25
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 51, 2009
CH
Ế ĐNNH VỀ TÀI SẢN RUỘNG ĐẤT TRONG
PHÁP LU
ẬT TRIỀU NGUYỄN
Huỳnh Công Bá
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
TÓM TẮT
Bài viết trình bày về chế độ sở hữu ruộng đất công và chế độ sở hữu ruộng đất tư trong
pháp luật triều Nguyễn (1802-1884). Trong chế độ sở hữu ruộng đất công bao gồm ruộng đất
công của nhà nước và ruộng đất công của làng xã. Trong chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân bao
gồm các loại ruộng đất của quý tộc, quan lại, địa chủ và nông dân tư hữu. Những quy định về
các chế độ ruộng đất này đã được nêu ra trong Hoàng Việt luật lệ và Đại Nam hội điển sự lệ.
1.1. Trong lịch sử nhân loại, ý niệm quyền sở hữu tư nhân đã đến với xã hội loài
ng
ười ngay từ giai đoạn tan rã của xã hội nguyên thủy, khi con người biết sử dụng các
công c
ụ bằng kim khí và do đó mà những của cải “thừa” bắt đầu xuất hiện. Trong thời
k
ỳ này, quyền sở hữu tư nhân được hạn chế vào các vật phNm săn bắt, hoặc tự tay người
ta ch
ế tạo ra, nghĩa là những đồ vật mà ngày nay được liệt vào các động sản. Các đồ vật
ấy họp thành gia sản của mỗi cá nhân và không ai có quyền được xâm đoạt đối với chủ
c
26
con người hoặc để đổi chác lấy các đồ vật khác. Và do đó, ruộng đất đã được xem là
ngu
ồn gốc cơ bản của tất cả các loại tài sản khác. Cũng có thể nói, những biểu hiện cụ
th
ể về quan hệ sở hữu đối với tài sản ruộng đất trong một quốc gia chính là cơ sở tồn tại
c
ủa các loại hình sở hữu trong xã hội.
2.1.
Đối với xã hội phong kiến Việt Nam, một xã hội lấy nông nghiệp làm gốc
(d
ĩ nông vi bản) thì tài sản quan trọng nhất, đồng thời cũng là tư liệu sản xuất quy định
các quan h
ệ kinh tế - xã hội giữa người và người ở trong nước chính là tài sản về ruộng
đất (tức điền sản). Do đó, từ khá lâu, giá trị về ruộng đất đã được người Việt Nam nhận
th
ức một cách sâu sắc là: “Tấc đất, tấc vàng”. Và nhà nước phong kiến các thời đều ban
hành các v
ăn bản pháp luật để xác định về chế độ sở hữu đối với tài sản ruộng đất trong
ph
ạm vi quốc gia. Như vậy, muốn hiểu biết về chế độ ruộng đất ở Việt Nam không thể
không thông qua ngu
ồn tư liệu luật pháp của các đời. Ở triều Nguyễn, đó là tác phNm
Hoàng Vi
ệt luật lệ ban hành dưới thời vua Gia Long cùng với các Sắc chiếu được ban
hành b
ổ sung trong các đời vua sau Gia Long là Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.
2.2. Quy
gia
đình). Từ ba loại sở hữu ruộng đất trên có thể quy về hai loại hình sở hữu ruộng đất
sau
đây: sở hữu ruộng đất công cộng và sở hữu ruộng đất tư nhân. Tuy nhiên, quyền sở
h
ữu tối cao về toàn bộ ruộng đất trong cả nước cũng vẫn thuộc về vị Hoàng đế, bởi vì
Hoàng
đế có toàn quyền trưng dụng và điều chỉnh quyền sở hữu về ruộng đất trong
ph
ạm vi cả nước.
2.3. Ch
ế định về ruộng đất công nhà nước: Đây là loại ruộng đất thuộc quyền
qu
ản lý trực tiếp của nhà nước, bao gồm: ruộng sơn lăng, tịch điền, đồn điền, quan điền,
quan trại Về phương thức canh tác, nhà nước lấy nông phu ở các làng xã lân cận để 27
cày cấy ruộng tịch điền, ở khu vực kinh đô họ được trả lương (mỗi tháng một quan tiền
và m
ột phương gạo), ở các địa phương họ được miễn thuế thân và tạp dịch. Sản phNm
thu ho
ạch từ ruộng tịch điền được đem nộp vào kho của nhà nước. Đối với quan điền,
quan tr
ại nhà Nguyễn sử dụng một phần để ban cấp cho các đối tượng đặc biệt làm
ru
ộng thờ cúng, số còn lại đem phát canh cho dân sở tại hoặc các vùng lân cận cày cấy
gi
ống như ruộng tư của nhà nước. Còn đối với đồn điền thì chủ yếu sử dụng lao động
c
ại: công điền, công thổ, thân minh đình, hồ ao Làng xã được nhà nước giao
nhi
ệm vụ trực tiếp phân chia ruộng đất công cho nhân dân trong xã cày cấy và nộp tô
thu
ế cho nhà nước. Ở đây, quyền lực của nhà nước được thể hiện một cách rõ nét thông
qua chính sách quân
điền.
L
ợi ích của nhà nước đối với ruộng đất công làng xã chính là các nghĩa vụ về tô
thu
ế và lao dịch của người xã dân phải gánh vác hằng năm. Đó cũng chính là cơ sở về
kinh t
ế và xã hội cho sự ổn định và phát triển của nhà nước trung ương tập quyền.
Chính vì v
ậy, ngay sau ngày thành lập, nhà nước Nguyễn cũng giống như các nhà nước
phong ki
ến khác ở Việt Nam trước đây, đã phải lo giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông
dân trong các làng xã. S
ắc chiếu năm Gia Long nguyên niên (1802) quy định vấn đề sở
h
ữu ruộng đất bị bỏ hoang trong thời kỳ loạn lạc và được canh tác lại. Theo đó, phàm
các ru
ộng đất công hay tư đã bị chính quyền thời Tây Sơn đem cấp cho người khác thì
tùy theo ru
ộng, đất, hồ ao công hay tư, phải trả lại cho chủ cũ hay làng xã được quản
nghi
ệp và cày cấy, rồi chiếu theo đẳng hạng để đánh thuế. Riêng các ruộng đất tư sản
c
ủa nhà Tây Sơn cùng với công điền, công thổ, quan trại của nhà Lê do chính quyền
ũng chỉ đến 80 trượng, số ruộng đất bỏ hoang ấy bị đem sung công. Ngược lại, nếu là
xã có
đinh nhiều mà ruộng ít thì cho phép được làm đơn xin cấp các ruộng đất hoang ở
nh
ững khu vực lân cận để cày cấy, quan ty sở tại sẽ chiếu theo khả năng canh tác thực
s
ự mà cấp ruộng đất cho. Đối với những ruộng đất nhà nước không sử dụng nữa hoặc
m
ới được bồi trúc thì nhà nước cho phép được nhập làm ruộng đất công làng xã
4
. Sắc
chi
ếu năm Minh Mạng thứ 3 (1822) quy định, đối với các ruộng xuất phòng (tức ở
nh
ững nơi đóng đồn binh) bị bỏ hoang từ lâu năm thì cho phép được sát nhập vào các
làng xã lân c
ận để làm thành công điền, đem chia cho xã dân cày cấy. Đến Sắc chiếu
n
ăm Minh Mạng thứ 8 (1827) còn quy định đối với những dòng sông cũ đã được bồi lấp
và có th
ể cày cấy được thì cho phép sát nhập vào các làng xã lân cận để chia cho xã dân
canh tác và n
ộp thuế cho nhà nước. Và Sắc chiếu năm Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà
vua m
ột lần nữa quy định, đối với đất lở và đất bồi cho phép dân các xã có đất bị lở
xu
ống sông được phép khai khNn những bãi tân bồi do phù sa của những nơi đất lở và
b
ồi thành để làm thành công điền bản xã
5
Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục chính biên. Tập III. NXB Sử học, Hà Nội, 1963, trang
126. 29
văn khế vẫn phải truy trả cho dân trong xã; lại theo lệ, lấy một mẫu ruộng để thưởng
cho ng
ười tố cáo, được hưởng hoa lợi trong thời gian 3 năm”
7
. Cũng để bảo vệ quyền sở
h
ữu của nhà nước, Điều 90 Luật Gia Long quy định về việc lén lút cày cấy ruộng đất
công làng xã. Theo
đó, phàm những kẻ cậy quyền thế lén lút cày cấy gieo trồng hoặc
c
ướp chiếm hoa lợi nơi ruộng công của làng xã, nếu phát hiện sẽ bị phạt cứ mỗi mẫu trở
xu
ống là 50 roi, thêm 5 mẫu thì phạt thêm 1 bậc tội, nhưng tối đa là 100 trượng; đối với
lo
ại ruộng xấu thì được giảm 1 bậc tội (tức là 40 roi và tối đa là 90 trượng), cho truy thu
nh
ững hoa lợi mà y đã cướp chiếm trên ruộng đất công làng xã để trả về cho làng xã
8
.
M
ột biểu hiện khác thể hiện quyền lực của nhà nước trung ương đối với sở hữu
ru
ộng đất làng xã là việc nhà nước cho ban hành chính sách quân điền, biến bộ máy
qu
ản lý làng xã thành người giúp việc cho nhà nước trong việc quản lý đối với ruộng
ật” mà xét xử
10
.
Để có điều kiện thực hiện chính sách quân điền, đồng thời quản lý được ruộng
đất và người cày trong các làng xã, triều đình nhà Nguyễn đã cho thiết lập lại sổ địa bạ
và
đinh bạ. Theo quy định của Điều 73 Luật Gia Long thì quân, dân, thầy, thợ đều phải
l
ấy làng gốc của mình để làm nơi ổn định. Và một khi được hưởng quyền lợi ở làng xã
thì h
ọ phải chịu nghĩa vụ đối với nhà nước. Nếu trá mạo để được miễn hoặc tránh thuế
thì b
ị phạt 80 trượng. Quan ty nếu dối trá chuyển đổi từ hạng lính ra hạng dân, cải đổi
7
Nội các triều Nguyễn. Đại Nam hội điển sự lệ. Quyển 38. NXB Thuận Hóa, Huế, 1993.
8
Nguyễn Văn Thành. Hoàng Việt luật lệ. Tập II. NXB Văn hóa, Hà Nội, 1994, trang 305-307.
9
Deloustal. Sưu tập các sắc lệnh chính yếu về luật pháp triều Nguyễn. Dẫn theo: Vũ Văn Mẫu. Cổ luật
Việt Nam lược khảo. Quyển II. Trường Đại học Luật khoa Sài Gòn xuất bản, Sài Gòn, 1968, trang 154.
10
Nguyễn Văn Thành. Hoàng Việt luật lệ. Tập II. NXB Văn hóa, Hà Nội, 1994, trang 285-286. 30
loại dân làm loại thợ để được miễn thuế và nghĩa vụ, làm xáo trộn sổ sách thì cũng bị trị
v
ề việc thu lúa thuế (các điều 110, 111, 112, 113) và về tội trốn thuế (Điều 132). Đồng
th
ời, quy định các Lý trưởng và sai dịch có trách nhiệm phải thu thuế theo định kỳ và
n
ộp cho nhà nước. Nếu gian dối về điền lương thì bị xử trượng, và truy thu để nộp vào
kho c
ủa nhà nước. Đối với những ruộng đất làng xã do nhà nước sử dụng hay bị sụt lở
ho
ặc ở những nơi bị thiên tai, hoạn nạn, mùa màng thất bát thì quan ty phải tra xét đúng
s
ự thực và được nhà nước cho phép miễn hoặc giảm thuế. Chẳng hạn, Sắc chiếu năm
Minh M
ạng thứ 8 (1827) quy định: Khi các công thổ bị truất hữu để làm việc công ích
nh
ư đê điều thì các làng xã được cho miễn giảm thuế về các số ruộng đất đã bị truất hữu.
Chính s
ử của triều Nguyễn cũng cho biết, vào năm Minh Mạng thứ 2 (1821), 18 làng xã
thu
ộc các huyện Thanh Liêm, Thanh Trì (nay thuộc tỉnh Hà Đông), Gia Lâm (nay thuộc
t
ỉnh Bắc Ninh), Phúc Thọ (nay thuộc tỉnh Sơn Tây) đã được miễn thuế về các ruộng đất
b
ị sụt lở, cùng với 470 mẫu đất thổ đã bị truất hữu để làm quan trạm, quan lộ và đê điều.
Có th
ể nói, nhà nước Nguyễn đã rất quan tâm đến ruộng đất công làng xã, bởi vì
đây chính là cơ sở ổn định của xã hội.
2.5. Ch
ế định về ruộng đất tư nhân: Luật Gia Long quy định vấn đề tư hữu
ru
ộng đất của mình, chấp giữ sau thời hạn những ruộng đất người ta bán thục cho
mình và c
ả việc xâm chiếm ruộng đất của người khác đều bị trị tội. Đối với việc bán lén
ru
ộng đất của người khác từ 1 mẫu trở xuống đều phải phạt 50 roi. Nếu thêm 5 mẫu thì
b
ị phạt thêm 1 bậc tội, nhưng tối đa là 80 trượng đồ 2 năm. Nếu cưỡng chiếm hồ ao,
v
ườn nhà của người khác, không kể mẫu sào, đều bị phạt 100 trượng, lưu 3.000 dặm
14
.
Đối với ruộng đất hương hỏa, Điều 87 (khoản lệ) Luật Gia Long quy định: Phàm
con cháu
đem bán lén ruộng đất thờ cúng do ông bà tổ tiên để lại đến 50 mẫu thì xử
chi
ếu theo luật về tội bán lén tài sản hương hỏa và đem sung lính, phát phối ra biên giới
xa. N
ếu bán dưới 50 mẫu và lén bán nghĩa điền thì xử tội theo bán trộm ruộng nhà nước
mà tr
ị tội. Nếu người mua biết rõ sự việc bán lén nhưng vẫn mua, hoặc cùng với người
con cháu bàn l
ập mưu kế để mua thì cũng bị tội y như người con cháu phạm tội đó. Và
cho thu h
ồi lại tài sản để giao trả lại cho trưởng tộc quản lãnh, còn tiền bán thì bị tịch
thu
đem sung công. Nếu người mua không biết rõ sự việc bán lén thì không phải tội.
M
ột điều lưu ý là đối với những tự sản cũng như nghĩa điền bị bán lén thì trưởng tộc
ph
ải tập họp con cháu trong gia tộc để thống nhất ý kiến, xác định đúng sự việc bán lén,
ộng vườn của người khác, bị thưa với quan, sẽ phạt cứ mỗi mẫu trở xuống là 30 roi,
14
Nguyễn Văn Thành. Hoàng Việt luật lệ. Tập II. NXB Văn hóa, Hà Nội, 1994, trang 300-303.
15
Nguyễn Văn Thành. Hoàng Việt luật lệ. Tập II. NXB Văn hóa, Hà Nội, 1994, trang 295-299.
16
Nguyễn Văn Thành. Hoàng Việt luật lệ. Tập II. NXB Văn hóa, Hà Nội, 1994, trang 300-303. 32
tội tăng thêm một bậc nếu diện tích cày cấy lén lút tăng thêm 5 mẫu, nhưng hình phạt
t
ối đa cũng chỉ đến 80 trượng là cùng. Các ruộng đất và hoa lợi đó phải hoàn lại cho chủ
c
ủa nó
17
.
Điều 92 Luật Gia Long đã trừng phạt đối với tội ăn trộm dưa và quả trong trong
v
ườn ruộng của người khác. Phàm tự tiện lấy ăn những dưa, quả trồng trong vườn ruộng
ng
ười khác thì buộc tội theo tang vật. Tính gồm những dưa quả đã ăn trộm làm thành
tang v
ật để áp dụng hình phạt. Nếu giá trị từ 1 lạng bạc trở xuống thì phạt 10 roi, 2 lạng
ph
ạt 20 roi, cứ thế đến tối đa là 60 trượng, đồ 1 năm. Nếu ngắt bỏ, làm hư thối thì tội
ch
ịu nộp thuế cho chính quyền địa phương thì phải điều tra cNn thận và đem người quản
trang
đó ra xử tội theo luật công thần Nn lậu ruộng đất. Nếu người tông thất biết mà vẫn
ch
ấp chứa thì giao cho nha môn sát nghị, nhưng vẫn truy thu tiền thuế. Nếu quản quan ở
địa phương a tòng che dấu thì quan doanh trấn nơi đó được phép tham tấu lên vua để
giao cho b
ộ nghị xử
20
. Đối với ruộng đất tư của công thần, Điều 86 Luật Gia Long quy
định: Về các ruộng đất tư của nhà các quan công thần phải nộp thuế. Theo đó, núi và
ru
ộng đất của các công thần do vua ban cấp để ân thưởng thì không phải chịu thuế và
được ghi vào sổ riêng. Còn những ruộng đất tư của các công thần mua lại của các tư
nhân thì ph
ải chịu thuế và giao cho người quản trang đem hết số ruộng đất ấy khai báo
cho quan s
ở tại ghi vào sổ bộ, chiếu theo ngạch cùng loại ruộng đất để nộp thuế giống
nh
ư ruộng dân. Nếu trái lệnh, âm mưu che giấu, thì người quản trang phải tội. Tội nặng
nh
ẹ sẽ dựa theo số ruộng trốn thuế nhiều hay ít: nếu từ 1 mẫu đến 3 mẫu thì bị phạt 60
17
Nguyễn Văn Thành. Hoàng Việt luật lệ. Tập II. NXB Văn hóa, Hà Nội, 1994, trang 305-307.
18
Nguyễn Văn Thành. Hoàng Việt luật lệ. Tập II. NXB Văn hóa, Hà Nội, 1994, trang 309-310.
ặc cử người đến tận nơi để khám xét thực hư thì bị phạt 80 trượng. Nếu Lý
tr
ưởng hoặc Giáp thủ ở nơi ấy thông đồng với nhau thêm bớt, đem ruộng thu hoạch
được bảo là ruộng hư hại, hoặc ngược lại, đem ruộng bị hư hại bảo là ruộng thu gặt
được để làm chuyện gian dối với quan trên hoặc là để hại dân, thì đều phạt mỗi người
100 tr
ượng, bãi chức, không kể thứ bậc. Còn nếu có đầy đủ các chứng cứ về sự thực hư
h
ại thì được cho miễn giảm thuế. Nếy Lý trưởng, Giáp thủ thông đồng với quan trên
được cử về kiểm tra để khai báo không thực thì bị phạt nặng. Nếu quan lại làm nhiệm
v
ụ kiểm tra cùng với Lý trưởng, Giáp thủ vốn không vì tham nhũng, mà do sơ hở mất
c
ảnh giác, bị người ta khai báo không thực, thì nếu số diện tích khai báo không thực đó
ch
ỉ từ 10 mẫu trở xuống được cho miễn tội, còn từ 10 mẫu trở lên đến 20 mẫu thì phạt
20 roi, n
ếu nhiều thêm 20 mẫu thì phạt thêm 1 bậc tội, nhưng tối đa là 80 trượng. Và
trong các m
ức phạt kể trên, người quan lại đó đều được phép cho lưu dịch tiếp tục làm
vi
ệc. Đối với người chủ ruộng khai man, nếu số ruộng khai man từ 1 mẫu đến 5 mẫu thì
b
ị phạt 40 roi, nếu số ruộng khai man nhiều hơn thì cứ mỗi 5 mẫu cho tăng thêm 1 bậc
t
ội, nhưng tối đa cũng chỉ 100 trượng mà thôi. Phải tính gồm số lượng ruộng đất mạo
khai
Nn thuế đó và quy chiếu theo thời gian Nn thuế để truy thu và đem nộp vào kho
công
22
ật triều Nguyễn nói riêng, đã thiếu vắng những quy định về vấn đề tài sản ruộng
đất, hoặc những quy định ấy là quá sơ lược, mà thực ra, nếu nghiên cứu một cách đầy
đủ, chúng ta cũng sẽ thấy rằng những quy định đó không đến nỗi quá thiếu sót. Thậm
chí, nó cho th
ấy là nhà nước phong kiến Việt Nam nói chung, và nhà nước phong kiến
Nguy
ễn nói riêng, đã rất quan tâm đến tài sản ruộng đất và cũng đã có những quy định
khá tinh vi trong vi
ệc bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất của nhà nước và của tư nhân. Nhờ
nh
ững quy định cụ thể và chặt chẽ đó mà nó đã góp phần trong việc ổn định trật tự xã
h
ội và bảo vệ quyền lợi của người dân trong các làng xã.
TÀI LI
ỆU THAM KHẢO
1. Vũ Văn Mẫu, Dân luật khái luận. Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1958.
2. Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo. Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn,
1962.
3. Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam lược khảo. Quyển II. Trường Đại học Luật khoa Sài
Gòn xuất bản, Sài Gòn, 1968.
4. Vũ Văn Mẫu, Pháp luật nhập môn. Trường Đại học Luật khoa Sài Gòn xuất bản, Sài
Gòn, 1973.
5. Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược giảng. Trường Đại học Luật khoa Sài Gòn xuất
bản, Sài Gòn, 1973.
6. Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử. Trường Đại học Luật khoa Sài Gòn
xuất bản, Sài Gòn, 1973.
7. Vũ Văn Mẫu, Pháp luật thông khảo. Trường Đại học Luật khoa Sài Gòn xuất bản, Sài
Gòn, 1974.
8. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam hội điển sự lệ. Quyển 38. NXB Thuận Hóa, Huế,
1992.