Phân tích đặc điểm một số hình thái và karyotyp ở những người mắc hội chứng TURNER - Pdf 19

ĐẶT VẤN ĐỀ

So với hiện nay, trước đây khi khoa học nói chung và di truyền học
nói riêng còn chưa phát triển. Con người vẫn còn rất nhiều bí mật chưa
được khám phá và khai quật lúc đó họ còn chưa hiểu được nhiều khái niệm
nh: tế bào là gì? Nhiễm sắc thể là gì ? gen?
Loài người vẫn không ngừng sinh sôi nảy nở thế hệ trẻ nối tiếp thế hệ
già. Trong những trẻ được sinh ra và lớn lên phần lớn họ có những đặc
điểm cơ thể phát triển bình thường, một số mang những dị tật bẩm sinh.
Khi đó có rất nhiều quan điểm lạc hậu cho rằng sinh con dị tật là do một
lực lượng siêu nhiên nào đó nh thần thành, ma quỷ chi phối.
Ngày nay cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kĩ thuật,
di truyền học cũng có nhiều bước tiến bộ nhảy vọt. Lần lượt các phát minh
tiên tiến liên tiếp ra đời. Các nhà khoa học đã tìm ra kinh hiển vi, các kĩ
thuật nhuộm băng G,T,R
Từ đó lần lượt các bí mật về tế bào,nhiễm sắc thể,gen được làm sáng
tỏ. Những bệnh tật liên quan tới NST, Gen cũng lần lượt được làm rõ
Năm 1956 JIO va LEVAN đã xác định số lượng NST của người 2n = 46.
Mọi sự thay đổi hay bất thường về số lượng và cấu trúc NST đều có thể
dẫn đến dị tật trên cơ thể mang những dòng tế bào bất thường về NST đó .
Sù thay đổi số lượng NST có thể xẩy ra ở số lượng NST thường hoặc
NST giới tính . Mỗi sự thay đổi về số lượng và cấu trúc NST trên sẽ có thể
dẫn tới một số bệnh tật di truyền, khi cơ thể có dòng tế bào thừa hoặc thiếu
NST X thì gây nên hội chứng TURNER. Tùy theo tình trạng của bộ NST
mà các dạng bệnh có thể thay đổi: từ dạng điển hình đến dạng nhẹ hơn.
1
Hiện nay ở Việt Nam chưa có tác giả nào nghiên cứu về đặc điểm hình
thái và Karyotyp ở những người mắc hội chứng TURNER. Với mong
muốn góp một phần làm rõ đặc điểm hinh thái và Karyotyp ở những người
này tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Phân tích đặc điểm một số hình thái
và Karyotyp ở những người mắc hội chứng TURNER".

Nếp vân da: tần số hoa mô vân út tăng, nhưng giảm ở mô cái, ngã ba
góc ngón b lệch về phía trục. Đường vân chuẩn A tận cùng miền I, chỉ số
ngang hạ thấp, tổng số vân ngón tăng .
Tâm thần: thường biểu hiện thiểu năng trí tuệ nhẹ có trường hợp bình
thường.
Những bệnh nhân mắc hội chứng Turner thường có tuổi thọ bình
thường trừ trường hợp có tật nội tạng nặng chết ở thời kỳ mới sinh. Các
bệnh nhân mắc hội chứng Turner thường vô sinh, tuy nhiên có trường hợp
có thai và sinh con, đó là những bệnh nhân nhẹ hơn, ở trạng thái khảm. [2]
Như vậy hội chứng Turner là do rối loạn về số lượng, cấu trúc của
NST X, nguyên nhân là mất hoàn toàn hay một phần NST X trong một số
tế bào hay trong toàn bộ tế bào của cơ thể, trong đó chủ yếu là rối loạn số
lượng với karyotyp 45, X [2].
Tùy theo mức độ bất thường nặng hay nhẹ của bộ NST mà các dạng
bệnh có thể thay đổi: từ dạng điển hình kể trên đến các dạng nhẹ hơn, tuyến
sinh dục, từ vô kinh đến có kinh ngẫu nhiên…[2]
1.2. Di truyền học tế bào [1]
- 55% trường hợp có karyotyp 45, X.Vật thể Barr âm tính.
- 10% trường hợp ở dạng khảm: 46,XX/45,X hoặc 47,XXX/45,X. Có
vật thể Barr lín hơn bình thường hoặc NST X đều ở nhánh ngắn:
46,X,i(Xp), vật thể Barr nhỏ hơn bình thường.
- 5% trường hợp do mất đoạn NST X ở nhánh ngắn hoặc nhánh dài;
46, XXp-hoặc 46, XXq
4
- 5% trường hợp là NST X vòng: 46, x, r(X) ở dạng khảm hoặc thuần.
- 5% trường hợp có NST Y nh trường hợp khảm 45, X/46, XY.
Theo một số nghiên cứu thì giao tử bất thường là 25% từ mẹ, 75% còn
lại từ bố [bộ môn sinh học di truyền trường đại học y hà nội(1985), “ NST
và bệnh học NST”, chuyên đề di truyền Y học, NXB y học. [1]
Như vậy, hội chứng turner là do rối loạn vể sinh sản, cấu trúc của NST

phát triển trí tuệ, chân tay bất thường và có những vết đốm đỏ ở da.
Năm 1994 Mensah-ADO và cộng sự [2] đã mô tả trường hợp đầu tiên ở
Ivory Coast. Cô gái 18 tuổi biểu hiện cơ thể là vô kinh và không có biểu
hiện dậy thì. Phân tích karyotyp từ nuôi cấy tế bào bạch cầu lympho máu
ngoại vi. Là thể khảm với hai dòng tế bào:
- Một dòng thiếu NST X: 45X.
- Một dòng với NST đều nhánh dài karyotyp là: 46, Xi (Xp)/45, X.
Virginia P. Sybert và cộng sự (2003) Hội chứng Turnerlà một rối loạn
ở nữ đặc trưng của hành với sự có mặt của tất cả hay mét phần của một
NST giới tính bình thường. Với 532 trẻ em và người lớn với karyotyp xác
nhận của Turner. Kết quả xét nghiệm cho thấy có khoảng 10% la thể khảm
còn lại 90% là 45, X/46, XX hay 45, X/46, XY [2].
Năm 2003 Tiến sĩ Stanislas Dehaene thuộc Viện nghiên cứu y học
Pháp INSERM và đồng nghiệp đã nghiên cứu những người mắc hội chứng
Turner - chứng rối loạn gene chỉ ảnh hưởng tới phụ nữ và do sự vắng mặt
từng phần hoặc hoàn toàn của một trong 2 nhiễm sắc thể X gây ra.Bệnh
6
nhân Turner bị vô sinh, có bộ phận sinh dục ngoài là nữ song không có
noãn sào, do đó cũng không có chu kỳ kinh nguyệt [2].
Năm 2004, Virginia p.Sybert, M Turner's nghiên cứu một số rối loạn ở
nữ đặc trưng của hành vi với sự có mặt của tất cả hay một phần của một
giới tính bình thường thứ hai chromosome, xảy ra trong 1/2500 đến 1/3000
bé gái sinh sống.Khoảng 1/2 thể khảm X (45, X), và 5 đến 10% có một
isochromosome của nhánh dài X (46, X, i (Xq)). Hầu hết các phần còn lại
có có thể khảm 45, X. [1]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu hội chứng Turner ở Việt Nam.
Năm 2001 Phan Thị Hoan và cộng sự quan sát trên 470 bệnh nhân. Kết
quả nhận thấy rằng có 39 bệnh nhân có bất thường rối loạn số lượng và cấu
trúc NST. 3 bệnh nhân mắc hội chứng Turner trong đó có 3 bệnh nhân có
rối loạn NST X là:

* Hành chính :
- Người lập hồ sơ
- Cơ sở lập hồ sơ
- Ngày lập hồ sơ
- Họ tên bệnh nhân sinh ngày
- Dân tộc địa chỉ hộ khẩu thường trú
- Hiện đang ở điện Thoại trình độ văn hóa
- Nghề nghiệp hiện nay và các nghề đã từng làm qua
9
* Thăm khám :
- Dùng thước để đo chiều cao cơ thể (mm)
- Dùng cân để đo cân nặng (kg)
- Khám da vùng cổ xem co thưa nếp da không ?
- Xem mu bàn tay bàn chân có phù bặch huyết không?
- Thăm khám hàm to, nhá hay bình thường?
- Cằm có đặc điểm gì
- Mi có sụp không ?
- Tai ở vị trí cao hay thấp ?
- Tóc có mọc xuống gay hay không?
- Cổ ngắn, rộng hay không ?
- Cẳng tay có cong ra ngoài hay không?
- Khám ngực xem có phát triển không ?
- Xem có lông mu, lông nách không? Ýt hay nhiều?
- Có kinh nguyệt không ?
- Tâm thần
* Kết quả cận lâm sàng :
- AFP
- HCG
- UE3
- Karyotyp

Làm sạch bằng cách trộn với dung dịch Carnoy (3 Methanol: 1 a.
axetic), để vàp tủ lạnh 30 phút, rồi ly tâm 1000vòng/phút trong thời gian
10phút.Sau đó loại bỏ dịch nổi ở phía trên giữ lại phần cặn tế bào. Bước
này được nhắc lại 3 lần (lần thứ 3 không cần để lạnh).
Lần cuối cùng, khi mẫu vật đã sạch sau khi ly tâm loại bỏ dịch nổi phía
trên, dùng pipet Pasteur lấy phần cặn chứa nhân tế bào và các cụm kỳ giữa
rồi dàn đều trên lam kính sạch đã được để lạnh.
 Phương pháp nhuộm tiêu bản
Nhuộm tiêu bản thông thường bằng thuốc nhuộm giemsa:
Nhuộm tiêu bản bằng cách nhúng cả tiêu bản vào cốc thuốc nhuộm thời
gian 30 phót, sau đó rửa tiêu bản dưới vòi nước chảy nhẹ .
Kiểm tra độ bắt màu dưới kính hiển vi, rồi để tiêu bản khô tự nhiên ở
nhiệt độ phòng.
 Phương pháp nhuộm tiêu bản bằng phương pháp nhuộm băng G
theo phương pháp của Seabright.M (1971):
1) Để tiêu bản ở tủ Êm 1-2 ngày.
2) Cho tiêu bản vào dung dịch 2 x SSC nóng 60◦C trong 120 đến 150
phót.
3) Tráng tiêu bản trong dung dịch đệm photphat có pH:6.8-7.0 ở
nhiệt đé 20-25◦ C.
4) Nhuộm tiêu bản trong dung dịch Giemsa 4% pha trong đệm
photphat: 96 ml đệm photphat + 4 ml giemsa mẹ.
5) Sau khi nhuộm 5 phót, kiểm tra tiêu bản ở kính hiển vi. Nếu
tiêu bản còn nhạt, tiếp tục nhuộm đến khi băng hiện rõ.
12
6) Tráng và rửa tiêu bản trong dung dịch đệm photphat.
 Chuẩn bị dung dịch 2 x SSC
- Pha sẵn dung dịch Natricitrat 0.03M (dung dịch A)
- Pha sẵn dung dịch NaCl 0.3M (dung dịch B)
- Khi dùng: Trộn dung dịch A và B theo tỷ lệ 1:1.

tích và phân ra làm các nhóm nh sau:
- Nhóm I (nhóm A): Gồm 3 cặp NST sè 1, 2, 3 là các cặp NST lớn
NST sè 1, 3 có tâm giữa, NST sè 2 có tâm lệch (gần giữa). NST sè
1 có thể có thêm eo thứ 2 ở nhánh dài gần tâm.
13
- Nhóm II (nhóm B): Gồm 2 cặp NST sè 4 và 5 là các NST lớn có
tâm lệch (gần đầu) và khó phân biệt nhau bằng kích thước.
- Nhóm III (nhóm C): Gồm 7 cặp NST sè 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12. Các
NST này có khích thước trung bình, tâm lệch (gần giữa). Trong đó
các NST sè 6, 7, 8, 11 có tâm gần giữa hơn các NST sè 9, 10, 12.
NST X giống NST sè 6 và 7.
- Nhóm VI (nhóm D): Gồm 3 cặp NST sè 13, 14, 15 là các NST có
kích thước trung bình, tâm đầu. Các NST này khó phân biệt nhau
về kích thước, thấy có vệ tinh ở nhánh ngắn.
- Nhóm V (nhóm E): Gồm 3 cặp NST sè 16, 17, 18 là cặp NST
tương đối ngắn. NST sè 16 tâm giữa, NST sè 17 tâm lệch (gần
giữa) nhưng lệch hơn NST sè 16, NST sè 18 tâm lệch (gần đầu).
NST sè 16 có thể có eo thắt thứ 2 ở nhánh dài gần tâm.
- Nhóm VI (nhóm F): Gồm 2 cặp NST sè 19, 20 là các cặp NST
ngắn tâm giữa, khó phân biệt nhau về kích thước.
- Nhóm VII (nhóm G): Gồm 2 cặp NST sè 21, 22 là các NST rất
ngắn. NST Y có tâm đầu.
 Các bước lập Karyotyp.
- Kẻ vào giấy 4 đường kẻ ngang cách nhau 4 dòng kẻ (dòng 1 và dòng
2 cách nhau rộng hơn) .
- Đếm số lượng NST thể trong cụm đã được in sẵn trên giấy.
- Cắt rời từng chiếc NST.
- Xếp sơ bộ các nhóm NST vào 4 đường kẻ theo thứ tự : Nhóm A,B
đường kẻ 1,nhóm C đường kẻ 2,nhóm D,E dòng kẻ 3, nhóm F, G và
cặp NST giới tính đường kẻ 4. Xếp nhánh ngắn của NST quay lên trên.

- Thời gian nghiên cứu từ ngày 5/3/2009 đến ngày 28/5/2009
16
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Phân bố tuổi của bệnh nhân Turner.
Qua nghiên cứu 31 bệnh nhân mắc hội chứng Turner chúng tôi thu
được sự phân bố theo tuổi như sau:
Bảng 3.1: Sự phân bố tuổi ở những người mắc hội chứng Turner.
Tuổi
Số lượng
(n)
Tỷ lệ %
≤10 4 13 %
10-20 22 71 %
> 20 5 16 %
Nhận xét: Qua bảng trên ta thấy tỷ lệ lứa tuổi 10-20 tuổi có tỷ lệ cao
nhất chiếm 71% và lứa tuổi ≤ 10 chiÕm tỷ lệ thấp nhất chiếm 13 %.
17
3.2 Nghề nghiệp bệnh nhân Turner
Qua điều tra theo số liệu các hồ sơ bệnh án chúng tôi thu được sự
phân bố bệnh turner theo nghề nghiệp nh sau.
Bảng 3.2 Sự phân bố về nhề nhiệp ở những người mắc hội chứng Turner
Nghề nghiệp
Số lượng
(n)
Tỷ lệ %
Học sinh, sinh viên 24 77.5 %
Cán bộ công nhân viên 3 9.7 %
Làm ruộng 2 6.4 %
Nghề khác 2 6.4 %

Nếp da thừa sau gáy 1 3.2%
Rối loạn CQSD 22 71%
Phù bạch huyết mu bàn chân 1 3.2%
Không có lông mu 20 64.5%
Không có lông nách 23 74.2%
Biểu đồ 3.2: Đặc điểm hình thái của những bệnh nhân Turner
Nhân xét: Dựa vào các đặc điểm hình thái để chuẩn đoán bệnh nhân
mắc bệnh Turner theo nghiên cứu của chúng tôi nhân thấy đặc điểm không có
lông nách ở những bệnh nhân mắc bệnh Turner là cao nhất chiếm 74.2% và
những đặc điểm hình thái Ýt nổi bật chiếm tỷ lệ thấp nhất là nếp da thừa sau
gáy và phù bạch huyết đều chiếm tỷ lệ 3.2% những bệnh nhân mắc bệnh.
3.5. Hình ảnh một số bệnh nhân và Karyotyp của họ
20
Hình ảnh 1:
21
Hình ảnh 2:
22
Hình ảnh 3:
23
Hình ảnh 4:
24
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status