt toả ra do dòng điện
phân trung bình khoảng 35 W/cm
2
diện tích bề mặt liên tục phải đợc
thải ra môi trờng bên ngoài. Việc làm lạnh chất điện phân có chứa
axit sunfuric đợc thực hiện nhờ các ống làm lạnh bằng chì. Nớc lạnh
tuần hoàn trong ống có nhiệt độ khoảng 5
o
C nhờ một máy lạnh.
Cả trong quá trình mạ kim loại, tuỳ theo từng loại chất điện phân
mà nhiệt độ bề mặt phải giữ ở nhiệt độ không đổi từ 20 đến 60
o
C. Từ
các bề mặt zyanid ví dụ nh mạ đồng hoặc cadmi cần định kỳ loại bỏ
cacbonat natri. Để loại bỏ cacbonat natri ngờ ta sử dụng phơng pháp
kết tinh chậm dung dịch ở nhiệt độ khoảng -4
o
C. Cần thiết phải kết
tinh chậm để tinh thể hình thành có kích thớc lớn, dễ loại bỏ khỏi
dung dịch. Để làm lạnh các chất điện phân có tính ăn mòn cao ngời
bằng phơng pháp cơ khí.
Các vết cắt măng xông của săm xe ôtô, xe máy, xe đạp có thể đợc
ghép chín tốt hơn nhiều nếu chổ tiếp giáp (chổ măng xông) đợc làm
lạnh sơ bộ trớc đó xuống -7
o
C. Việc làm lạnh tiến hành đơn giản
bằng cách ép chúng lên bề mặt lạnh, ví dụ ép lên một bề mặt ống đợc
làm lạnh từ bên trong môi chất lạnh hoặc chất tải lạnh.
Nếu nhúng gổ vào amôniắc lỏng thì sau 15ữ20 phút gổ trở nên dẻo
và có thể uốn nắn dễ dàng.
Sợi bông sẽ bóng nh lụa nếu nh sợi đợc nhúng vào dung dịch
kiềm natri. Trong khi xử lý, sợi phải căng để chống lại xu hớng co rút
của sợi. Khi xử lý độ bền kéo của sợi cũng tăng lên. Dung dịch kiềm
phải đợc giữ ở nhiệt độ 5 đến 10
o
C. Sau khi xử lý sợi vẫn ở trạng thái
căng, đợc nhúng nớc nóng 60 ữ 80
o
C và sau đó đợc rửa sạch bằng
nớc.
Một phơng pháp mới cho hiệu quả tơng tự là nhúng sợi bông vào
amôniắc lỏng sôi ở áp suất thờng -33
o
C. Hơi amôniắc đợc thu hồi
lại bằng máy nén lạnh.
1.2.11 ứng dụng khác
1.2.11.1 Các phòng thử nghiệm
1. Thử nghiệm thiết bị giao thông
vài ngàn kW.
Để tuần hoàn không khí ngời ta sử dụng quạt trục vít, đờng kính
đạt đến 10m hoặc lớn hơn. Trở lực dòng chảy không vợt quá 25mbar.
Đối với các ôtô lạnh cần phải nghiên cứu sự truyền nhiệt qua vách
cách nhiệt và các cửa cách nhiệt ở các tốc độ khác nhau và nhiệt độ
khác nhau.
Đối với việc thiết kế, chế tạo máy bay việc thử nghiệm các tải cơ và
nhiệt hoặc tải động và tĩnh là rất cần thiết. Máy bay đặc biệt máy bay
siêu âm chịu tải nhiệt rất lớn bởi vì nhiệt độ bề mặt máy bay thay đổi
rất nhanh. Khi cất cánh giả sử máy bay có nhiệt độ bằng nhiệt độ môi
trờng là 30
o
C, nhng chỉ sau vài phút nhiệt độ bề mặt do ma sát với
không khí có thể lên tới 150
o
C. Khi hạ cánh nhiệt độ thay đổi ngợc
lại. Bởi vì nhiệt độ trong máy bay thay đổi chậm, thậm chí không thay
đổi do đợc điều hoà không khí, hiệu nhiệt độ lớn đó tạo ra các ứng
lực thay đổi. Các ứng lực này là nguyên nhân gây ra hiện tợng mỏi
của vật liệu chế tạo. Đối với máy bay vận tải dân dụng tuổi thọ đòi hỏi
cao hơn nhiều so với máy bay quân sự.
Để thử nghiệm sự vận hành của máy bay Concorde Anh và Pháp đã
xây dựng một phòng thử nghiệm thay đổi nhiệt độ. ở đây có thể tiến
hành cả thí nghiệm cơ học và nhiệt học trong đó nhiệt độ không khí có
thể điều chỉnh từ 150
o
C đến -35
o
C. Thiết bị lạnh bao gồm một phần là
máy nén piston, công suất 3.800 kW ở nhiệt độ bay hơi -1
khắc nhiệt nhất mà thiết bị có thể chịu đựng trên thực tế. Muốn vậy
cần có hệ thống làm lạnh và sởi để có thể thay đổi nhiệt độ phòng
một cách tuỳ ý theo các điều kiện thử nghiệm
- Để thử nghiệm các động cơ ôtô và đặc biệt động cơ máy bay làm
việc trong các điều kiện khác nhau ngời ta xây dựng các phòng thử
nghiệm mô phỏng điều kiện khí hậu thực tế mà ôtô có khả năng phải
chịu đựng trên thực tế. Phòng thử nghiệm này có khoảng nhiệt độ có
thể thay đổi trong khoảng từ -50
o
C đến 70
o
C tơng đơng nhiệt độ
vùng Bắc cực hay trên sa mạc và ở áp suất khác nhau.
Đối với ôtô áp suất thay đổi không đáng kể có thể bỏ qua.
Đối với động cơ máy bay áp suất làm việc thay đổi đáng kể, tuỳ
thuộc vào độ cao. ở độ cao ngang mực nớc biển áp suất khí quyển là
760mmHg, ở độ cao 20 km áp suất chỉ còn 41mmHg, ở độ cao 25km
áp suất 19mmHg.
- Trong phòng thí nghiệm quang học và cơ khí chính xác cần mô
phỏng các điều kiện khí hậu ở đó chúng sẽ làm việc. Nhiệt độ có thể
điều chỉnh trong khoảng từ -65
o
C đến +80
o
C và có thể điều chỉnh bằng
chơng trình. ở phạm vi nhiệt độ trên 0
o
C độ ẩm tơng đối phải điều
chỉnh đợc từ 40% đến 100%.
- Các dụng cụ ngắt điện đặc biệt cho điện cao thế cũng cần thử
Nhiệt độ môi trờng càng cao, khối lợng không khí đợc hút vào
động cơ đốt trong càng nhỏ do đó công suất động cơ giảm. Bằng cách
làm lạnh không khí cấp cho động cơ ngời ta có thể nâng công suất
động cơ lên cao hơn.
Không khí cấp cho động cơ diesel có thể làm lạnh trực tiếp nhờ chu
trình nén khí hoặc gián tiếp nhờ môi chất lạnh sôi.
Trên hình 1-7 giới thiệu hệ thống thiết bị làm mát không khí cấp
cho động cơ diezen. Không khí đợc nén qua máy nén ly tâm 1 và đa
vào làm mát sơ bộ bằng nớc ở thiết bị trao đổi nhiệt 3, sau đó làm
mát bằng môi chất lạnh sôi ở bình bay hơi 4 rồi cấp vào động cơ
diezen. Máy lạnh có máy nén ly tâm 6, bình ngng làm mát 7, van tiết
lu 5 và bình bay hơi 4. Để truyền động cho máy nén ngời ta dùng
động cơ tua bin 8 làm việc nhờ vòng tuần hoàn hơi frêôn. Để truyền
động cho máy nén ly tâm 1 ngời ta dùng động cơ tua bin 2 chạy bằng
khí thải từ động cơ diezen.
Những cuộn dây của các máy phát điện lớn thờng đợc làm mát
bằng nớc hoặc bằng khí hyđrô. Với cờng độ làm mát cao phải nhờ
đến môi chất lạnh sôi, ví dụ frêôn vv Nhiệt độ sôi tối u đợc xác
định nhờ tính toán kinh tế nếu không công suất tiêu tốn cho máy lạnh
lớn hơn công suất có ít thu đợc từ máy phát. 41