44
CHƯƠNG V
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP
I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
II. NHIỆM VỤ CỦA SINH VIÊN KHI ĐI THỰC TẬP.
1. Chuẩn bò của sinh viên trước khi đi thực tập.
2. Thời gian lưu lại trong xí nghiệp.
a. Khuôn khổ của sinh viên trong nhà máy.
b. Cách tiến hành thực tập của sinh viên tại xí nghiệp.
c. Các phương tiện làm việc của sinh viên.
- Tài liệu sinh viên cần sử dụng.
- Thiết bò văn phòng và thông tin sinh viên có thề sử dụng.
- Các buổi thảo luận của sinh viên với cán bộ nhà máy.
- Tham dự của sinh viên vào các buổi họp của nhà máy.
III. CÁCH THIẾT LẬP HỒ SƠ VÀ SOẠN THẢO BÁO CÁO.
1. Sự cần thiết của báo cáo thực tập.
2. Cách hình thành các hồ sơ chuẩn bò cho bài báo cáo.
3. Nội dung của bài báo cáo.
IV. CHUẨN BỊ TRÌNH BÀY, VÀ BẢO VỆ BÁO CÁO THỰC TẬP.
1. Chuẩn bò trình bày.
2. Phần trình bày trước hội đồng.
3. Bảo vệ trước hội đồng.
V. THỰC HIỆN LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP.
1. Luận án là công trình có giá trò kỹ thuật đầu tiên của người kỹ sư.
2. Trách nhiệm của sinh viên khi thực hiện luận văn tốt nghiệp.
- Xác đònh nhiệm vụ của mình phải thực hiện trong thời gian thực tập
tại xí nghiệp.
2. Thời gian lưu lại trong xí nghiệp.
- Hội nhập vào môi trường công nghiệp: tìm hiểu và hoà minh vào hoạt
động của xí nghiệp.
- Thực hiện nhiệm vụ do giáo viên và cán bộ hướng dẫn giao.
a) Khuôn khổ của sinh viên tại nhà máy
- Xí nghiệp tiếp nhận sinh viên và giao cho một người hướng dẫn, họ là
kỹ sư, cán bộ kỹ thuật hay chuyên viên cao cấp; Họ giúp cho sinh viên
hội nhập dễ dàng vào xí nghiệp, xác đònh nhiệm vụ và những nét lớn về
trách nhiệm phải thực hiện, Họ cung cấp những thông tin về đặc tính khoa
học kỹ thuật, theo dõi và đánh giá công việc của sinh viên.
- Bộ môn sẽ cử một giáo viên thường xuyên theo dõi sinh viên thực tập
ở xí nghiệp. Việc tham quan thực tập này không những cho phép sinh
viên tăng cường mối liên hệ với xí nghiệp, mà nó còn tạo ra sự đánh giá
các thành tích đầu tiên và khả năng hội nhập của sinh viên vào xí nghiệp.
- Trong trường hợp gặp các khó khăn về phương pháp luận, kỹ thuật,
điều kiện vật chất v.v… sinh viên có thể đề nghò các buổi gặp gỡ với
giáo viên hướng dẫn để tìm ra sự giúp đỡ cần thiết. Các buổi gặp gỡ này
có thể có những mục tiêu khác nhau và liên quan đến đề tài được giao:
+ Nếu đề tài quá rộng, cần phải giới hạn nó.
+ Nếu đề tài quá mơ hồ, cần phải xác đònh cụ thể chính xác.
+ Nếu sự tiến triển chậm cần có kế hoạch nhanh chóng bổ sung
tức thời
sinh viên phải báo cáo lại và xin ý kiến của cán bộ nhà máy và
giáo viên hướng dẫn:
+ Cách thức mà anh ta sẽ thực hiện.
+ Những phương tiện mà anh ta cần sử dụng.
46
+ Các khó khăn gặp phải.
• Kiểm tra lại toàn bộ các hoạt động xem có đạt được như các mục
tiêu của đợt thực tập đề ra hay không?
c) Các phương tiện làm việc của sinh viên.
Một số phương tiện sẽ giúp cho sinh viên hoàn thành công việc: do vậy
sinh viên cần thiết phải thích ứng để giải quyết các vấn đề. Thực vậy, sự hợp
thức hóa các kết quả phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng của các phương tiện,
công cụ và phương pháp được sử dụng.
- Tài liệu:
Cần chú ý đến việc ghi chép các phần tham khảo chính xác từ tất cả tài
liệu được sử dụng. Chúng giúp cho việc soạn thảo thư mục và các ghi chú.
Tài liệu đó bao gồm: các tác phẩm, tạp chí, tài liệu kỹ thuật (bản vẽ, sơ đồ,
lý lòch máy…), tài liệu nghe nhìn ở một thư viện, một trung tâm tư liệu hay ở
phòng kỹ thuật của xí nghiệp.
- Thiết bò văn phòng và thông tin:
47
Sinh viên thực tập cần được sử dụng các thiết bò của xí nghiệp, họ cần
phải nhanh chóng thích nghi (Ví dụ: điện thoại, máy fax, máy tính, máy in,
máy scanner…)
- Các buổi thảo luận:
Sinh viên phải tạo được các buổi thảo luận với các cán bộ kỹ thuật của
nhà máy để thực hiện dự án của mình.
+ Chuẩn bò buổi thảo luận, bằng cách thiết lập hướng đi của buổi thảo
luận theo đề tài hoặc vấn đề mình cần quan tâm
+ Cần biết rõ khả năng và phẩm chất của người đối thoại (cán
bộ,chuyên gia, các lónh vực mình quan tâm), nội dung của các câu
hỏi và trả lời.
+ Phân tích buổi thảo luận và ghi lại các ý kiến cần thiết ngay khi
buổi thảo luận kết thúc (đừng quá ỷ vào trí nhớ của mình).
- Tham dự vào các buổi họp của nhà máy:
Trong thời gian thực tập ở nhà máy nếu nhà máy có các cuộc họp bất
Trong thực tế, báo cáo phụ thuộc vào sự hoạt động của từng sinh viên
tạo ra nó; bởi vì các kỹ sư hay kỹ thuật viên, là những người hướng dẫn
không phải luôn luôn có nhiều thời gian để hướng dẫn sinh viên trong các
lónh vực kỹ thuật, khoa học và quan tâm về tất cả những chi tiết cụ thể.
- Thời gian đóng góp trao đổi trong buổi bảo vệ làm cho những điều
hiểu sai những lời chú dẫn không đúng, sự tham khảo các tài liệu thực
hiện không nghiêm túc các quan sát hời hợt bên ngoài sẽ được chỉ ra và
phê phán.
- Những điều suy nghó tiếp theo sau đó sẽ giúp mỗi sinh viên ý thức
được những vấn đề được đặt ra và khuyến khích họ tìm được một phương
pháp nghiên cứu nghiêm túc và có hiệu quả hợn … 2. Cách hình thành các hồ sơ chuẩn bò cho bài báo cáo.
Sinh viên là người chòu trách nhiệm với bài báo cáo và cung cấp suy
nghó của mình trong báo cáo.
Mối quan hệ có tính sư phạm được tìm thấy theo chiều ngược lại: từ
người tiếp thu, sinh viên trở thành người phát thông tin.
- Sau tuần đầu thực tập, cần tổ chức một cách rõ ràng công việc và ghi
chép thông tin. Việc ghi chép từ ngày này sang ngày khác sẽ tạo nên
một bản ghi nhớ có giá trò và là tư liệu của bài báo cáo (Nhật Ký thực
tập).
- Cách thức: chỉ sử dụng một mặt của tờ giấy cho một ý tưởng, một sự
kiện hay một sự quan sát, các tờ giấy thường dùng có cùng một khổ
giấy. Như thế, những ghi chú và các tham khảo có thể được dễ dàng tập
hợp lại, phân loại và phân phối theo đề tài. Sau đó chúng sẽ được xếp
trong các bìa cứng thành các hồ sơ con và đặt trong một hồ sơ lớn, nó sẽ
giúp dễ dàng soạn thảo báo cáo vào cuối đợt thực tập.
Phương pháp này này có nhiều thuận lợi :
-Nó cho phép làm biên bản về sư tiến triển hay chậm trễ của công việc
- Lời nói đầu
- Giới thiệu (dẫn nhập)
- Thân bài báo cáo được chia nhỏ làm nhiều chương, phần theo các kết
quả đạt được
- Kết luận.
- Tài liệu tham khảo
- Phần phụ lục.
- Có thể có hoặc không có phần hồ sơ hình ảnh minh họa.
a) Mục lục tóm tắt
Đó là phần cấu trúc của bố cục chỉ ra tên tựa các phần, các chương,
mục, đoạn … có đánh số trang chính xác để theo dõi. Mục lục được đặt
đầu các báo cáo, nó cho phép độc giả tham khảo nó để tìm ra từ đó
những thông tin mà họ cần nghiên cứu. Để đánh số các phần, nên sử dụng
thống nhất một qui đònh trong bài báo cáo để tránh nhầm lẫn.
b) Lời nói đầu
Đó là những giới thiệu tổng quan về công việc: bạn sẽ chứng minh rằng
bạn có khả năng nắm vững vấn đề mình đặt ra và giải quyết.
Bạn sẽ trình bày đề tài bằng cách xác đònh các giới hạn một cách chính
xác; Như vậy bạn đã loại trừ từ ban đầu những gì không cần thiết. Cần
nhấn mạnh những hạn chế của các kết quả nhận được, ghi nhận các thuận
lợi, khó khăn, các mối quan hệ hợp tác hay các may mắn gặp phải trong
quá trình thực hiện. Cuối cùng, thêm vào lời cám ơn những ai đã giúp đỡ
bạn trong quá trình thực tập.
c) Giới thiệu
Phần này tập trung toàn bộ vào đề tài, bao gồm:
- Xác đònh rõ ràng đối tượng nghiên cứu và trình bày những dữ liệu đặc
biệt.
- Bày tỏ những mục đích mà ta đề nghò cần đạt đến
- Thông báo vắn tắt bố cục để đọc giả theo dõi một cách dễ dàng tiến
trình công việc.
thứ bậc đònh tính, phải giải thích chúng và chỉ ra những lợi ích.
+ Cần phải cho ra những kết quả của các phép thử nghiệm, các tiêu
chuẩn và các đánh giá độ tin cậy của sản phẩm thực hiện. Nếu bảng và đồ
thò là quan trọng cần suy nghó đến việc giải thích chúng.
- Các đề nghò tạm thời (một cách ngẫu nhiên).
Chúng phải được trình bày chính xác và hợp lý theo bố cục chủ đề, có thể
bao gồm yếu tố thời gian. Mỗi đề nghò phải được mô tả. Ngoài ra, phải
chứng minh rằng chúng xuất phát từ những kết quả nghiên cứu và chúng trả
lời cho các mục tiêu đã được xác đònh. Cần phải làm sáng tỏ những điểm
mạnh của chúng. Nhưng cũng phải biết các yếu điểm và tìm ra những câu trả
lời cho những bắt bẻ có thể có.
Cuối cùng, cần phải báo cáo các điều kiện ràng buộc kèm theo (các ràng
buộc về các mặt kinh tế, pháp luật, kỹ thuật, tâm lý…).
e) Kết luận:
Cần nêu các vấn đề sau:
- Trình bày lại những kết quả chính đạt được, các giải pháp.
51
- Có thể nhắc lại kết quả của một số chương ,khi đó cần nhấn mạnh việc
tổ chức hợp lý, tầm nhìn hay phương pháp giải quyết.
- Chứng minh rằng có một sự thích ứng giữa các mục đích được đặt ra bởi
xí nghiệp và những kết quả nhận được trong thực tập. Đôi khi cần đánh giá
khoảng cách của sự sai lệch này và giải thích những lý do của nó.
- Hình dung trong tương lai: dự kiến những triển vọng của sự phát triển
sau này của đề tài.
f) Tài liệu tham khảo:
Phải rõ ràng và chỉ ghi lại các đề tựa có liên quan đến những câu hỏi
trọng tâm của việc nghiên cứu, không lấy các loại sách tổng quát. Tài liệu
tham khảo được trình bày với một sự nghiêm túc nhất nếu có thể:
- Đối với sách: tên, họ tác giả, tựa đề tác phẩm, nơi xuất bản, nhà xuất
bản, năm xuất bản, số trang.
- Như thế, báo cáo có một sự liên kết thống nhất và không được giới thiệu
theo kiểu chắp nối liên tiếp các chương mà không có liên quan với nhau.
52
- Tên tựa là cần thiết làm thuận lợi cho việc đọc văn bản. Đối với tác giả,
đó chính là hành động cuối cùng của việc soạn thảo, nhan đề là để thông
báo nội dung của mỗi chương: đó chính là ngõ vào. Hình thức đúng, cho
phép đọc giả tạo được ấn tượng đầu tiên và nhất là nó làm cho đọc giả thích
đọc tiếp. Vì vậy, hãy chọn những tựa đề rõ ràng và dễ hiểu, sinh động, chính
xác và chứa thông tin. Hãy làm thế nào để đề tựa của bạn diễn tả được ý
chính ,nó sẽ được phát triển tiếp trong bài văn sau này.
- Đoạn văn là “một đơn vò” cho phép triển khai một ý tưởng: đònh dạng ý
tưởng, giải thích, bàn bạc, các bằng chứng … Mỗi khi thay đổi ý tưởng, người
ta tạo ra một đoạn văn mới lên trang bằng cách xuống hàng.
- Sự tôn trọng độc giả thể hiện ở một văn phong đơn giản, một ngôn ngữ
đúng đắn và nghiêm túc (về chính tả). Nhất là hãy sử dụng từ chính xác,
thích hợp với tình huống, tránh những tiếng lóng nghề nghiệp. Vì vậy cần tra
cứu từ điển và văn phạm chính xác. Cần nhờ một người ngoài đọc lại văn
bản của bạn và sửa chữa lại nó. Nhất là đừng quên đọc lại văn bản đã được
đánh máy: việc lập lại các lỗi đánh máy sẽ làm bực bội đọc giả và làm
phiền lòng người soạn thảo.
- Những chữ tắt là những trung tâm, những tổ chức, cơ quan … và được
giới thiệu ở đầu bài báo cáo khi các chữ viết tắt được sử dụng thường
xuyên.
- Báo cáo phải được đánh máy ở chỉ một mặt tờ giấy A4, để lề trái đủ
rộng cho việc đóng lề không gây khó khăn cho việc đọc (thường tư 3 đến
4cm lề trái và 1 đến 1,5cm lề phải).
- Việc đánh số trang phải liên tục. Nó bắt đầu từ trang đầu tiên và kết
thúc ở trang cuối cùng. Mọi trang đều được tính trong việc đánh số trang,
trang mục lục không được đánh số nhưng vẫn kể trong việc đánh số trang,
đến mỗi trang dẫn nhập có thể đánh số trang là 4 hay 5 hay 6 tuỳ theo
có đoạn thiếu mạch lạc, bạn cần xem xét và sửa chữa cho rõ ràng. Bạn
cần suy nghó trước các câu hỏi mà hội đồng có thể đặt ra về các yếu điểm
của bản báo cáo.
2. Phần trình bày.
Đây không phải là tóm tắt bào báo cáo, mà nó nói rõ ràng chính xác,
và đôi khi cho phép đem đến những bình phẩm hay những tài liệu làm
sáng tỏ những gì mà trong báo cáo chưa nói đến. Nó nhằm làm sáng tỏ
công việc thực hiện trong khi thực tập và so với văn bản báo cáo bằng
cách đi đến các điểm cốt yếu.
Bài trình bày được nối kết với nhau bởi nhiều giai đoạn, các giai đoạn
này liên kết mạch lạc với nhau, với trình tự thực hiện khá tốt như sau:
a) Giới thiệu xí nghiệp và khuôn khổ làm việc.
b) Xác đònh lại rõ ràng công việc mà xí nghiệp giao phó và những giới
hạn tạm thời mang lại trong quá trình thực tập. Nhắc lại lý do vì sao nhiệm
vụ này được giao phó và thể theo đòi hỏi của ai (những gì mà công việc phải
mang lại cho xí nghiệp).
c) Bài báo cáo có thể trình bày theo một kiểu độc đáo, song phải diễn
đạt được nội dung cơ bản cần thiết.
d) Giới thiệu biện pháp, phương pháp, cách thức tiến hành phân tích có
tính phê bình, làm quen các khó khăn chính đã gặp của xí nghiệp và chứng
minh cách nào để có thể vượt qua nó.
e) Nhắc lại những kết quả chính và phân tích sự đạt được có thỏa đáng
hay không theo mục tiêu. Nếu có sự sai lệch, hãy giải thích vì sao ?
f) Truyền đạt phần tiếp theo của công việc được giao: một kết luận tốt
luôn mở ra những triển vọng cho tương lai. Suy nghó về những đóng góp và
những hạn chế của việc thực tập, nhất là về những kế hoạch cho nghề
nghiệp và cá nhân.
Trong quá trình trình bày, sinh viên phải giới thiệu các tài liệu, vậy cần
lựa chọn sử dụng các phương tiện nghe nhìn mà sinh viên thấy thích hợp. Ví
dụ máy chiếu là phương tiện hỗ trợ hiệu qủa nhất.
những giấy được đánh số và soạn thảo chỉ trên một mặt để chuẩn bò trả lời
cho các câu. Đừng sa đà một cách thái quá bằng cách soạn thảo toàn bộ mọi
vấn đề.
V. Thực hiện luận án tốt nghiệp.
1. Luận án tốt nghiệp là công trình kỹ thuật có giá trò đầu tiên của người
kỹ sư
Luận án tốt nghiệp là công trình kỹ thuật có giá trò đầu tiên của người
kỹ sư giúp người sinh viên dẫn đến ngưỡng cửa của người kỹ sư, sau 4 năm
học, sinh viên sẽ nhận một đề tài do Thầy hướng dẫn đưa ra, sinh viên phải
tự suy nghó tham khảo các sách vở tài liệu, các thiết bò máy móc … từ thực
tế sản xuất để hình thành một phương án và vạch ra kế hoạch thực hiện nó.
Thầy hướng dẫn sẽ xác đònh hướng đi đúng đắn và chỉ dẫn sinh viên tìm hiểu
các phương pháp cần thiết để giải quyết vấn đề. Bản thân sinh viên phải vận
dụng các kiến thức lý thuyết đã học trong các năm qua và các nhận thức từ
thực tế, từ các đợt thực tập, để giải quyết đề tài trong thời gian từ 12 – 15
tuần (tuỳ thuộc ngành nghề và yêu cầu của khoa).
Sinh viên phải lập kế hoạch và tiến độ thực hiện luận án tốt nghiệp
trình cho Thầy hướng dẫn ,để Thầy thống nhất nội dung kế hoạch và chỉ dẫn
những vấn đề cần thực hiện trong quá trình làm luận án.
55
Bộ môn sẽ kiểm tra tiến độ thực hiện luận án của sinh viên vào giữa
thời gian thực hiện luận án ,nếu công việc của sinh viên đượ hoàn thành từ
50% khối lượng trở lên thì các sinh viên đó sẽ được tiếp tục thực hiện, đối
với các sinh viên có khối lượng hoàn thành chưa đến 50% hoặc còn quá ít thì
tuỳ theo mức độ hoàn thành Bộ môn sẽ có quyết đònh cho sinh viên đó tiếp
tục thực hiện hoặc đình chỉ việc thực hiện luận án tốt nghiệp; các sinh viên
này phải chòu sử lý theo quy chế học vụ của trường .
2. Trách nhiệm của sinh viên khi thực hiện luận án.
Thực hiện luận án tốt nghiệp: đây là giai đoạn sinh viên bắt đầu tập
sinh được bảo vệ khi luận án hoàn thành các nhiệm vụ do đề tài đặt ra
3. Chuẩn bò và bảo vệ luận án tốt nghiệp.
Sự chuẩn bò và bảo vệ luận tốt nghiệp cũng được tiến hành trình tự như việc
chuẩn bò báo cáo thực tập tốt nghiệp. Tuy nhiên qúa trình bảo vệ luận án tốt
nghiệp yêu cầu cao hơn về nhận thức, tính tổng hợp, sự sáng tạo, tính khoa
học, tính thực tiễn của các đề tài. Sinh viên phải thể hiện được mình là một
56
kỹ sư trong tương lai, một cán bộ kỹ thuật có sự hiểu biết sâu và rộng về đề
tài mình đã nghiên cứu và thực hiện, hơn thế nữa là nhìn nhận được hướng
phát triển của đề tài trong tương lai.
Thời điểm này là cái mốc đánh giá sự trưởng thành của một sinh viên
bước sang giai đoạn của người kỹ sư tập sự.