Khoa Sinh-KTNN
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thực hiện chiến lược công nghiệp
hóa, hiện đại hoá đất nước, một trong những nhiệm vụ quan trọng là xây dựng
nguồn lực mới tạo động lực cho sự phát triển, trong đó nhân lực đóng vai trò
quan trọng. Chính vì thế, việc đào tạo nguồn nhân lực mới có chất lượng cao
cho xã hội là một yêu cầu cấp thiết.
Sự nghiệp giáo dục với mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và
bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước, luôn được sự quan tâm của Đảng, Nhà
nước và toàn xã hội. Giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, khẳng định
đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, toàn xã hội đặt nhiều kỳ vọng
vào sự phát triển của sự nghiệp giáo dục, vào việc đào tạo nguồn nhân lực trí
tuệ cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước. Việc đổi mới trong hệ thống giáo
dục các cấp hiện nay ở nước ta đang là mục tiêu của chiến lược phát triển đất
nước, trong đó giáo dục tiểu học một bậc học nền tảng của giáo dục phổ thông
trong hệ thống giáo dục quốc dân có ý nghĩa rất quan trọng.
Sự phát triển hình thái cơ thể, sinh lý nói chung và phát triển trí tuệ nói
riêng của trẻ là nền tảng cho sự phát triển năng lực trí tuệ sau này của chúng.
Do đó lĩnh vực này cần được quan tâm nghiên cứu một cách cơ bản để quá
trình phát triển của nó đạt tối ưu. Vì vậy, việc đổi mới giáo dục phổ thông nói
chung và giáo dục bậc tiểu học nói riêng không chỉ là quan tâm đổi mới về
nội dung, chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp, trang thiết bị
dạy học hiện đại mà còn quan tâm đến việc nghiên cứu những đặc điểm sinh
học theo lứa tuổi và năng lực trí tuệ của học sinh, nhằm thích ứng với những
định hướng đổi mới kể trên.
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
Phúc.
- Các số liệu thu được qua nghiên cứu có thể sử dụng làm dữ liệu tham
chiếu trong giảng dạy y, sinh học trong nhà trường.
- Cung cấp các số liệu về một số chỉ số hình thái, sinh lý cơ bản, góp
phần xây dựng các chỉ số sinh học người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
3. Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu sự tăng trưởng một số chỉ số về hình thái và thể lực của
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
2
SVTH: Hoµng ThÞ Thuý
Khoa Sinh-KTNN
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
trẻ em độ tuổi 6-10 Trường tiểu học Xuân Hòa- Phúc Yên- Vĩnh Phúc.
- So sánh một số chỉ số hình thái và thể lực của HS nam và HS nữ
Trường tiểu học Xuân Hòa- Phúc Yên- Vĩnh Phúc.
- Nghiên cứu sự thay đổi thời gian cảm giác – vận động của học sinh
tiểu học từ đó đề ra các phương pháp dạy học phù hợp với trí tuệ của học sinh
tiểu học.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Tìm hiểu ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, xã hội, thói quen sinh hoạt,
môi trường sống lên sự tăng trưởng cơ thể của học sinh tiểu học.
- Bước đầu đề xuất các biện pháp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho học
sinh tiểu học.
- Đưa ra một số ý kiến đóng góp cho sự phát triển năng lực trí tuệ đối
chọn các chỉ tiêu riêng. Các chỉ tiêu về hình thái, thể lực được lựa chọn trong
đề tài này là: chiều cao, trọng lượng, vòng ngực, BMI, Pignet.
1.1.1. Lược sử nghiên cứu về hình thái thể lực của trẻ em trên thế giới
Một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm khi nghiên cứu
con người là hình thái. Từ thế kỉ thứ XIII Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số
quan trọng để đánh giá thể lực [22]. Sau này các nhà giải phẫu học kiêm học
sĩ thời phục hưng Leonard De Vinci, Mikenlangielo, Raphael... đã tìm hiểu rất
kỹ cấu trúc và mối tương quan giữa các bộ phận trong cơ thể người để đưa lên
tác phẩm hội họa. Mối quan hệ giữa hình thái và môi trường cũng đã được
nghiên cứu tương đối sớm mà đại diện là nhà nhân trắc học Ludman, Nold và
Volanski [5].
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
4
SVTH: Hoµng ThÞ Thuý
Khoa Sinh-KTNN
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
Những nghiên cứu về sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em đầu tiên
vào khoảng giữa thế kỷ XVIII. Quyển sách đầu tiên về sự tăng trưởng chiều
dài ở người “Wachstum der ménchen in die Lange” của J.A.Stoeller được
xuất bản ở Magdeburg (Đức) vào năm 1729, trước khi có sách giáo khoa bệnh
học trẻ em của Rosen von Rosenstein (1753). Tuy nhiên, các nghiên cứu này
chưa có số liệu đo đạc cụ thể.
Nghiên cứu đầu tiên về sự tăng trưởng của trẻ em được trình bày trong
luận án tiến sĩ của Christian Friedrich Jumpert ở Halle (Đức) năm 1754.
các nhà máy dệt ở miền Bắc nước Anh và nêu lên cần phải cải cách xã hội,
cải thiện điều kiện và thời gian làm việc cho tốt hơn. Hướng nghiên cứu này
vẫn được tiếp tục cho đến nay và người ta sử dụng chiều cao của trẻ em và
người trưởng thành như một chỉ số để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và xã
hội. Từ đó nêu lên quy luật tăng trưởng theo thời gian.
Nghiên cứu tăng trưởng cũng được sử dụng trong y tế học đường.
Nghiên cứu đầu tiên thực hiện ở Carlschule(Đức) từ 1772 -1794. Số lượng
học sinh được đo là 92 ở 8 tuổi, tăng lên 442 ở 15 tuổi và giảm xuống 155 ở
21 tuổi. Đây là một nghiên cứu dọc khá lớn.
1.1.2. Các nghiên cứu về hình thái và thể lực của trẻ em ở Việt Nam
Lịch sử nước ta bị thực dân Pháp xâm lược và đô hộ nhiều năm nên y tế
và giáo dục hạn chế, việc quan tâm chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân còn gặp
nhiều khó khăn.
Những nghiên cứu đầu tiên về chỉ số sinh học ở trẻ em được bắt đầu từ
những năm 1930 tại ban nhân trắc học thuộc viện Viễn Đông Bác Cổ .
Những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam thời kỳ này được tiến hành hầu
như lẻ tẻ với những số liệu chưa được xử lý . Năm 1938 Bigot và Đỗ xuân
Hợp nghiên cứu trên 897 nữ sinh tuổi từ 5-18 tại Hà Nội. Kết quả này được
công bố trong 9 tập tạp chí “Các công trình nghiên cứu của viện giải phẫu học
trường đại học Y Khoa Đông Dương” [5].
Sau cách mạng tháng 8/1945 thành công và sau năm 1954 việc chăm
sóc sức khoẻ cho nhân dân miền bắc được quan tâm hơn. Từ khi thành lập bộ
môn nhân trắc học ở một số viện nghiên cứu và trường ĐH thì lúc này việc
điều tra đặc điểm hình thái sinh lý con người mới có điều kiện phát triển, làm
cơ sở cho giảng dạy và nghiên cứu bộ môn giải phẫu trong lĩnh vực y học ,sư
phạm…Những năm 60 trở đi các công trình điều tra cơ bản được tăng cường
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
6
101 học sinh Hà Nội từ 16-17 tuổi và có nhận xét: chiều cao phát triển mạnh
nhất là lúc 11-12 tuổi ở nữ và 13-15 tuổi ở nam. Cân nặng phát triển mạnh
nhất lúc 13 tuổi ở nữ và 15 tuổi ở nam.
Dự án điều tra cơ bản về kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu
sinh học của người Việt Nam. Đã thống kê được nhiều nghiên cứu và so sánh
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
7
SVTH: Hoµng ThÞ Thuý
Khoa Sinh-KTNN
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
với Hằng số sinh học Việt Nam 1975 về các chỉ tiêu hình thái, sinh lý của
nhiều vùng khác nhau trong những năm 1990.
Trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu về hình thái thể lực của
người Việt Nam và đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh. Các nghiên cứu như:
Nghiên cứu luận án thạc sỹ của Phó Thị Bích Hằng, nghiên cứu sự hiểu biết
một số kiến thức sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh dân tộc một số
trường nội trú tỉnh Sơn La. Luận án thạc sỹ của Nguyễn Thị Lan: nghiên cứu
một số chỉ tiêu về thể lực sinh lý tuổi dậy thì của các em gái, trai thuộc một
số dân tộc ít người tại Vĩnh Phúc-Phú Thọ…Các nghiên cứu cho thấy các em
ở thành phố, thị xã có tầm vóc thể lực phát triển hơn các em vùng nông thôn.
Đồng thời tuổi dậy thì của các em ngày càng đến sớm hơn. Ở nước ta trong
thời kì đổi mới, kinh tế có những bước phát triển nhảy vọt, đời sống nhân dân
ngày càng được nâng cao đồng thời dẫn đến sự khác biệt các chỉ số hình thái
sinh lý giữa nam và nữ, giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền
Đ Trẻ càng nhỏ, cường độ phát triển càng lớn, tốc độ phát triển
càng nhanh, sau đó yếu đi và chậm dần.
Đ Có sự phát triển không cân đối và không đồng đều giữa các yếu
tố trong cấu tạo tâm - sinh lý.
Có nhiều biến động và rất nhanh chóng.
1.2.2. Đặc điểm sinh lý lứa tuổi
Cơ thể của trẻ em là nền tảng vật chất của trí tuệ và tâm hồn, nền tảng
có vững thì trí tuệ và tình cảm mới có khả năng phát triển tốt „„thân thể khoẻ
mạnh thì chứa đựng một tinh thần sáng suốt’’, ngược lại „„tinh thần sáng suốt
thì cơ thể có điều kiện phát triển’’ [15].
Sự phát triển thể chất của học sinh tiểu học có những đặc điểm sau:
- Thể lực của các em phát triển tương đối êm ả, đồng đều. Chiều cao
mỗi năm tăng trên dưới 4cm, trọng lượng cơ thể tăng mỗi năm tăng trên dưới
2kg. Bộ xương đang ở giai đoạn cứng dần nhưng còn nhiều mô sụn. Vì thế,
cần quan tâm đến thế đi, đứng, ngồi, chạy, nhảy của các em để đề phòng
cong, vẹo, gẫy xương ở trẻ. Tránh để các em mang, xách những vật quá nặng,
tránh để các em viết lâu, làm những việc quá tỉ mỉ gây mệt mỏi cho các em
[2].
- Hệ thần kinh của học sinh tiểu học đang thời kỳ phát triển mạnh, bộ
não của các em phát triển về khối lượng, trọng lượng và cấu tạo. Đến 9-10
tuổi, hệ thần kinh của trẻ căn bản được hoàn thiện và chất lượng của nó sẽ
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
9
SVTH: Hoµng ThÞ Thuý
Khoa Sinh-KTNN
10
SVTH: Hoµng ThÞ Thuý
Khoa Sinh-KTNN
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chi
tiết mang tính không chủ động. Do đó, các em phân biệt những đối tượng còn
chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn. Thí dụ, không nên nghĩ
rằng học sinh tiểu học (lớp 1, lớp 2) chưa có khả năng phân tích, tách các dấu
hiệu, các chi tiết nhỏ của đối tượng nào đó. Vấn đề là ở chỗ khi tri giác, sự
phân tích một cách có tổ chức, và sâu sắc ở học sinh các lớp đầu bậc Tiểu học
còn yếu. Như vậy là học sinh thường “thâu tóm” sự vật về toàn bộ, về đại thể
để tri giác. Thí dụ: người ta cho các em xem một bức tranh vẽ con sóc rất đẹp,
sau khi cất bức tranh, yêu cầu các em vẽ lại thì các em không nhận thấy rất
nhiều chi tiết, các em hỏi nhau: con sóc lông màu gì? Có ria mép hay không?
Mắt nó thế nào? [7].
Ở các lớp đầu bậc tiểu học, tri giác của các em thường gắn với hành
động, với hoạt động thực tiễn của trẻ. Tri giác sự vật có nghĩa là phải làm gì
đó với sự vật: cầm, nắm, sờ mó sự vật ấy. Những gì phù hợp với nhu cầu của
học sinh, những gì giáo viên chỉ dẫn thì mới được các em tri giác. Vì thế,
trong giáo dục, nên vận dụng các điều sau đây:“ Trăm nghe không bằng một
thấy, trăm thấy không bằng một làm” [7].
Kỹ năng hoạt động nhận thức bước đầu được hình thành trong hoạt
động học tập. Hành động sư phạm của giáo viên giữ vai trò quyết định trong
việc thực hiện thao tác nhận thức của học sinh tiểu học. Năng lực nhận thức
hiện của hoạt động tinh thần, kể cả những dạng phức tạp nhất, nếu xét về mặt
bản chất thì đều là những phản xạ”.
Kế thừa và phát triển quan điểm của Sechenov, Pavlov (1849-1936) đã
xây dựng lên học thuyết duy vật hoàn chỉnh về hoạt động thần kinh cấp cao
với cơ sở của các thực nghiệm sâu sắc. Ông là người khai sinh ra khái niệm
“Phản xạ có điều kiện” và coi nó là đơn vị cơ bản của hoạt động thần kinh cấp
cao ở động vật và người [18].
Nghiên cứu về phản xạ cảm giác - vận động trên người Việt Nam đã
được các nhà sinh lý học, y học và tâm lý học quan tâm [18]. Tuy nhiên do
phương pháp nghiên cứu không giống nhau nên kết quả thu được có sự khác
nhau [18].
Đỗ Công Huỳnh và cộng sự đã nghiên cứu thời gian phản xạ cảm giác vận động của thanh thiếu niên từ 6 đến 18 tuổi ở khu vực Nam, Bắc sân bay
Biên Hòa và xã Vạn Phúc Hà Đông. Ông cho thấy thời gian phản xạ cảm giác
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
12
SVTH: Hoµng ThÞ Thuý
Khoa Sinh-KTNN
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
- vận động giảm dần theo tuổi, càng lớn (không quá 18 tuổi) thời gian phản xạ
càng ngắn. Điều này, chứng tỏ qui trình xử lý thông tin ngày càng tốt hơn
theo lứa tuổi. Phương pháp đo của Đỗ Công Huỳnh do dựa vào kỹ thuật xử lý
trên máy vi tính, cho phép xác định chính xác thời gian phản xạ thị giác và
thính giác - vận động đã được nhiều tác giả sử dụng [17].
Năm 2000, Trần Trí Bảo đã xây dựng phương pháp xác định tốc độ xử
thái tâm lý và sức khoẻ bình thường, không có các dị tật về tai, mắt.
Tổng số đối tượng nghiên cứu là 300 học sinh, trong đó có 150 học
sinh nam và 150 học sinh nữ. Sự phân bố đối tượng nghiên cứu có thể thấy ở
bảng 1.
Bảng 1. Phân bố đối tƣợng nghiên cứu
Tuổi
Tổng số
Nam
Nữ
6
60
30
30
7
60
30
30
8
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1. Địa điểm.
Trường tiểu học Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
14
SVTH: Hoµng ThÞ Thuý
Khoa Sinh-KTNN
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
Phòng thí nghiệm nhân học, Trung tâm nhân học và phát triển trí tuệ,
ĐHQGHN.
2.2.2. Thời gian.
Luận văn này được bắt đầu thực hiện từ tháng 5- 2009 đến tháng 52010.
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Chọn mẫu nghiên cứu.
Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên trong nhóm học sinh có
độ tuổi từ 6 đến 10 ở các khối lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4, lớp 5 của trường tiểu
học Xuân Hòa, Thị xã Phúc Yên. Các chỉ số được nghiên cứu
* Các chỉ số hình thái thể lực: Chiều cao, cân năng, vòng ngực, BMI,
pignet.
* Các chỉ số sinh lý: thời gian phản xạ thị giác-vận động và thính giácvận động.
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu các chỉ số.
2.3.2.1. Chỉ số hình thái
*Phương pháp đo chiều cao đứng:
thể lực. BMI là chỉ số cho phép đánh giá thể lực tương đối của những người
có chiều cao khác nhau. BMI được đo bằng thương số giữa trọng lượng cơ thể
với bình phương chiều cao đứng.
BMI= P/h2
Trong đó :
P: Khối lượng cơ thể(kg)
h: Chiều cao đứng(m)
BMI càng cao thì sức khoẻ càng tốt và ngược lại
BMI ở ở lứa tổi 5-10 tuổi nằm trong: Khoảng < 13 là gầy
Khoảng > 17 là béo
Khoảng 13 17 bình thường.
* Chỉ số Pignet:
Pignet= h-(P+T)
Trong đó:
h: Chiều cao đứng (cm)
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
16
SVTH: Hoµng ThÞ Thuý
Khoa Sinh-KTNN
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
P: Trọng lượng cơ thể (kg)
T:
tra để đảm bảo tính chính xác.
Các số liệu nhập đầy đủ hết, được máy vi tính xử lý theo các chỉ số sau:
số lượng, tỷ lệ%, giá trị trung bình ( X ), sai số của số trung bình (SD), hệ số
biến thiên CV.
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
17
SVTH: Hoµng ThÞ Thuý
Khoa Sinh-KTNN
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
x
- Tính giá trị trung bình ( X ) : X =
Xi
i 1
n
X : là giá trị trung bình
Xi : là giá trị thứ i của đại lượng
X
n: là số cá thể ở mẫu nghiên cứu.
- Độ lệch chuẩn:
SD: Độ lệch chuẩn
n: Số học sinh trong mẫu
_
( Xi X i ) 2 : Độ lệch của từng giá trị so với giá trị trung bình
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
18
SVTH: Hoµng ThÞ Thuý
Khoa Sinh-KTNN
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HÌNH THÁI VÀ THỂ LỰC CƠ THỂ HỌC
SINH.
3.1.1. Kết quả nghiên cứu chiều cao cơ thể của học sinh
Chiều cao được nghiên cứu là chiều cao đứng của học sinh, đây
là chỉ tiêu cơ bản trong việc nhận xét đánh giá sự phát triển cơ thể.
3.1.1.1 Kết quả nghiên cứu về chiều cao đứng của học sinh nam
Kết quả nghiên cứu về chiều cao đứng của nam được thể hiện trong bảng 2.
Bảng 2. Sự biến đổi chiều cao đứng của học sinh nam theo tuổi (cm).
Stt
Tuổi
4.5 ± 0.1
4
9
30
131.0 ± 0.7
6.7 ± 0.3
5
10
30
138.4 ± 0.9
7.4 ± 0.2
126.1± 0.8
4.3± 0.1
TB chung
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
7
8
9
10
Biểu đồ 1. Sự biến đổi chiều cao đứng (cm) của học sinh nam theo tuổi
Qua kết quả ở bảng 2 và các biểu đồ 1 về chiều cao đứng cho thấy:
Nam HS ở 5 lứa tuổi trên có chiều cao TB là 126.1± 0.8 (cm).
Chiều cao của HS nam tăng dần theo lứa tuổi. Lúc 6 tuổi chiều cao trung bình
là 116.9± 0.8 (cm), đến năm 10 tuổi chiều cao trung bình là 138.4 ± 0.9 (cm).
Trong vòng 5 năm chiều cao của HS nam tăng thêm 21.5 (cm), trung bình
mỗi năm tăng thêm 4.3±0.1 (cm). Chiều cao của các em nam tăng nhanh nhất
ở lứa tuổi 9 sang 10 đạt đến 7.4 cm/năm.
Trong từng giai đoạn phát triển của cơ thể tốc độ tăng chiều cao
của HS không giống nhau. Điều này được thể hiện trong biểu đồ 1 và bảng 2.
3.1.1.2 Kết quả nghiên cứu về chiều cao đứng của học sinh nữ
Kết quả nghiên cứu về chiều cao đứng của nữ được thể hiện trong bảng 3.
Stt
Tuổi
X SD
n
3
8
30
121.5 ± 1.3
4.3± 0.5
4
9
30
126.9 ± 0.9
5.4± 0.4
5
10
30
136.8±0.8
9.9± 0.1
9
10
Biểu
đồ 2. Sự biến đổi chiều cao đứng (cm) của học sinh nữ theo tuổi
Các số liệu trong bảng 3 và biểu đồ 2 cho thấy:
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
21
SVTH: Hoµng ThÞ Thuý
Khoa Sinh-KTNN
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
Nữ HS ở 5 lứa tuổi có chiều cao TB là 123.5±0.8 (cm). Chiều
cao của HS nữ tăng dần theo lứa tuổi. Lúc 6 tuổi chiều cao trung bình là
115.1±0.6 (cm), đến năm 10 tuổi chiều cao trung bình là 136.8±0.8 (cm).
Trong vòng 5 năm chiều cao của các em tăng thêm 21.7 (cm), trung bình mỗi
năm tăng thêm 4.3± 0.2 (cm). Chiều cao của HS nữ tăng nhanh nhất ở lứa tuổi
9 sang 10 đạt đến 9.9± 0.1 cm/năm. Như vậy, trong từng giai đoạn phát triển
của cơ thể tốc độ tăng chiều cao của HS không giống nhau.
3.1.1.3 So sánh chiều cao đứng của nam và nữ học sinh
Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng 4 và biểu đồ 3.
30 119.8 ± 0.9 2.9 ± 0.1
30 117.2 ± 0.8 2.1 ± 0.2
2.6
8
30 124.3 ± 1.0 4.5 ± 0.1
30 131.0 ± 0.7 6.7 ± 0.3
30 138.4 ± 0.9 7.4 ± 0.2
30 121.5 ± 1.3 4.3 ± 0.5
30 126.9 ± 0.9 5.4 ± 0.4
30 136.8 ±0.8 9.9 ± 0.1
2.8
9
10
TB chung 126.1 ± 0.8 4.3 ± 0.1
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
123.5 ±0.8
22
1.8
7
8
9
tuoi
10
Biểu đồ 3. Sự biến đổi giữa chiều cao đứng(cm) theo lứa tuổi và giới tính
cm
12
10
8
nam
nu
6
4
2
0
6
7
8
là sự kéo dài xương đùi và xương ống chân. Chiều cao của cơ thể được quy
định bởi các yếu tố di truyền, hocmon và chịu ảnh hưởng của điều kiện môi
trường.
3.1.2. Kết quả nghiên cứu trọng lƣợng (cân nặng) cơ thể của học sinh
Trọng lượng cơ thể là chỉ tiêu thứ 2 không thể thiếu được trong
việc đánh giá tầm vóc và thể lực của người Việt Nam nói chung và của các
em học sinh nói riêng. Trọng lượng là đặc điểm tổng hợp biểu thị mức độ, tỉ
lệ hấp thụ và tiêu hao năng lượng. So với chiều cao, cân nặng ít phụ thuộc vào
yếu tố di truyền mà nó liên quan chủ yếu đến điều kiện dinh dưỡng. Mặc dù
cân nặng không nói lên tầm vóc, nhưng sự phát triển của nó liên quan đến
nhiều kích thước khác nhau của cơ thể do đó thường được khảo sát nhằm
đánh giá thể lực.
3.1.2.1. Kết quả nghiên cứu trọng lượng trung bình của học sinh nam
Bảng 5. Sự biến đổi trọng lượng (kg) của học sinh nam theo tuổi
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
24
SVTH: Hoµng ThÞ Thuý
Khoa Sinh-KTNN
Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
Stt
Tuổi
2.5 ± 0.2
4
9
30
30.5 ± 1.0
6.1 ± 0.1
5
10
30
35.1 ± 1.1
4.6± 0.1
26.3±0.9
3.0±0.1
TB chung
Tăng/năm
GVHD: TSKH.Mai V¨n H-ng
25
SVTH: Hoµng ThÞ Thuý