1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm phổi là bệnh khá phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam, là
bệnh gây thương tổn đối với sức khỏe con người do nhiều tác nhân gây nên như
vi khuẩn, virus, nấm ký sinh trùng, hóa chất
Bệnh có thể đe dọa tính mạng đa số hay gặp ở người lớn hoặc có bệnh
mãn tính, hoặc hệ thống miễn dịch kém. Nó cũng có thể xảy ra ở trẻ và những
người khỏe mạnh. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em trên
toàn thế giới. Mặc dù bệnh viêm phổi là bệnh khá phổ biến và nền y học ngày
càng có nhiều tiến bộ lớn trong chẩn đoán và điều trị, trình độ dân trí đã được
nâng cao, song việc điều trị đôi lúc còn khó khăn do bệnh nhân đến muộn hoặc
có bệnh mãn tính nên khi bệnh ở giai đoạn muộn hoặc có biến chứng đã không
tránh khỏi tỉ lệ tử vong.
Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng khá thường gặp, hầu hết các trường hợp
được điều trị khỏi hoàn toàn, tuy nhiên, nếu điều trị chậm hoặc không đúng,
bệnh có thể diễn biến nặng, gây áp xe phổi, tràn mủ màng phổi, hoặc thậm chí
có thể tử vong
Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng là hiện tượng nhiễm khuẩn của nhu mô
phổi xảy ra ở ngoài bệnh viện (định nghĩa này nhằm phân biệt giữa viêm phổi
mắc phải ở cộng đồng với viêm phổi mắc phải trong bệnh viện – bệnh lý thường
do các vi khuẩn kháng thuốc, đa kháng thuốc gây ra). Tình trạng viêm nhiễm
xảy ra ở toàn bộ các phần cấu trúc trong phổi (phế nang, ống và túi phế nang,
tiểu phế quản tận cùng, tổ chức kẽ của phổi). Tác nhân gây viêm phổi có thể là
các vi khuẩn, virus, ký sinh vật, nấm, nhưng không phải trực khuẩn lao.
Viêm phổi là bệnh lý rất thường gặp, mỗi năm ở Mỹ có khoảng 2 đến 3
triệu trường hợp viêm phổi, ở Nhật Bản, tỷ lệ tử vong do viêm phổi đứng hàng
thứ 4, ở Việt nam, viêm phổi chiếm 12% các bệnh nhân mắc bệnh phổi.
Bệnh thường xảy ra ở những người có cơ địa xấu như người già, trẻ em
suy dinh dưỡng, cơ địa có các bệnh mạn tính, giảm miễn dịch, nghiện rượu, suy
dưỡng hay các bệnh phổi có trước như (viêm phế quản mạn, giãn phế quản, hen
phế quản ). Bệnh thường xuất hiện ở lúc thay đổi thời tiết, yếu tố môi trừng
thuận lợi và có thể tạo thành dịch nhất là virus, phế cầu, Hemophillus.
- Ở các nước kinh tế đang phát triển, viêm phổi được xếp vào hàng thứ 4
trong các nguyên nhân tử vong và là nguyên nhân thường gặp nhất gây tử vong
trong các bệnh lý nhiễm trùng (Hội thảo về kháng sinh và kháng thuốc-ISAAR
2005). Khoảng 20-30% viêm phổi cần nhập viện, và tỉ lệ tử vong khoảng 1% đối
với các trường hợp điều trị ngoài bệnh viện, và 5-30% đối với các ca điều trị
trong bệnh viện
- Ở Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy viêm phổi nhập viện thường là
viêm phổi ở người lớn tuổi. Tỉ lệ tử vong chung là 7-20% (Hội nghị khoa học
1.1.3. Bệnh nguyên:
Do nhiều nguyên nhân gây bệnh khác nhau
* Do vi khuẩn
Các loại vi khuẩn gây nên viêm phổi thường gặp nhất hiện nay là: Phế cầu
khuẩn, Hemophillus influenzae, Legionella pneumophila, Mycoplasma
4
pneumoniae. Ngoài ra còn có các loại vi khuẩn khác như Liên cầu, tụ cầu vàng,
Friedlander (Klebsiella pneumoniae), Pseudomonas aeruginosa, các vi chuẩn kị
khí như Fusobacterium, hoặc là các vi khuẩn gram âm, thương hàn, dịch hạch
* Do virus
Như virus cúm (Influenza virus), virus sởi, Adenovirus, đậu mùa, bệnh
tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn. Ở Mỹ viêm phổi do virus 73 % nhiễm
khuẩn hô hấp- 40% do virus cúm.
* Nấm: Actinomyces, Blastomyces, Aspergillus
+ Giai đoạn lui bệnh: Trong lòng phế nang còn ít dịch loãng, có ít bạch cầu.
1.1.5.2. Phế quản, phế viêm
Các thương tổn rãi rác cả hai phổi, vùng thương tổn xen lẫn với vùng
phổi lành, các tiểu phế quản thương tổn nặng nề hơn, các thương tổn không đều
nhau và khi khỏi thường để lại xơ.
1.1.6. Triệu chứng học
1.1.6.1. Phế viêm thùy: Điển hình là do phế cầu.
Đây là nguyên nhân hàng đầu gây viêm phổi thùy, chiếm tỷ lệ 60-70%,
xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp là trẻ con, người già, suy dinh dưỡng,
giảm miễn dịch thì tỉ lệ cao hơn, bệnh thườngxảy ra vào mùa đông-xuân và có
khi gây thành dịch, hoặc xảy ra sau các trường hợp nhiễm virus ở đường hô hấp
trên như cúm, sởi, herpes hay ở người bệnh hôn mê, nằm lâu, suy kiệt
+ Giai đoạn khởi phát: Bệnh thường khởi đầu đột ngột với sốt cao,rét run,
sốt dao động trong ngày, có đau tức ở ngực, khó thở nhẹ, mạch nhanh, ho khan,
toàn trạng mệt mỏi, gầy sút, chán ăn, ở môi miệng có Herpes, nhưng các triệu
chứng thực thể còn nghèo nàn.
+ Giai đoạn toàn phát: Thường từ ngày thứ 3 trở đi, các triệu chứng lâm
sàng đầy đủ hơn, tình trạng nhiềm trùng nặng lên với sốt cao liên tục, mệt mỏi,
gầy sút, biếng ăn, khát nước, đau ngực tăng lên, khó thở nặng hơn, ho nhiều,
đàm đặc có màu gỉ sắt hay có máu, nước tiểu ít và sẫm màu
6
Khám phổi có hội chứng đông đặc phổi điển hình (hoặc không điển hình)
với rung thanh tăng, ấn các khoảng gian sườn đau, gõ đục, nghe âm phế bào
giảm, âm thổi ống và ran nổ khô chung quanh vùng đông đặc. Nếu thương tổn
nhiều thì có dấu suy hô hấp cấp, có gan lớn và đau, có khi có vàng da và xuất
huyết dưới da, ở trẻ em có rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, nôn, bụng chướng.
+ Cận lâm sàng:
theo từng ngày.
Nếu không điều trị hay điều trị chậm bệnh sẽ dẫn đến suy hô hấp nặng,
nhiễm trùng huyết, toàn trạng suy sụp và có thể tử vong.
1.1.7. Chẩn đoán
* Viêm phổi thùy
+ Chẩn đoán xác định
- Hội chứng nhiễm trùng.
- Hội chứng đặc phổi điển hình (hoặc không điển hình)
- Hội chứng suy hô hấp cấp (có thể có)
+ Chẩn đoán nguyên nhân: Dựa vào
- Diễn tiến lâm sàng.
- Yếu tố dịch tễ.
- Kết quả xét nghiệm đàm.
- Đáp ứng điều trị
+ Chẩn đoán phân biệt
* Phế viêm lao: Bệnh cảnh kéo dài, hội chứng nhiễm trùng không rầm rộ,
làm các xét nghiệm về lao để phân biệt
- Nhồi máu phổi: Cơ địa có bệnh tim mạch, nằm lâu, có cơn đau ngực đột
ngột, dữ dội, khái huyết nhiều, choáng.
- Ung thư phế quản - phổi bội nhiễm: Thương tổn phổi hay lặp đi lặp lại ở
một vùng và càng về sau càng nặng dần.
- Áp xe phổi giai đoạn đầu.
- Viêm màng phổi: dựa vào X quang và lâm sàng.
8
- Xẹp phổi: không có hội chứng nhiễm trùng, âm phế bào mất, không có
ran nổ. X quang có hình ảnh xẹp phổi.
* Phế quản phế viêm
* Do Friedlander
Là loại trực khuẩn Gr (-), gây thương tổn hoại tử ở phổi rất nặng và nhanh
gây ho ra máu nhiều, lây nhiễm mạnh và tỷ lệ tử vong rất cao.
* Do virus
Thường xảy ra trong các vụ dịch như cúm, sởi, hay nhiễm virus ở đường
hô hấp trên. Bệnh khởi phát đột ngột, hội chứng đặc phổi không điển hình, triệu
chứng thực thể nghèo nàn và khỏi sau 7 đến 10 ngày.
* Do nấm
Thường thương tổn phổi cả hai bên, chủ yếu ở vùng gần rốn phổi rồi lan
dần ra, có khi rải rác khắp hai phổi, triệu chứng lâm sàng giống phế quản phế
viêm, có khái huyết. Chẩn đoán nhờ tìm nấm trong đàm.
* Do ký sinh trùng
- Do giun đũa: Là một thương tổn nhỏ ở phổi có thể có ho, có ít đàm, nhưng
thương tổn này mau biến mất tự nhiên gọi là thâm nhiễm mau bay hay hội
chứng Loeffler.
- Do amip: Thuờng thứ phát sau amip gan nhưng cũng có khi nguyên phát tại
phổi, thương tổn chủ yếu là đáy phổi phải sát với cơ hoành (có khi ở phổi trái),
hội chứng nhiễm trùng vừa phải, đau ngực và ho ra máu hay đàm có màu
chocolat. Cần xét nghiệm soi tươi đàm tìm amip, đáp ứng với thuốc kháng amip
tốt.
*. Do hóa chất
Thường gặp nhất là xăng dầu do hút vào, triệu chứng lâm sàng xảy ra 6-
12 giờ sau khi hóa chất vào phổi, thương tổn chủ yếu là đáy phổi phải, có đau
ngực dữ dội và ho ra máu, có sốt cao. Phải điều trị sớm bằng kháng sinh (chống
nhiễm trùng) và corticoid.
1.1.10. Điều trị
Nguyên tắc điều trị là sớm, mạnh, đủ liệu trình và theo dõi diễn tiến bệnh.
10 1.2. PHÒNG BỆNH
Viêm phổi là một trong những bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới phổ
biến nhất, ngày nay nhờ vào nhiều loại kháng sinh mới, mạnh nên tỷ lệ biến
chứng và tử vong giảm nhiều. Tuy nhiên vẫn có trường hợp xảy ra thành những
vụ dịch nhất là do virus. Để đề phòng bệnh, giảm biến chứng phải nâng cao thể
trạng, giữ ấm trong mùa lạnh, loại bỏ những yếu làm dễ như môi trường không
trong sạch, không hút thuốc lá, phòng ngừa và điều trị sớm, tận gốc các nhiễm
trùng ở đường hô hấp trên, các đợt cấp của bệnh phổi mạn tính, điều trị sớm và
theo dõi sát giai đoạn sớm của nhiễm trùng đường hô hấp, tránh lây lan.
Ngày nay có một số vaccin của nhiều loại virus đã được xử dụng và cả một số
thuốc chống virus.
12
Chƣơng 2
PHƢƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Người bệnh đang điều trị tại Khoa nội Hô hấp Bệnh viện trung ương Huế
từ ngày 2 đến ngày 5 tháng 5 năm 2013.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn đối tƣợng nghiên cứu
- Người bệnh đang điều trị tại khoa.
- Người có thể mắc bệnh viêm phổi hay không viêm phổi.
Bệnh viên Trung Ương Huế.
2.4. XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê thông thường với Excel 2007.
- Tính tỉ lệ % đơn thuần.
14
Chƣơng 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua điều tra, phỏng vấn 46 bệnh nhân về bệnh viêm phổi của bệnh nhân
điều trị tại Khoa nội hô hấp Bệnh viện Trung ương Huế tôi có kết quả như sau:
3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU
3.1.1. Phân bố theo giới
Bảng 3.1. Phân bố theo giới
Giới
n
Tỷ lệ %
Nam
28
3.1.3. Phân bố theo trình độ học vấn
Bảng 3.2. Phân bố theo trình độ học vấn
Nghề nghiệp
n
Tỷ lệ %
Tiểu học
7
15,2
THCS
16
34,8
THPT
18
39,1
Trung cấp+ ĐH
5
10,9 3.1.4. Phân theo nghề nghiệp
Bảng 3.3. Phân theo nghề nghiệp
Nghề nghiệp
n
Tỷ lệ %
Sinh viên
3
6,5
3.2.2. Hiểu biết về nguyên nhân gây ra bệnh viêm phổi:
Bảng 3.4. Hiểu biết về nguyên nhân gây ra bệnh viêm phổi
Nguyên nhân gây ra bệnh viêm phổi
n
Tỷ lệ %
Mắc bệnh mãn tính
36
78,3
Nhiễm trùng đường hô hấp trên
41
89,1
Các bệnh phổi có từ trước
35
76,1
Tiếp xúc với hóa chất độc hại
21
45,7
Hút thuốc lá
34
73,9
Do virus
38
82,6
Nấm mốc
30
65,2
Yếu tố khác
15
32,6
Không biết
0
0,0
Mua thuốc tự uống
0
0,0
Nhận xét:
Có 78,3% bệnh nhân cho rằng khi bị viêm phổi nên đến cơ sở y tế, cơ sở
y tế tư nhân (21,7%).
Không có bệnh nhân nào cho rằng chỉ cần mua thuốc tự uống.
3.2.4. Hiểu biết về những yếu tố nguy cơ gây ra bệnh viêm phổi
Bảng 3.6. Hiểu biết về những yếu tố nguy cơ gây ra bệnh viêm phổi
Những yếu tố nguy cơ gây ra bệnh viêm phổi
n
Tỷ lệ %
Tuổi cao
37
80,4
Người lớn mắc bệnh mãn tính
36
78,3
Hút thuốc lá
29
63,0
Tiếp xúc khói bụi
25
54,2
Trẻ em suy dinh dưỡng
32
69,6
Không rửa tay thường xuyên
Đe dọa tử vong
28
60,9
Nhận xét:
- Tỷ lệ bệnh nhân cho rằng bệnh viêm phổi gây ra suy hô hấp chiếm
76,1%
- Tỷ lệ bệnh nhân cho rằng bệnh viêm phổi đe dọa tử vong là 60,9%.
- Tỷ lệ bệnh nhân cho rằng tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc là 73,9%.
19
3.2.6. Hiểu biết về phƣơng pháp phòng chống bệnh viêm phổi
Biểu đồ 3.3. Phương pháp phòng chống bệnh viêm phổi
Có 89,1% bệnh nhân biết phương pháp phòng chống bệnh viêm phổi
3.2.7. Kiến thức về khả năng chữa khỏi của bệnh viêm phổi
Bảng 3.8. Kiến thức về khả năng chữa khỏi của bệnh viêm phổi
Bệnh viêm phổi co thể chữa khỏi
n
Tỷ lệ %
Có
46
100
Không
0
0
Nhận xét: 100% bệnh nhân cho rằng bệnh viêm phổi có thể chữa khỏi.
phổi chiếm tỷ lệ cao nhất 91,3%.
Chỉ có 54,3% bệnh nhân cho rằng kiêng khem vì sợ bệnh nặng hơn.
3.2.9. Kiến thức về những thức ăn nên hạn chế của bệnh viêm phổi:
Bảng 3.10. Kiến thức về những thức ăn nên hạn chế
Những thức ăn hạn chế
n
Tỷ lệ %
Thức ăn sống, lạnh
37
80,4
Bia rượu
28
60,9
Phủ tạng động vật
16
34,8
Chất kích thích
18
39,1
Thức ăn nhiều dầu mỡ
21
45,7
Thức ăn khó tiêu
16
34,8
Nhận xét: 80,4% bệnh nhân cho rằng nên hạn chế thức ăn sống chiếm tỷ
lệ cao nhất.
60,9% bệnh nhân cho rằng nên hạn chế bia rượu.
3.2.10. Giáo dục sức khỏe của điều dƣỡng về bệnh viêm phổi trong thời gian
Qua biểu đồ 3.3 cho thấy có 80,4% hiểu biết về bệnh viêm phổi, trong đó
có hiểu biết nhưng chưa đầy đủ chiếm 47,8% và hiểu biết đầy đủ chiếm 32,6%.
Điều này cho thấy các bệnh nhân nằm điều trị ở bệnh viện tuyến trên nói chung
hay BVTTƯ Huế nói riêng thì bản thân bệnh nhân đã có kiến thức nhất định về
bệnh đang điều trị này, nên tỷ lệ trên là hợp lý.
4.1.2. Nguyên nhân gây ra bệnh viêm phổi
Theo y văn, nguyên nhân bệnh viêm phổi có thể do biến chứng từ bệnh
sởi, ho gà, cúm, viêm phế quản, hen hoặc bất kì bệnh nặng nào khác. Trong các
bệnh viêm phổi, nhiều nhất là do vi trùng Pneumococcus.
Ngoài ra còn có thể do vi trùng khác, siêu vi trùng ,có khi do ký sinh trùng hoặc
loài nấm. Do vậy, qua bảng 3.3. đối tượng nghiên cứu biết nguyên nhân gây ra
bệnh viêm phổi giao động với tỷ lệ từ 73,9% đến 89,1%; trong (89,1%). Tuy
nhiên còn 23,9% bệnh nhân không biết nguyên nhân, các đối tương này có lẽ
làm nghề nông hay già yếu, trình độ văn hóa thấp nên tiếp thu kiến thức về bệnh
viêm phổi có phần hạn chế (Bảng 3.4).
4.1.3. Xử trí khi bị bệnh viêm phổi
Có 78,3% bệnh nhân cho rằng khi bị viêm phổi nên đến cơ sở y tế chiếm
78,3%; đến Đến cơ sở y tế tư nhân với tỷ lệ 21,7%, không có bệnh nhân nào
dùng thuốc dân gian hay mua thuốc tự uống.Viêm phổi là một “tập hợp bệnh
kèm” nên khá phức tạp trong vấn đề chữa trị, do đó phần lớn khi mắc viêm phổi
bệnh nhân tự đến cơ sở y tế nhà nước để thăm khám là giải pháp lựa chọn đúng
đắn nhất.
22
4.1.4. Những yếu tố nguy cơ gây ra bệnh viêm phổi
Qua bảng 3.5. cho thấy các bệnh nhân hiểu biết các yếu tố nguy cơ gây ra
bệnh với tỷ lệ đa số bệnh nhân biết yếu tố nguy cơ gây ra bệnh viêm phổi trong
đó tuổi cao (80,4%), người lớn mắc bệnh mãn tính (78,3%); nằm viện lâu ngày
cho bệnh nhân. Qua bảng 3.13 cho thấy, các bệnh nhân ăn uống nhiều dinh
dưỡng (91,3%); cho thức ăn lỏng (78,3%); chia nhiều bữa nhỏ trong ngày 65,2%,
cho uống nhiều nước 78,3%
4.2. KIẾN THỨC VỀ BỆNH VIÊM PHỔI
4.2.1. Kiến thức về những thức ăn nên hạn chế của bệnh viêm phổi
Theo giáo trình y học thành phần ăn hằng ngày cụ thể gồm chất bột 50%,
đạm 15%, chất béo 35%. Sử dụng các chất béo có lợi cho bệnh nhân hơn bởi
ngoài việc hạn chế làm tăng CO2 trong máu còn cung cấp năng lượng cao hơn.
Tuy nhiên, nên sử dụng các loại chất béo có nguồn gốc từ cá, dầu thực vật, hạn
chế các chất béo có nguồn gốc từ các loại gia cầm (gà, vịt ), các loại động
vật có vú (lợn, bò ), các loại phủ tạng động vật… Đối với các chất béo có
chứa cholesterol (như trứng, phủ tạng, mỡ động vật ) không nên dùng quá
300mg/ngày.
Qua bảng 3.14 cho thấy đa số các bệnh nhân có ý kiến về hạn chế những
thức ăn của bệnh viêm phổi, trong đó thức ăn sống, lạnh (80,4%); bia rượu
(60,9), chỉ có hiểu biết đúng về phủ tạng động vật là quá thấp 34,8%.
4.2.2. Giáo dục sức khỏe về bệnh viêm phổi trong thời gian nằm viện
Trước đây các bệnh nhân chưa nắm được kiến thức phổ thông về bệnh
viêm phổi nên thường đến bệnh viện trong tình trạng rất nặng, trong tình hình
thực tế trên Khoa nội hô hấp Bệnh viện Trung ương Huế thấy rằng cần phải làm
công tác giáo dục sức khoẻ cho các bệnh nhân bệnh viêm phổi đang nằm điều trị
tại bệnh viện là rất cần thiết. Qua các kênh thông tin của y bác sĩ, điều dưỡng…
Hầu nâng cao kiến thức, hiểu biết bệnh viêm phổi để phòng và điều trị được tốt
hơn. Do đó, có 95,7% bệnh nhân được giáo dục sức khỏe về bệnh viêm phổi.
Với điều kiện phát triển y học hiện nay, 100% bệnh nhân cho rằng bệnh
viêm phổi có thể chữa khỏi.
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Le Văn An (2008) , Điều dưỡng nội tập 1, NXB Y học
2. Thành Thị Ngọc Liêm (2009), Viêm phổi bệnh viện tại khoa hồi sức ngoại
thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy, Y Học TP. Ho Chi Minh,Vol. 14, No : p:
116-120.
3. Huỳnh Văn Minh (2008), Bệnh lý học nội khoa, Nhà xuất bản Y học.
4. Nguyễn Hồng Sơn (2008), Vai trò của xét nghiệm cận lâm sàng, trong
chẩn đoán viêm phổi liên quan đến thở máy, Tạp chí Y học thực hành, số
3, tr. 12