BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
PHẠM THỊ BÍCH HÀ
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TĂNG TRƯỞNG HÌNH
THÁI VÀ SINH LÝ CỦA TRẺ EM MẦM NON
PHƯỜNG ĐỒNG XUÂN - THỊ XÃ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: SINH HỌC THỰC NGHIỆM
Mã số: 62. 42. 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Quý Tỉnh
HÀ NỘI, 2011
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Hoàng Quý Tỉnh - trường Đại
học Sư phạm Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình
làm đề tài.
Qua đây tác giả cũng xin được cảm ơn tới toàn thể Ban Giám hiệu nhà
trường, các cô giáo, các bậc phụ huynh và các cháu Trường Mầm non bán
công Đồng Xuân – phường Xuân Hòa – thị xã Phúc Yên – Vĩnh Phúc đã tận
tình giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi nói đến sự phát triển của mỗi con người là nói đến sự phát triển
đồng thời cả hai yếu tố thể chất và trí tuệ. Do vậy, một người muốn phát triển
ĐỒNG XUÂN – THỊ XÃ PHÚC YÊN – TỈNH VĨNH PHÚC”
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định thực trạng tăng trưởng hình thái và chức năng sinh lý của
học sinh trường mầm non bán công Đồng Xuân – phường Đồng Xuân – Phúc
Yên – Vĩnh Phúc.
- Xác định mối tương quan giữa tăng trưởng hình thái và các chức năng
sinh lý.
- Xác định mối liên hệ giữa một số yếu tố môi trường với sự phát triển
các đặc điểm hình thái và sinh lý trong nghiên cứu.
3. Nhiệm vụ cụ thể của đề tài
- Nghiên cứu sự tăng trưởng các chỉ số hình thái, thể lực của trẻ em
trường mầm non bán công Đồng Xuân – phường Đồng Xuân – Phúc Yên –
Vĩnh Phúc gồm chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực bình thường, chỉ số
Pignet, chỉ số BMI.
- Nghiên cứu sự tăng trưởng các chỉ số chức năng của một số cơ quan
của trẻ em trường mầm non bán công Đồng Xuân – phường Đồng Xuân – thị
xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc gồm các chỉ số chức năng tuần hoàn, chức
năng hô hấp.
- Sử dụng các công cụ thống kê để nghiên cứu mối tương quan giữa
một số chức năng hình thái và sinh lý của trẻ, mối tương quan giữa một số
yếu tố môi trường với sự phát triển hình thái của trẻ mầm non trong nghiên
cứu.
4. Những điểm mới của đề tài
- Các chỉ số hình thái và chức năng của trẻ em trường mầm non thuộc
phường Đồng Xuân – thị xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc.
- Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng hình thái và các chức
năng sinh lý ở lớp tuổi trẻ mầm non trong địa bàn nghiên cứu.
5. Ý nghĩa khoa học của đề tài
người. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và ứng dụng các chỉ tiêu hình thái – thể
lực được phổ biến rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: tuyển sinh, tuyển quân,
tuyển lao động, giám định y khoa…[56].
Thể lực của con người là một chỉ tiêu phức hợp. Một trong những biểu
hiện cơ bản của thể lực là những số đo kích thước cơ thể, trong đó chiều cao
đứng, cân nặng và vòng ngực là ba chỉ số phản ánh thể lực của con người. Từ
ba chỉ số này có thể tính thêm một số chỉ số khác thể hiện mối liên quan giữa
chúng như chỉ số Pignet và chỉ số BMI [62] .
Nhiều công trình nghiên cứu về thể lực đã cho thấy sự khác nhau giữa
trẻ em thành phố và trẻ em nông thôn, giữa nam và nữ. Trên thực tế, sự phát
triển thể lực của trẻ em phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và là kết quả của sự tác
động qua lại giữa cơ thể với môi trường [40], [46], [63].
1.1.1 Nghiên cứu chỉ số hình thái – thể lực trên thế giới
Từ thế kỷ XIII Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh
giá thể lực [90]. Sau này, các nhà giải phẫu học kiêm họa sỹ thời phục hưng
(Leonard de Vinci, Mikenlangielo, Raphael) đã tìm hiểu rất kỹ cấu trúc và
mối tương quan giữa các bộ phận trong cơ thể người để đưa vào tác phẩm hội
họa của mình. Mối quan hệ giữa hình thái với môi trương sống cũng đã được
nghiên cứu tương đối sớm mà đại diện cho nó là các nhà nhân trắc học
Ludman, Nold và Volanski.
Rudolf Martin là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua 2
tác phẩm nổi tiếng “Giáo trình về nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ
thể và xử lý thống kê”. Trong các công trình này, ông đã đề xuất một số
phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể, cho đến nay vẫn
được sử dụng [63], [88].
Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm
các đề xuất của ông cho phù hợp với từng nước. Vấn đề nhân trắc học còn
được thể hiện qua các công trình của P.N. Baskirov – “Nhân trắc học”, Evan
đương thời.
Từ năm 1954 đến nay, việc nghiên cứu hình thái học đã được đẩy mạnh
và chuyên môn hóa, thể hiện qua việc thành lập bộ môn hình thái học ở một
số trường đại học và viện nghiên cứu. Các hộii nghị về vấn đề này đã được tổ
chức nhiều lần, đặc biệt là vào các năm 1967 và 1972, nhiều chương trình cấp
quốc gia và địa phương được thực hiện. Đó là công trình “Hằng số sinh học
người Việt Nam” năm 1975 do GS. Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên [64]. Đây
cũng là công trình đầu tiên nêu ra khá đầy đủ các thông số về thể lực người
Việt Nam ở mọi lứa tuổi, trong đó có lớp tuổi của trẻ mầm non. Đây mới là
các chỉ số sinh học của người miền Bắc (do hoàn cảnh lịch sử), song nó thực
sự là chỗ dựa đáng tin cậy cho các nghiên cứu sau này trên người Việt Nam.
Sau này cũng đã có một số công trình nghiên cứu về các đặc điểm hình thể
người Việt Nam [69], [70].
Qua các công trình này có thể thấy, tầm vóc và thể lực người Việt Nam
nhỏ hơn so với các dân tộc Âu, Mỹ [92]. Đa số các kích thước về tầm vóc –
thể lực của nam lớn hơn của nữ. Các kích thước này tăng dần theo tuổi, đạt
giá trị cao nhất ở lớp tuổi 26 – 40 (đối với nam) rồi sau đó giảm dần từ 41 đến
60 tuổi. Mức độ giảm mạnh thường thấy ở các lớp tuổi trên 60. Đối với nữ,
tầm vóc – thể lực cũng tăng dần, đạt đỉnh cao lúc 18 – 25 tuổi. Từ 26 – 40
tuổi các chỉ số thể lực ở nữ đã có xu hướng giảm và giảm rõ nhất ở lớp tuổi
41 – 55. Từ 56 tuổi trở đi các chỉ số thể lực ở phụ nữ ngày càng giảm nhiều
hơn [53].
Chiều cao là một đặc điểm nhân chủng quan trọng, mỗi dân tộc thường
có một khung chiều cao nhất định, nó được xác định trong quá trình hình
thành các đặc điểm sinh thể của dân tộc [41]. Ở nước ta, chiều cao đứng của
nam trưởng thành ở lớp tuổi 18 – 25 là 159,0 5,0 cm và của nữ là 149,0
4,0 cm [37]. Theo đề tài KX – 07 – 07 thì chiều cao của nam là 162,4 5,5
“Hằng số sinh học năm 75” [64] và các nghiên cứu sau này cho thấy, chỉ số
Pignet của nam và nữ có sự khác biệt không nhiều. Chỉ số BMI cũng được
xác định trong nhiều công trình. Theo nghiên cứu của Trịnh Văn Minh và
cộng sự [49] thì chỉ số BMI của lớp tuổi 24 ở nam là 18,78 1,50 và ở nữ là
19,13 1,67.
Tiếp đó là công trình nghiên cứu của Trịnh Bỉnh Dy và cộng sự [15],
[16] nghiên cứu về các thông số sinh học và đặc điểm chức năng sinh lý
người Việt Nam. Các tác giả cho rằng, con người sinh học sau khi bộ xương
đã hoàn tất quá trình tăng trưởng (khoảng 20 – 25 tuổi) thì hầu hết mọi chức
năng đều từ từ giảm dần. Đó là quá trình suy thoái chức năng, đặc trưng cho
sự già hóa sau 20 – 25 tuổi.
“Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” do Võ
Hưng chủ biên đã trình bày các công trình nghiên cứu nhân trắc người Việt
Nam trên cả ba miền của đất nước. Qua công trình này, tác giả đã nêu lên
được quy luật phát triển tầm vóc cũng như đặc điểm hình thái người Việt
Nam [29].
“Các chỉ tiêu nhân trắc hình thái thể lực người miền Bắc Việt Nam
trưởng thành trong thập niên 90’ do Trịnh Văn Minh và cộng sự [49] thực
hiện cho thấy, ở lớp tuổi thanh niên sau tuổi dậy thì, các kích thước vẫn tiếp
tục phát triển và đạt đỉnh cao vào lúc 20 – 21 tuổi (ở nữ) và 22 tuổi (ở nam).
Nam giới có chiều cao, cân nặng và các kích thước liên quan đến thể lực, cụ
thể là với các hoạt động cơ bắp luôn cao hơn so với nữ giới. Trong khi đó, các
chỉ số khác có liên quan đến dinh dưỡng, khối mỡ, chỉ số Pignet thì của nữ lại
cao hơn so với của nam.
Lê Nam Trà và cộng sự [60], [61], [62] trong đề tài KX 07 – 07 đã cho
thấy trong giai đoạn từ 18 đến 25 tuổi cơ thể con người vẫn tiếp tục tăng
trưởng. Tuy nhiên, mức độ thay đổi không nhiều như ở các lớp tuổi trước đó.
Năm 1992, Trần Thiết Sơn và cộng sự [53] chọn ngẫu nhiên 165 sinh
viên năm thứ nhất Đại học Y Hà Nội để nghiên cứu đặc điểm hình thái và thể
lực. Kết quả cho thấy, thể lực của sinh viên Y Hà Nội thuộc loại trung bình,
và có chiều cao trung bình (nam là 162,9 cm và nữ là 155,5 cm) cao hơn so
với sinh viên Việt Nam cùng lứa tuổi.
Năm 1993, Bùi Văn Đăng và cộng sự [17] tiến hành nghiên cứu thể lực
của 1221 sinh viên Đại học Y Thái Bình (thuộc 8 tỉnh đồng bằng Bắc bộ). Kết
quả cho thấy, các chỉ số thể lực của sinh viên Y Thái Bình tương đương với
các số liệu trong “Hằng số sinh học người Việt Nam năm 1975” [64].
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng [54] nghiên cứu ảnh hưởng của môi
trường nóng khô và nóng ẩm lên một số chỉ số sinh lý người đã cho thấy, khí
hậu khắc nghiệt vùng Nghệ Tĩnh bước đầu làm phát sinh những biến đổi về
cấu trúc hình thái. Các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu…
chỉ số Pignet, chỉ số Broca, Skelie của cư dân Nghệ Tĩnh phần lớn thấp hơn
so với các chỉ số này ở người Việt Nam. Tác giả cho rằng, đây là điểm đặc
trưng cho sự thích nghi với khí hậu nóng khô và nóng ẩm.
Năm 1994, Nguyễn Hữu Choáng và cộng sự [7] đã nghiên cứu thể lực
của nam thanh niên quận Hồng Bàng, Hải Phòng qua đợt khám nghĩa vụ quân
sự. Các tác giả cho thấy, từ 18 đến 25 tuổi, sự phát triển chiều cao, cân nặng,
vòng ngực trung bình của nam thanh niên quận Hồng Bàng đã chững lại hay
vẫn còn tăng nhưng mức độ tăng không đáng kể.
Năm 1995, Nguyễn Đức Hồng [26] đã nghiên cứu “Đặc điểm nhân trắc
người Việt Nam trong lứa tuổi lao động giai đoan 1981 – 1985” trên 13223
người thuộc cả 3 miền của đất nước. Kết luận của công trình nghiên cứu này
là người Việt Nam trong lứa tuổi lao động có chiều cao (trung bình là 163 cm
ở nam và 153 cm ở nữ) thuộc loại trung bình thấp của thế giới, nhẹ cân, có
phần trên của thân thuộc loại trung bình, hơi dài. Một số chỉ số nhân trắc hình
thái có số đo trung bình tăng dần từ Bắc vào Nam.
Nhìn chung, các nghiên cứu gần đây về thể lực của sinh viên và thanh
niên Việt Nam đều cho thấy có sự tăng lên đáng kể so với số liệu trong các
nghiên cứu từ nhiều năm trước. Đặc biệt là từ sau năm 1975 đến nay khi tình
hình kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta có nhiều thay đổi chắc chắn sẽ có
ảnh hưởng đến tầm vóc, sức khỏe của con người Việt Nam [19]. Thanh niên
thành phố thường có các chỉ số nhân trắc tốt hơn thanh niên nông thôn [8],
[9]. Để giải thích sự khác biệt này, có tác giả [38] cho rằng, yếu tố cơ bản làm
xuất hiện hiện tượng này là chất lượng cuộc sống. Do điều kiện sống ở thành
phố được cải thiện nhiều hơn nên thanh niên thành phố thường có chiều cao,
cân nặng tốt hơn thanh niên cùng lứa tuổi.
Sự khác biệt về mặt chủng tộc, điều kiện sống, quá trình rèn luyện thân
thể cũng là những yếu tố tác động đến thể lực của sinh viên và thanh niên
[53]. Năm 1998, Nguyễn Quang Mai và cộng sự [44] đã nghiên cứu trên nữ
sinh các dân tộc ít người và cho thấy, đến 18 tuổi chiều cao, cân năng trung
bình của nữ sinh các dân tộc thiểu số thấp hơn của nữ sinh các vùng đồng
bằng và thành thị. Tác giả cho rằng, nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này
là do ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, môi trường, chủng tộc, điều kiện
kinh tế.
Nguyễn Quang Mai và Nguyễn Thị Lan [44] nghiên cứu trên nam, nữ
học sinh từ 9 – 18 tuổi thuộc các dân tộc ít người ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú
Thọ cho thấy, chiều cao và cân năng của các em tăng dần theo tuổi, chiều cao
tăng nhanh lúc 14 – 15 tuổi còn cân nặng tăng nhanh lúc 15 – 16 tuổi. Các chỉ
số chiều cao và cân nặng của học sinh nam, nữ trong nghiên cứu của các tác
giả này lớn hơn so với số liệu trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam”
[64], nhưng lại nhỏ hơn kết quả nghiên cứu trên học sinh Hà Nội [39], Thái
Bình [45] và Hà Tây [33]. Thời tăng nhanh chiều cao và cân nặng của các nữ
sinh dân tộc ít người đến sớm hơn so với các dẫn liệu trong cuốn “Hằng số
sinh học người Việt Nam” nhưng muộn hơn so với học sinh Hà Nội và học
chiếu. Từ trước những năm 90 của thế kỷ trước, đề nghị này được ứng dụng
rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới trong đó có cả Việt Nam [93]. Năm 1990,
WHO thành lập Nhóm nghiên cứu về tăng trưởng của trẻ nhằm đưa ra những
khuyến cáo cho việc sử dụng và giải thích một cách hợp lý về các kích thước
nhân trắc áp dụng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Theo báo cáo của nhóm nghiên
cứu này: dữ liệu tham chiếu của Trung tâm quốc gia về thống kê y học/WHO
có những sai sót và thất bại trong việc dự đoán một cách đầy đủ sự tăng
trưởng về mặt thể chất của trẻ. Những hạn chế này đã làm cản trở công tác
quản lý dinh dưỡng hợp lý của trẻ nhỏ Vì vậy cần phải có những đường tăng
trưởng mới để đáp ứng cho nhu cầu trên [94].
Năm 2006, WHO đã công bố bộ chuẩn tăng trưởng thứ nhất của trẻ
dưới 5 tuổi, gồm các chuẩn về chiều cao theo tuổi (chiều cao/tuổi), cân nặng
theo tuổi (cân nặng/tuổi), cân nặng theo chiều cao (cân nặng/chiều cao) và
BMI theo tuổi (BMI/tuổi) [95]
Năm 2007, WHO tiếp tục công bố bộ chuẩn tăng trưởng thứ 2 cho trẻ
dưới 5 tuổi gồm các chuẩn về vòng đầu theo tuổi (vòng đầu/tuổi), Vòng cánh
tay trái duỗi theo tuổi (VCTTD/tuổi), bề dày lớp mỡ dưới da tại cơ tam đầu
cánh tay theo tuổi (BDLMDD CTĐCT/tuổi) và bề dày lớp mỡ dưới mỏm bả
theo tuổi (BDLMDD DMB/tuổi) [96]. Tiếp theo đó là chuẩn tăng trưởng của
trẻ ở tuổi học đường và người trưởng thành đã đánh dấu một mốc quan trọng
cho các nghiên cứu về ứng dụng của các kích thước nhân trắc để đánh giá
trình trạng dinh dưỡng và phát triển thể lực của con người [84].
1.2.
Nghiên cứu về các chức năng sinh lý
1.2.1. Các nghiên cứu về chức năng tuần hoàn máu
Chức năng cơ bản đảm bảo cung cấp ôxy và các chất dinh dưỡng cho
các động mạch chủ và động mạch lớn.
Tần số tim và huyết áp động mạch được nghiên cứu từ khá sớm trên
nhiều đối tượng khác nhau. Trong số các công trình đó đáng chú ý hơn cả
“Hằng số sinh học người Việt Nam” [64]. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tần số
tim của nam trưởng thành trung bình là 70 – 80 lần/phút và của nữ trưởng
thành trung bình là 75 – 85 lần/phút. Tần số tim của trẻ em từ 2 – 4 tuổi là 95
– 110 lần/phút, từ 5 – 15 tuổi là 80 – 95 lần/phút.
Các kết quả nghiên cứu về huyết áp động mạch trên người Việt Nam
của Trịnh Bỉnh Dy trình bày trong cuốn “Về những thông số sinh học người
Việt Nam” cho thấy, huyết áp của người Việt Nam không những thấp mà còn
tăng chậm theo tuổi [14]. Trong “Hằng số sinh học người Việt Nam” huyết áp
tâm thu ở người trưởng thành dao động từ 90 – 140 mmHg và huyết áp tâm
trương là từ 50 – 90 mmHg.
Nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh [63] cũng cho thấy, các chỉ số huyết áp
động mạch nằm trong giới hạn kể trên, chỉ số huyết áp tâm thu trung bình cho
cả nam và nữ là 120,06 16,25 mmHg và huyết áp tâm trương là 75,28
10,74 mmHg.
Các công trình nghiên cứu trên học sinh phổ thông [39] cho thấy, huyết
áp động mạch tăng dần theo lớp tuổi. Nghiên cứu trên những người trưởng
thành khác nhau về chủng tộc [42] cũng cho thấy, huyết áp động mạch của nữ
người Êđê cao hơn của nữ người Kinh.
Năm 1993, Đoàn Yên và cs [73] dựa vào kết quả nghiên cứu tần số tim
và huyết áp của người Việt Nam đã cho rằng, sau khi sinh, tần số tim và huyết
áp động mạch biến đổi có tính chất chu kỳ. Huyết áp động mạch tăng đến 18
tuổi, sau đó ổn định đến 49 tuổi rồi lại tăng lên. Tần số tim giảm dần đến tuổi
25 và ổn định đến tuổi 69. So với người Châu Âu và Châu Mỹ huyết áp người
Việt Nam thường thấp hơn.
việc rèn luyện thể chất có ý nghĩa rất lớn đối với chức năng của hệ tim –
mạch.
Nghiên cứu về điện tim được thực hiện từ thế kỷ XIX [83]. Năm 1885,
Einthoven đã đặt tên cho các sóng trên điện tâm đồ và đưa ra cách tính trục
điện tim. Goldberger năm 1947 đã cải tiến cách mắc các chuyển đạo đơn cực
chỉ làm cho điện thế ở các chuyển đạo này tăng lên 1,5 lần mà không làm thay
đổi hình dạng sóng [77]. Điều này đã giúp các nhà nghiên cứu dễ dàng hơn
trong việc điện tâm đồ. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, tần số tim thay
đổi theo tuổi và theo trạng thái chức năng của cơ thể. Những thay đổi này có
liên quan đến sự giảm hoạt động của nút xoang và giảm ảnh hưởng của dây
thần kinh ngoài tim.
1.2.2. Các nghiên cứu về chức năng hô hấp phổi
Theo các số liệu công bố trong “Hằng số sinh học người Việt Nam”
[68], dung tích sống của người Việt Nam có xu hướng giảm theo tuổi, tăng
theo chiều cao và dung tích sống của nam cao hơn so với của nữ. Dung tích
sống trung bình của người Việt Nam như sau: đối với nam (từ 16 đến 60 tuổi)
cao 160 – 164 cm dung tích sống bằng 2,5 ÷ 3,5 lít dung tích sống cao nhất
xác định được lúc 18 đến 20 tuổi và thấp nhất từ 59 tuổi trở lên. Đối với nữ
(từ 16 đến 60 tuổi) cao 150 – 154 cm dung tích sống bằng 1,65 ÷ 2,35 lít,
dung tích sống cao nhất lúc 18 – 23 tuổi và thấp nhất lúc 59 tuổi trở lên.
Trong cuốn sách này, các tác giả cũng đã nêu lên một loạt các chỉ số cơ bản
như tần số thở, dung tích sống gắng sức, thể tích khí lưu thông… và mối liên
quan của chúng với giới tính, chiều cao đứng của cơ thể.
Công trình của Đoàn Yên và cs [73] nghiên cứu nhịp thở, dung tích
sống, thể tích khí lưu thông, thể tích phút của người Việt Nam từ 6 đến 79
tuổi. Các tác giả đã cho thấy, dung tích sống tăng nhanh đến 19 tuổi sau đó ổn
định, từ 30 tuổi trở đi nó bắt đầu giảm. Dung tích sống của người Việt Nam
nhỏ hơn so với người Âu, Mỹ.
nghiên cứu theo tuổi và giới tính thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1 Phân bố trẻ theo tuổi và giới tính
Tuổi
Bé trai
Bé gái
Tổng
4
56
49
105
5
51
61
112
Tổng
107
song với mặt bàn cân. Chiều cao đứng được tính theo đơn vị centimet (cm).
- Trọng lượng cơ thể: Được xác định bằng cân đồng hồ của Nhật có độ
chính xác đến 0,1kg. Đo xa bữa ăn. Khi cân mỗi đối tượng chỉ mặc một bộ
quần áo mỏng, không mang giày, dép, đứng yên ở vị trí giữa bàn cân, hai bàn
chân sát nhau. Trước khi đo bất kì học sinh nào cân đều được chỉnh để đảm
bảo độ chính xác. Đơn vị tính trọng lượng cơ thể là kilogam (kg).
- Vòng ngực trung bình: Được xác định bằng số trung bình cộng của số
đo vòng ngực lúc hít vào tận lực và lúc thở ra cố sức. Vòng ngực được đo ở tư
thế đứng thẳng bằng thước dây vòng quanh ngực vuông góc với cột số xương
bả vai, phía trước quá mũi ức. Như vậy, chu vi đo thước tạo thành nằm trên
mặt phẳng ngang song song với mặt đất. Trước khi đo hướng dẫn đối tượng
hít vào tận lực và thở ra cố sức để đo. Dụng cụ đo là thước dây bằng vải của
Trung Quốc, không co giãn, có chia số tới mm. Đơn vị đo vòng ngực trung
bình là cm.
Để đánh giá thể lực của học sinh chúng tôi dùng các loại chỉ số:
- Chỉ số BMI (Body Mass Index) còn gọi là chỉ số khối cơ thể, được
tính theo công thức:
BMI = Cân nặng (kg)/[Chiều cao đứng (m)]2
Đơn vị của chỉ số BMI là kg/m2
- Chỉ số Pignet: Được tính bằng công thức
Pignet = Chiều cao đứng (cm) – [Cân nặng (kg) + Vòng ngực trung
bình (cm)]
Đánh giá chỉ số Pignet của Nguyễn Quang Quyền:
Bảng 2.2. Đánh giá chỉ số Pignet của Nguyễn Quang Quyền
Chỉ số
Mức độ đánh
Khỏe
≥ 40,6
Yếu kém
27,5 – 33,9
Trung bình
2.2.2.2. Phương pháp xác định các chỉ số chức năng
Các chỉ số chức năng hệ tim, mạch
- Điện tim: Được xác định bằng ống nghe, khi đo đối tượng ngồi ở tư
thế thoải mái, người đo đặt ống nghe vào ngực trái của đối tượng, ở vị trí giữa
xương sườn thứ 5 và thứ 6, đếm nhịp tim trong vòng 1 phút. Đo 3 lần rồi lấy
giá trị trung bình. Nếu thấy kết quả 3 lần đo khác nhau nhiều thì cho đối
tượng nghỉ 15 phút rồi đo lại.
- Huyết áp động mạch: Được xác định bằng phương pháp Korotkov
[39], dụng cụ đo là huyết áp kế đồng hồ.