NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
BÀI THẢO LUẬN
MÔN HỌC: KẾ TOÁN QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG KẾ TOÁN
VÀ QUÁ TRÌNH HÒA HỢP – HỘI TỤ CỦA MALAYSIA
GVHD: THS. ĐÀO NAM GIANG
Lớp: Thứ năm, ca 2, C10
HÀ NỘI - 2014
1
MỤC LỤC
2
LỜI CAM ĐOAN
Nhóm xin cam đoan đây là báo cáo khảo sát độc lập của nhóm. Các số liệu sử
dụng phân tích trong bài đều chính xác, có nguồn gốc tin cậy, đã công bố theo đúng
quy định. Các kết quả phân tích do nhóm tự rút ra một cách trung thực, khách quan và
phù hợp với thực tiễn.
3
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
• Giáo trình
- Tài liệu học tập Kế toán quốc tế - khoa Kế toán – Kiểm toán, Học viện Ngân hàng
- Giáo trình Kế toán quốc tế - ĐHKTQD
- Giáo trình Lịch sử kinh tế quốc dân – ĐHKTQD
• Tài liệu tham khảo, tài liệu chuyên sâu
- Hệ thống các chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS
- Hệ thống các chuẩn mực kế toán Malaysia FRS
- Kế toán Tài chính – Trần Xuân Nam MBA
- International Accounting 2
nd
edition, Timothy Doupnik, Hector Perera, McGraw-Hill,
5
PHẦN I: KẾ TOÁN MALAYSIA
1. Lịch sử hình thành kế toán quốc gia
Trước năm 1957, Malaysia là thuộc địa của Anh, cũng từ đó mà sự phát triển kế
toán Malaysia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các khuôn khổ kế toán Vương quốc Anh.
Từ năm 1957, sự độc lập của Nhà nước Malaysia đã làm thay đổi nền kinh tế Mã
Lai vào một kỷ nguyên mới của sự phát triển. Lịch sử của hệ thống kế toán tại
Malaysia đánh dấu mở màn của việc sử dụng các tiêu chuẩn và thông lệ kế toán.
Năm 1958, Hiệp hội Kế toán Công chứng Malaysia (MACPA) đã trở thành cơ
quan kế toán đầu tiên được thành lập với mục đích thúc đẩy các ngành nghề kế toán
trong tất cả các khía cạnh và để giáo dục thực tiễn các chuẩn mực kế toán phù hợp với
các doanh nghiệp ở Malaysia.
Năm 1965, chính phủ đã thông qua Đạo luật công ty và năm 1967 là Luật Kế
toán, đều dựa trên luật pháp và các quy định phát triển ở Anh trong những năm 1960.
Năm 1967, Viện kế toán Malaysia (MIA) được thành lập theo Đạo Luật Kế toán
năm 1967, nhưng rồi không hoạt động trong nhiều năm, sau này là cơ quan bảo trợ cho
các kế toán chuyên nghiệp tại Malaysia, để điều chỉnh và phát triển nghề kế toán ở đất
nước này. MIA hoạt động dưới sự giám sát của Bộ Tài chính.
Năm 1968, MACPA phát hành hướng dẫn kế toán đầu tiên được coi như là kế
toán mẫu cho doanh nghiệp.
Năm 1978, MACPA được kết nạp vào là thành viên của Hội đồng chuẩn mực kế
toán quốc tế (IASC) và bắt đầu áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS).
Năm 1984, MACPA phát hành Chuẩn mực kế toán Malaysia đầu tiên.
Năm 1985, Đạo luật công ty 1965 được cải thiện.
Năm 1987, sau 20 năm không hoạt động, MIA bắt đầu phát hành các chuẩn mực
kế toán, các quyết định và thông tư hướng dẫn cho thành viên.
Năm 1993, Ủy ban chứng khoán được thành lập, các doanh nghiệp niêm yết
được yêu cầu phải công bố đầy đủ các báo cáo tài chính.
Năm 1997, Tổ chức báo cáo tài chính (Finance reporting foundation- FRF) và
Hội đồng chuẩn mực kế toán Malaysia (MASB) ra đời, liên tục đánh giá và cập nhật
lực chính của tăng trưởng kinh tế.
Mục tiêu kinh tế chính của Malaysia là đạt được trạng thái các nước phát triển
khi đến năm 2020 đồng nghĩa với việc nền kinh tế sẽ cần phải tăng hơn 7 %/ năm. Sự
phát triển của lĩnh vực dịch vụ tăng trưởng mạnh và chiếm hơn một nửa hoạt động
kinh tế tại Malaysia, đã được xác định là trụ cột chính trong việc thực hiện mục tiêu
7
này và đẩy mạnh nền kinh tế tăng trưởng chuỗi giá trị. Các lĩnh vực như tài chính Hồi
giáo, công nghệ thông tin, du lịch, giáo dục và đào tạo, công nghệ sinh học, đa phương
tiện và dịch vụ chuyên nghiệp đã được chỉ ra là lĩnh vực trọng tâm trong kế hoạch
chiến lược của Malaysia (ví dụ như Kế hoạch Malaysia lần thứ IX và Kế hoạch thứ ba
công nghiệp Master).
Chính phủ cũng đã dần dần thực hiện cam kết của mình cho nền kinh tế mở cửa và
cải thiện năng lực cạnh tranh và sự hấp dẫn cho nhà đầu tư nước ngoài của Malaysia
trong chính sách của mình. Đặc biệt là kích thích và khuyến khích đầu tư khu vực tư
nhân.
Ngoài các dịch vụ, đồ án kinh tế của Chính phủ tập trung vào giải quyết vấn đề
phân phối thu nhập, phát triển ngành nông nghiệp và cải thiện các dịch vụ xã hội,
trong khi cũng giữ lại tập trung vào các chính sách hành động khẳng định cho nguồn
gốc Mã Lai.
Malaysia là đối tác thương mại lớn thứ hai của New Zealand tại các nước ASEAN,
thị trường xuất khẩu lớn thứ 9 của New Zealand trên toàn cầu và được xếp hạng là 7
nguồn NK lớn nhất của New Zealand , dầu thô và các sản phẩm điện tử chiếm hơn 40
% hàng nhập khẩu.
2.2. Các yếu tố kinh tế
2.2.1. Nguồn tài chính
Căn cứ vào nguồn cung cấp tài chính cho doanh nghiệp tại một quốc gia mà ta
có thể thấy được sự khác biệt giữa các hệ thống kế toán. Tại các quốc gia mà nguồn
cung cấp tài chính chủ yếu từ thị trường vốn, người sử dụng thông tin là các nhà đầu
tư. Mối quan tâm của họ chỉ tập trung vào tính trung thực hợp lý của báo cáo tài
chính. Các nhà đầu tư không có điều kiện tiếp xúc, thu thập thêm thông tin về các báo
ngoài để vượt qua khủng hoảng. Chính vì thế mục tiêu bảo toàn vốn luôn rất quan
trọng, báo cáo tài chính của các công ty luôn phải được điều chỉnh để loại trừ ảnh
hưởng sai lệch của việc biến đổi giá cả đến giá trị tài sản và thu nhập công ty.
Từ việc quản lý dòng vốn nước ngoài của Malaysia trong những năm qua cho
thấy, Chính phủ nước này đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc hoạch định chính sách
phù hợp với thực tiễn của mỗi thời kỳ. Điều đáng nói, cách xử lý “chảy máu ngoại tệ”
và quản lý dòng vốn nước ngoài của Malaysia không giống với bất cứ quốc gia nào
trong khu vực Đông Nam Á, thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, để đối phó với khủng hoảng tài chính - tiền tệ, Malaysia đã sử dụng biện
pháp kiểm soát vốn gắt gao như ấn định tỷ giá ở mức 3,8 RM/USD, tập trung quản lý
trên thị trường chứng khoán thứ cấp, hạn chế các giao dịch tiền tệ và vốn của người
9
không cư trú; hạn chế và cấm sử dụng đồng RM bên ngoài lãnh thổ; cho phép chuyển
đổi ngoại tệ trong hoạt động xuất nhập khẩu, FDI và chuyển lợi nhuận về nước. Theo
hướng xử lý trên, Malaysia vừa hạ lãi suất ngân hàng, phục hồi nền kinh tế và vượt
qua được khủng hoảng kinh tế mà không cần bất cứ sự hỗ trợ nào từ Quỹ Tiền tệ quốc
tế (IMF).
Thứ hai, Malaysia đã tái cấu trúc và khôi phục hệ thống ngân hàng hoạt động lành
mạnh và linh hoạt. Thời gian đầu, Malaysia thực hiện cải tổ hệ thống ngân hàng mạnh
mẽ và triệt để, điều chỉnh quy chế SRR, trực tiếp giới hạn khối lượng dòng vốn vào
của người không cư trú…
Thứ ba, bài học cho nhà hoạch định chính sách trong quản lý dòng vốn:
• Việc neo tỷ giá (de-factor pegging) đồng RM vào đồng USD giai đoạn trước khủng
hoảng nảy sinh vấn đề rủi ro đạo đức. Cụ thể, việc neo giữ tỷ giá đã gây ra những hiểu
lầm về sự ổn định lâu dài của đồng nội tệ. Điều này khuyến khích các doanh nghiệp và
ngân hàng trong nước tăng cường vay nước ngoài và không chú ý đến khả năng đồng
RM bị mất giá;
• Thị trường tài chính nội địa phát triển còn hạn chế, hoạt động cho vay đầu tư và mở
rộng kinh doanh chủ yếu thực hiện qua nghiệp vụ tín dụng ngân hàng dễ phát sinh rủi
ro. Khi khủng hoảng kinh tế - tài chính nổ ra đã gây ra sự xáo trộn nghiêm trọng kênh
là một nhà độc tài nhân từ. Thách thức đối với sự lãnh đạo không được đón nhận nồng
nhiệt.
2.3.2. Chủ nghĩa cá nhân
Là khuynh hướng mỗi cá nhân thường chỉ chăm lo cho chính bản thân mình và
những thành viên gần gũi trong gia đình. Ngược lại với chủ nghĩa cá nhân là chủ nghĩa
tập thể.
11
Điểm số chủ ngĩa cá nhân ở Malaysia là 26, cho thấy đất nước này là một xã hội
theo chủ nghĩa tập thể. Lòng trung thành trong một nền văn hóa tập thể là tối quan
trọng và ghi đè lên các quy tắc xã hội khác. Một xã hội thúc đẩy các mối quan hệ
mạnh mẽ, nơi mà tất cả mọi người chịu trách nhiệm cho các thành viên trong nhóm
của họ. Trong xã hội tập thể, hành vi phạm tội dẫn đến sự xấu hổ và mất mặt.
2.3.3. Mức độ nam tính
Là nhân tố thể hiện sự coi trọng thành tích, chủ nghĩa anh hùng, sự quyết đoán và
sự thành công về của cải. Một điểm số cao (nam tính) ở nhân tố này chỉ ra rằng xã hội
sẽ được thúc đẩy bởi sự cạnh tranh, thành tích và thành công, thành công được định
nghĩa bởi người chiến thắng / tốt nhất trong lĩnh vực này - một hệ thống giá trị bắt đầu
trong trường học và tiếp tục trong suốt hành vi tổ chức. Một điểm số thấp (nữ tính) có
nghĩa là các giá trị chiếm ưu thế trong xã hội là chăm sóc cho người khác và chất
lượng cuộc sống. Một xã hội nữ tính là một trong những nơi mà chất lượng cuộc sống
là dấu hiệu của sự thành công và đứng ra khỏi đám đông không phải là đáng ngưỡng
mộ. Vấn đề cơ bản ở đây là những gì thúc đẩy con người, muốn là tốt nhất (nam tính)
hoặc thích những gì bạn làm (nữ tính).
Với số điểm trung bình là 50 ở Malaysia, khó để xác định đặc tính của xã hội này
dựa trên nhân tố đặc điểm về giới.
2.3.4. Sự né tránh những vấn đề không chắc chắn
Là mức độ mà các thành viên của xã hội chấp nhận sự không chắc chắn và mơ hồ.
Ở Malaysia, điểm của nhân tố này là 36, điểm số này là khá thấp, cho thấy xã hội
Malaysia linh hoạt, con người có tư duy và thái độ thoải mái hơn đối với các sai lệch
trong thực tiễn công việc, thực tiễn hay thông lệ được coi trọng hơn nguyên tắc. Họ tin
này là Nigieria, Malaysia, Indonesia, Hồng Kông,…
Mô hình 2: Các quốc gia vừa mới chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
sang nền kinh tế thị trường (như Trung Quốc, Đông Âu) hay các quốc gia như
Phillipine, Lào,… đã sử dụng hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế làm cơ sở chủ yếu
để xây dựng hệ thống chuẩn mực cho mình. Ảnh hưởng của IAS/IFRS cũng tương tự
như các quóc gia theo mô hình 1, tuy nhiên, các quốc gia này không vận dụng hoàn
toàn mà chỉ chọn lọc một phần có sửa dổi để xây dựng và hoàn thiện hệ thống chuẩn
mực của riêng mình
Mô hình 3: Áp dụng tại các quốc gia mà hệ thống chuẩn mực kế toán của họ ra đời
trước khi có sự ra đời của IAS/IFRS nên họ chỉ cần sửa đổi để hòa hợp với chuẩn mực
quốc tế. Đây là trường hợp của các quốc gia đã phát triển, có nền kế toán lâu đời,
thuộc trường phái Anglo – Saxon và châu Âu lục địa.
Malaysia là quốc gia áp dụng theo mô hình thứ nhất, và đến thời điểm hiện tại thì
có thể coi là đã gần như hội tụ đầy đủ với IAS/IFRS.
3.1.1. Malaysia và chuẩn mực kế toán
1978 Lần đầu tiên áp dụng 1 số ít tiêu chuẩn trong IAS.
1997 Quốc hội thành lập MASB, chuẩn mực của MASB áp dụng hợp pháp cho
tất cả các công ty
2005 Đổi tên các tiêu chuẩn MASB thành Chuẩn mực Báo cáo tài chính (FRS)
phù hợp với IFRS
2006 Giới thiệu về hai cấp báo cáo tài chính cho các tổ chức tư nhân và không
phải tư nhân
2007 FRS thực hiện giống với IFRS
2008 Công bố kế hoạch hội tụ với IFRS vào năm 2012
Tổ chức Các báo cáo tài chính (FRF) và Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Malaysia
(MASB) đã được thành lập theo Đạo Luật báo cáo tài chính năm 1997 (FRA 1997).
FRF, có trách nhiệm giám sát các thỏa thuận thực hiện, tài chính, kinh phí của
15
MASB. FRF sẽ là người đầu tiên để xem xét tuyên bố kỹ thuật MASBs trước khi nó đi
ra cho công chúng.
Anh và các nước châu Âu khác, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Singapore và
Indonesia , do IFRS đã được thành lập là ngôn ngữ kế toán quốc tế ưa thích nhất so
với bất kỳ thông lệ kế toán được chấp nhận chung nào khác.
Hội tụ với IFRS sẽ cung cấp báo cáo tài chính có độ tin cậy và tính minh bạch cao
hơn, có tác động tốt tới quyết định của các nhà đầu tư toàn cầu.
Với sự hội tụ, các công ty đa quốc gia Malaysia sẽ được hưởng lợi từ việc giảm
chi phí tuân thủ và giảm rủi ro dịch tổng hợp báo cáo từ nhiều công ty con quốc tế vào
báo cáo tài chính hợp nhất. Các công ty lớn và nhỏ có khả năng thu hút vốn từ một thị
trường lớn hơn của các nhà đầu tư, giảm thiểu phí tổn về vốn và tạo điều kiện sáp nhập
xuyên biên giới và các hoạt động mua lại và đầu tư chiến lược.
3.1.3. Các hoạt động MASB để tiến tới hội tụ với IFRS năm 2012
Các tọa đàm, hội thảo đưa ra các vấn đề về Hội tụ với IFRS
Tổ chức các hội thảo với sự hỗ trợ của Viện kế toán Malaysia (MIA), tại các
thành phố / thị trấn để cho các bên liên quan và các bên có quan tâm có thể tiếp cận
các tác động của quá trình hội tụ, và chủ động trong chiến lược và hoạt động của họ
đến năm 2012 và xa hơn nữa.
• Kuala Lumpur - 6/10/2008,
• Pulau Pinang- 23/10/2008,
• Kota Kinabalu, Sabah - 17/11/2008,
• Kuching, Sarawak - 18/11/2008
Các cuộc hội thảo đã rút ra các quan điểm về hội tụ là gì, các chương trình cần tiến
hành để chuẩn bị cho thời điểm chuyển đổi, gồm các lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu,
thử nghiệm, phổ biến kế hoạch, hướng dẫn chyển đổi
Các cuộc tọa đàm cũng đã được tổ chức với các bên tham gia chính trong chuỗi
báo cáo tài chính để thảo luận về việc chuyển đổi sang chế độ IFRS và kế hoạch hành
động để tăng cường trạng thái sẵn sàng vào năm 2012.
Giáo dục và đào tạo
Các Viện kế toán Malaysia (MIA) cung cấp các khóa đào tạo liên quan đến kế
hoạch chuyển đổi để giúp trang bị cho doanh nghiệp và công ty kiểm toán các yêu cầu
kiến thức IFRS. Uỷ ban thực hiện Chuẩn mực Báo cáo tài chính cũng sẽ tiến hành các
Phân công các tổ chức hỗ trợ
• Ủy ban tiêu chuẩn thực hiện báo cáo tài chính của Viện kế toán Malaysia (MIA
FRSIC)
Ủy ban Tiêu chuẩn thực hiện báo cáo tài chính của Viện kế toán Malaysia nhằm hỗ
trợ người khai báo cáo tài chính trong việc thực hiện chuẩn mực kế toán. Người lập
18
báo cáo tài chính được khuyến khích nộp các vấn đề của họ đến FRSIC.
• Tổ chức công tác hội tụ (CTF) là gì?
CTF, bao gồm các nhà quản lý nói chung và các hiệp hội, được thành lập để giám
sát các kế hoạch hội tụ để đáp ứng các thời hạn. CTF được hỗ trợ bởi một ủy ban phụ
kỹ thuật về các vấn đề kỹ thuật liên quan đến việc thông qua IFRS. CTF đã được tiến
hành từ năm 2009.
Truyền thông về chuyển đổi sang IFRS
Kế hoạch chyển đổi được thông báo rộng rãi sớm để các danh nghiệp sẵn sàng và
chủ động.
Các nhà quản lý yêu cầu người lập báo cáo tài chính phải tường thuật các vấn
đề /bất cập liên quan đến chuyển đổi sang IFRS trong báo cáo tài chính hàng năm của
họ, tuy có thể ảnh hưởng tính bảo mật doanh nghiệp, nhưng yêu cầu tương tự cũng
được đưa ra bởi các nước khác trong quá trình chuyển đổi để IFRS từ GAAP địa
phương.
Yêu cầu dành cho các doanh nghiệp (tức đơn vị lập báo cáo tài chính)
• tìm hiểu về IFRS và đánh giá các chuẩn mực kế toán sẽ ảnh hưởng đến họ như thế nào.
Từ đó thấy được sự cần thiết phải điều chỉnh kiểm soát nội bộ phù hợp, hệ thống thông
tin và đào tạo nhân viên để phù hợp hoàn cảnh cụ thể của mình.
• phân tích để xác định những gì hệ thống, quy trình hoặc nhân viên thay đổi là
cần thiết. đầu tư vào nguồn lực con người và hệ thống cơ sở hạ tầng.
Ngoài ra, các đơn vị phải xây dựng kế hoạch thực hiện phù hợp và đánh giá tác
động tiềm năng của những thay đổi trong FRS hiện tại và IFRS trong giai đoạn chuyển
tiếp.
MASB ban hành MFRS
So sánh FRS & IAS
Việc đánh số của FRSs tương ứng với IFRS do IASB. Ví dụ, FRS 1 tại Malaysia tương
đương với IFRS 1 FRS với một tiền tố 100 tương ứng với IASs tương đương của nó. Vì
vậy FRS 101 tương đương với IAS 1 FRS với một tiền tố biểu thị 200 tại địa phương
phát triển tiêu chuẩn không có tiêu chuẩn tương đương quốc tế.
Do
đó,
FRS 1 = IFRS 1
FRS 101 = IAS 1
FRS 201 = chuẩn được xây dựng tại địa
phương
IAS 23 Chi phí đi vay FRS 123
1. Mục tiêu
a) Mục tiêu của tiêu chuẩn này là quy định điều trị kế toán cho chi phí đi vay.
b) Đòi hỏi chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất một
"tài sản dở dang" (một trong đó nhất thiết phải có một thời gian đủ dài để có thể đưa
vào sử dụng hoặc bán) được tính vào chi phí của tài sản. Chi phí vay khác được ghi
nhận như một khoản chi phí.
Phạm vi IAS 23
1) Chi phí đi vay có thể bao gồm: [IAS 23,6]
a) Lãi suất thấu chi và vay ngân hàng
b) chi phí lãi vay tính theo phương pháp lãi
suất hiệu quả theo IAS 39.
Phạm vi
Tiêu chuẩn này được
áp dụng trong kế toán
cho chi phí đi vay.
1) Chi phí đi vay có thể
bao gồm:
e) Chênh lệch tỷ giá phát sinh từ các khoản vay
ngoại tệ đến mức mà họ được coi là một sự
điều chỉnh chi phí lãi suất.
Ngoại trừ :
Tiêu chuẩn này không đối phó với chi phí
thực tế hoặc quy gán vốn chủ sở hữu
gồm cả vốn cổ phần ưu đãi không được phân
loại
Tài sản không đủ điều kiện tài sản :
a) Các khoản đầu tư khác, và hàng tồn kho
thường xuyên được sản xuất hoặc sản xuất
với số lượng lớn trên cơ sở lặp đi lặp lại
trong một thời gian ngắn
b) Tài sản sẵn sàng để sử dụng hoặc bán khi
mua
22
hạn như tài sản sinh học ghi nhận theo IAS
41 Nông nghiệp
b) Hàng tồn kho được sản xuất, hoặc sản xuất,
với số lượng lớn trên cơ sở lặp đi lặp lại và
mất một thời gian đáng kể để sẵn sàng
bán (ví dụ, quá trình sản xuất rượu whisky)
Tài sản đủ điều kiện đối với :
Hàng tồn kho đòi hỏi phải có một thời
gian đủ dài để có thể bán được, nhà máy
sản xuất, các cơ sở sản xuất điện và các tài
sản đầu tư.
Định nghĩa cơ bản
Các từ ngữ dưới đây được sử dụng trong chuẩn mực này được hiểu như:
Một tài sản dở dang là một tài sản cụ thể cần có một thời gian đủ dài để có thể đưa
Chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc đầu
tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang được
vốn hóa vào chi phí của tài sản đó. Liệu pháp
này được áp dụng thống nhất cho tất cả các chi
phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc đầu tư
xây dựng hoặc sản xuất của tất cả các tài sản
đủ điều kiện của đơn vị. Số tiền chi phí đi vay
đủ điều kiện để vốn hóa được xác định phù hợp
với tiêu chuẩn này.
dẫn đến lợi ích kinh tế trong tương lai cho các tổ
chức và các chi phí được coi là đáng tin cậy.
Chi phí đi vay khác được ghi nhận là chi phí
trong kỳ khi phát sinh.
24
Chi phí vay khác được ghi nhận như một
khoản chi phí. [IAS 23.8]
Chi phí đi vay đủ điều kiện để vốn hóa
Trường hợp tổ chức đã lựa chọn một chính sách
tận dụng chi phí đi vay , với mục đích so sánh,
điều chỉnh sẽ được áp dụng thống nhất cho tất cả
các tài sản đủ điều kiện của đơn vị. Các đơn vị sẽ
tiếp tục tận dụng chi phí đi vay như vậy ngay cả
khi giá trị ghi sổ của tài sản vượt quá mức bồi
thường của mình. Tuy nhiên, trong trường hợp
như vậy, giá trị ghi sổ của tài sản đủ điều kiện là
phải được viết lại hoặc viết tắt phù hợp với các
yêu cầu của đoạn 19 của tiêu chuẩn này.
Chi phí đi vay đủ điều kiện để vốn hóa
Các chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc
đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang