TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 54, 2009 SINH KẾ NGƯỜI DÂN THỊ TRẤN LAO BẢO, TỈNH QUẢNG TRỊ
TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRI
ỂN KHU KINH TẾ -
TH
ƯƠNG MẠI ĐẶC BIỆT LAO BẢO
Mai V n Xuân
Tr
ng i h c Kinh t , i h c Hu
H
V n Minh
Tr
ng Nguy n Chí Thanh, Th a Thiên Hu
TÓM TẮT
Khu kinh t th ng m i c bi t Lao B o (SECA) c thành l p n m 1998, góp ph n
khai thác ti
m n ng và l i th v giao l u phát tri n kinh t - th ng m i c a Vi t Nam trên
hành lang kinh t
ông - Tây (EWEC). SECA ã có nh ng nh h ng tích c c n sinh k c a
ng
i dân, góp ph n t o vi c làm và nâng cao thu nh p; thúc y nhu c u h c t p và c i thi n
i s ng v t ch t và tinh th n c a dân c trong vùng. Tuy nhiên, SECA c ng có nh ng tác ng
tiêu c
c n ho t ng sinh k c a ng i dân nh , môi tr ng b ô nhi m, t n n xã h i có xu
h
ng gia t ng, có s phân hoá giàu nghèo trong c ng ng c bi t là gi a ng i Kinh và
ng
i dân t c thi u s Vân Ki u. Nghiên c u ch ra r ng c i thi n sinh k c a ng i dân t t
h
ứu này nhằm đánh giá, phân tích tác động của SECA đến thay đổi sinh
k
ế và phúc lợi của người dân địa phương; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm
phát huy tác động tích cực của SECA đến việc cải thiện sinh kế của người dân nói riêng
và phát tri
ển kinh tế xã hội của địa phương nói chung.
Ph
ương pháp nghiên cứu: ngoài nguồn số liệu thứ cấp, chúng tôi điều tra 50 hộ
gia
đình, trong đó: 9 hộ chuyên sản xuất nông nghiệp (nhóm I), 13 hộ sản xuất nông
nghi
ệp kiêm ngành nghề dịch vụ (nhóm II) và 28 hộ chuyên buôn bán – ngành nghề
d
ịch vụ (nhóm III); và 30 chuyên gia là cán bộ ở địa phương. Các phương pháp phân
tích c
ơ bản như phương pháp so sánh, phân tích nhân tố, phân tích phương sai
(ANOVA) và m
ột số phương pháp khác được sử dụng trong nghiên cưú này.
2. Sinh kế bền vững
Ý t
ưởng về sinh kế được đề cập tới trong các tác phẩm nghiên cứu của R.
Chamber nh
ững năm 1980. Về sau, khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên
c
ứu của F. Ellis, Barrett và Reardon, Morrison, Dorward Có nhiều cách tiếp cận và
định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao
hàm nhi
ều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình.
V
ề căn bản, các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào
h
ội sinh kế và cải thiện đói nghèo của người dân. Đồng thời nhấn mạnh vai trò của thể
ch
ế, chính sách cũng như các mối liên hệ và hỗ trợ xã hội đối với cải thiện sinh kế, xoá
đói giảm nghèo. Sự bền vững trong các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào rất nhiều yếu
t
ố như khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ của lao động, các mối quan hệ trong cộng
đồng, các chính sách phát triển Tuy vậy, sự bền vững của tài nguyên thiên nhiên là
y
ếu tố nền tảng trong việc quyết định một sinh kế có bền vững hay không.
Hi
ện nay, sinh kế bền vững đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà
nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới.
M
ục tiêu cao nhất của quá trình phát triển kinh tế ở các quốc gia là cải thiện được sinh
k
ế và nâng cao phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư, đồng thời phải luôn đặt nó trong
m
ối quan hệ với phát triển bền vững. Các nghiên cứu về sinh kế hiện nay về cơ bản đã
xây d
ựng khung phân tích sinh kế bền vững trên cơ sở các nguồn lực của hộ gia đình
bao g
ồm nguồn lực vật chất, tự nhiên, tài chính, xã hội và nhân lực.
Khung sinh k
ế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét những yếu tố khác
nhau
ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặc biệt là những yếu tố gây khó khăn hoặc
t
ạo cơ hội trong sinh kế. Đồng thời, khung sinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu xem
nh
V
n
hoá,
Th
ch
t
ch
c
C
c u
- Các
c
p
chính
quy
n
-
n
v
t
nhân
C c u và
ti
n trình
th
c hi n
n các
ngu n l c
t
nhiên
nh
h ng
và
kh
n
ng
ti p
c
n
Tình
hu
ng d
b
t n
th
ng
- Các cú
s c
- Các
khuynh
h
ng
- Tính
ều đều thuộc nhóm I (8/9 hộ), nhóm II và III đa số là các hộ người Kinh (12/13
và 27/28 h
ộ). Đa số các chủ hộ đều là nam giới (88%). Số chủ hộ trong độ tuổi từ 35 –
55 chi
ếm tỷ lệ cao nhất là 60%; dưới 35 tuổi là 16%; và trên 55 tuổi là 24%. Trình độ
v
ăn hoá còn thấp, 64,7% của lực lượng lao động cấp II trở xuống, chỉ có 35,3% cấp III.
H
ầu hết lao động đều chưa qua đào tạo, không có trình độ chuyên môn, 92,6%.
3.2. Kết quả và hiệu quả sản xuất của các hộ điều tra
S
ố liệu Bảng 1 cho thấy có sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm hộ về kết quả
s
ản xuất và thu nhập. Thu nhập các hộ nhóm III cao nhất, 90,0 triệu đồng/hộ; nhóm II,
63,5 tri
ệu đồng/hộ và nhóm I là 14.3 triệu đồng/hộ. Rõ ràng hộ nhóm I, hầu hết là người
dân t
ộc thiểu số chủ yếu làm nông nghiệp nên có mức thu nhập thấp, trong khi các hộ
nhóm III chuyên v
ề kinh doanh dịch vụ có mức thu nhập cao nhất, gấp 6,3 lần so với
nhóm I.
B ng 1. Thu nh p c a các h i u tra n m 2008
Chỉ tiêu ĐVT Nhóm I Nhóm II Nhóm III
Số hộ điều tra hộ 9 13 28
Nhân khẩu bình quân người/hộ 5,3 5,9 5,1
Giá trị sản xuất (GO) tr.đ/hộ 16,5 264,8 201,9
Chi phí sản xuất (C) tr.đ/hộ 3,4 206,9 118,7
Thu nhập hỗn hợp (MI) tr.đ/hộ 13,1 57,9 83,2
Thu khác tr.đ/hộ 1,2 5,6 6,8
Thu nhập tr.đ/hộ 14,3 63,5 90,0
nh
ập cho gia đình họ. Rõ ràng SECA đã có những tác động tích cực đến các cơ hội việc
làm và thu nh
ập của người dân ở thị trấn Lao Bảo.
3.5.
Ảnh hưởng của SECA đến việc cải thiện cơ sở hạ tầng
H
ầu hết ý kiến của người dân (96-100%) đồng tình với nhận định là hệ thống
giao thông, thông tin liên l
ạc, trường học, bệnh viện, hệ thống điện chiếu sáng được cải
thi
ện rất đáng kể nhờ ảnh hưởng của SECA. Như vậy, sự so sánh ý kiến của người dân
và các báo cáo tình hình kinh t
ế xã hội ở địa phương có kết quả khá trùng hợp. Điều đó
đã thể hiện được sự quan tâm của các cấp chính quyền đến sinh kế của người dân và quá
trình phát tri
ển của địa phương. Có thể nói, người dân đánh giá khá tích cực sự thay đổi
v
ề việc làm, thu nhập cũng như hệ thống cơ sở hạ tầng dưới tác động của SECA. Rõ
ràng SECA
đang có những tác động tích cực đến sinh kế của người dân địa phương.
Để đánh giá chính xác hơn tác động về mặt xã hội của SECA, chúng tôi điều tra
ý ki
ến của 30 chuyên gia địa phương và nhận được kết quả như sau: 67% người được
h
ỏi cho rằng SECA làm đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong sản xuất và cung ứng
s
ản phẩm ra thị trường; 77% cho rằng giao lưu trao đổi hàng hoá trở nên dễ dàng hơn
tr
ước rất nhiều; 67% cho rằng SECA góp phần làm cho hàng hoá - dịch vụ đa dạng và
=
3,2; X
2
= 2,4; F=2,53 và Sig. = 0,090. Điều này thể hiện các chủ hộ có tuổi đời lớn hơn
(X
1
) có tình hình kinh tế khá giả hơn, vốn sản xuất nhiều hơn có khả năng phát triển
ngành ngh
ề, các hoạt động dịch vụ để tăng thu nhập tốt hơn các chủ hộ mới xây dựng
gia
đình.
Theo t
ộc người, một trong những phân tích quan trọng là tác động của SECA
đến các tộc người khác nhau trên địa bàn. Kết quả phân tích cho thấy, SECA mang lại
nh
ững lợi ích khác nhau cho các tộc người khác nhau, hay nói một cách khác người
Kinh (X
2
) tận dụng được các lợi thế của SECA tốt hơn người dân tộc thiểu số Vân kiều
(X
1
) trong việc nâng cao thu nhập và việc làm. Kết quả cho thấy X
2
=3,6; X
1
=2,3;
F=25,38; và Sig.=0,000).
Phân tích theo ngh
ề nghiệp, các hộ chuyên nông (X
1
ế các tệ nạn xã hội trên địa bàn.
5. Kết luận
Khu Kinh t
ế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo đã có những tác động tích cực đến
quá trình phát tri
ển kinh tế, xã hội của thị trấn Lao Bảo; thu hút được các nhà đầu tư, cải
thi
ện môi trường kinh doanh, đẩy mạnh các hoạt động xuất nhập khẩu Trong những
n
ăm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương đạt mức cao, cơ cấu kinh tế chuyển
d
ịch theo hướng giảm tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng đóng góp của
công nghi
ệp và dịch vụ. SECA đã có những ảnh hưởng tích cực đến sinh kế của người
dân trong vùng; tr
ực tiếp và gián tiếp tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động địa
ph
ương, góp phần đa dạng hoá các hoạt động tạo thu nhập, thúc đẩy nhu cầu học tập
c
ủa người dân; góp phần giảm đói nghèo, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của
dân c
ư trong vùng. Tuy nhiên, SECA cũng có những tác động tiêu cực đến hoạt động
sinh k
ế của người dân trong vùng, như môi trường bị ô nhiễm, tệ nạn xã hội có xu
h
ướng gia tăng, có sự phân hoá giàu nghèo trong cộng đồng đặc biệt là giữa người Kinh
và ng
ười dân tộc thiểu số Vân Kiều.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. C.B. Barrett, M. Beznneh, D.C. Clay and T. Reardon, Heterogeneuos Constraints,
12. Niêm giám th
ng kê huy n H ng Hoá, Qu ng Tr các n m 2000 -2008.
PEOPLE LIVELIHOODS IN LAOBAO TOWN,
QUANG TRI PROVINCE DURING DEVELOPING LAO BAO SPECIAL
ECONOMICS – COMMERCIAL AREA
Mai Van Xuan
College of Economics, Hue University
Ho Van Minh
Nguyen Chi Thanh School, Thua Thien Hue
SUMMARY
Lao Bao Special Economic - Commercial Area (SECA), founded in 1998, aims to
promote the potentials and advantages brought by economic integration and trade liberalization
on the East-West Economic Corridor (EWEC). The SECA has shown its positive impacts to the
local people livelihoods, job creation and income generation, enhancing demand for education
and training as well as improving living standards of local communities. However, the SECA
also has several negative impacts such as: causing environmental pollution, increasing social
evils, widening gap between the rich and poor especially between the Kinh and other ethnic
minorities.
The study recommends the following solutions need to be done to improve the local
livelihoods in Lao Bao: (i) improving abilities and information accessibility for local people,
especially Van Kieu, through training activities in order to enhance their access to job
opportunities in enterprises at the SECA; (ii) Combining farm and non-farm activities for
diversification of household income and mitigation of risks and vulnerabilities; (iii)
implementing more effective measures to manage environmental pollution, enhancing people
awareness especially the youth to reduce the social evils.