tìm hiểu mức độ thiếu hụt kiến thức về bệnh trên các bệnh nhân đái tháo đường điều trị tại khoa nội tiết- bệnh viện bạch mai năm 2012- 2013 bằng bộ câu hỏi adknowl - Pdf 22

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, đái tháo đường (ĐTĐ) đã và đang trở thành
một vấn đề sức khỏe toàn cầu với số lượng bệnh nhân (BN) ngày một gia
tăng, đặc biệt ở những nước đang phát triển cũng như một vài dân tộc thiểu số
trên thế giới [2, 18, 19].
ĐTĐ là một trong ba bệnh không lây nhiễm, có tốc độ phát triển nhanh
nhất và là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước
đang phát triển. Việt Nam không xếp vào 10 nước có tỷ lệ mắc ĐTĐ cao
nhưng lại là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh nhanh. Một nghiên cứu của
Bệnh viện Nội tiết Trung ương vào cuối tháng 10 - 2008 cho thấy, tỷ lệ mắc
ĐTĐ ở Việt Nam tăng nhanh từ 2,7% (năm 2001) lên 5% (năm 2008) , trong
đó có tới 65% người bệnh không biết mình mắc bệnh [4].
Ở cả ĐTĐ typ 1 và typ 2 thì hậu quả của việc chăm sóc không đầy đủ
(biểu hiện ở mức đường máu cao) dẫn đến các biến chứng sức khỏe nghiêm
trọng như: mù lòa, suy thận, bệnh thần kinh, bệnh lý bàn chân phải cắt cụt
chi… Cho tới nay chưa có khả năng chữa khỏi bệnh nhưng nếu không điều
trị, không quản lý bệnh tốt thì bệnh nhân sẽ gặp phải nhiều biến chứng cấp và
mạn tính nguy hiểm, để lại nhiều hậu quả nặng nề cho bản thân người bệnh,
gia đình và xã hội. Vì vậy, xu hướng hiện nay của điều trị ĐTĐ được tập
trung vào việc phòng ngừa sự phát triển các biến chứng của bệnh. Và một
trong những điều kiện quan trọng để tiến hành phòng ngừa bệnh ở cả 3 cấp
một cách hiệu quả là phải nâng cao trình độ hiểu biết về bệnh không chỉ ở
người bệnh mà là cả cộng đồng. Do đó, ở các BN ĐTĐ thì việc thiếu hụt kiến
thức về bệnh sẽ dẫn tới các hậu quả nghiêm trọng do thiếu đi sự chăm sóc
đúng mực nhằm dự phòng các biến chứng của bệnh.
1
Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức của bệnh nhân ĐTĐ (Audits of Diabetes
Knowledge – ADKnowl) [23] ra đời năm 1993 đã được chứng minh là một
công cụ hữu ích nhằm đánh giá mức độ hiểu biết về bệnh của các bệnh nhân
ĐTĐ. Tại Việt Nam có nhiều nghiên cứu đã được tiến hành nhằm đánh giá
mức độ hiểu biết của bệnh nhân về bệnh nhưng các tác giả mới chỉ đề cập đến

đó ĐTĐ typ 2 chiếm 85-95% ở các nước phát triển và con số này còn tăng lên
ở các nước đang phát triển [21]. Tỷ lệ ĐTĐ cũng gia tăng mạnh mẽ ở Châu Á
đặc biệt khu vực Đông Nam Á. Nguyên nhân của sự gia tăng nhanh chóng
này là do mức độ đô thị hóa nhanh, sự di dân từ nông thôn ra thành thị nhiều
và thay đổi lối sống theo chiều hướng công nghiệp hóa cùng với chế độ ăn
không cân đối chứa nhiều dầu mỡ.
3
1.1.2.2. Dịch tễ học tại Việt Nam
Tại Việt Nam, theo điều tra dịch tễ học của Tạ Văn Bình và cs, năm
2001, trong 4 thành phố lớn của cả nước là: Huế, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh,
Hải Phòng, tỷ lệ BN mắc ĐTĐ là 4%, riêng quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) lên
đến 7%. Phần lớn người bệnh phát hiện và điều trị muộn trong khi hệ thống
dự phòng, phát hiện bệnh sớm chưa hoàn thiện [2,3] .
Theo số liệu của dự án phòng chống ĐTĐ quốc gia, năm 2007, số BN
ĐTĐ nước ta ước tính lên đến gần 1,3 triệu người và đối tượng mắc bệnh thì
ngày càng trẻ hóa.
1.1.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh.
Năm 2010, Hội đồng Chuyên môn Quốc tế (International Expert
Committee – IEC) và Hiệp hội Đái tháo Đường Hoa Kỳ (American Diabetes
Association – ADA) đã đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ dựa trên xét
nghiệm HbA1c với giá trị >6,5% [15].
Chẩn đoán xác định ĐTĐ dựa theo tiêu chuẩn của ADA 2010 khi có một
trong các tiêu chuẩn dưới đây [15]:
1. HbA1c trong máu >6,5% được thực hiện bởi phương pháp sắc ký lỏng.
2. Glucose máu lúc đói ≥7,0 mmol/l (126mg/dl) khi BN không ăn gì
trong vòng ít nhất 6-8 giờ.
3. Glucose máu 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp tăng glucose máu ≥11,1
mmol/l (200mg/dl) . Nghiệm pháp này phải được làm theo đúng quy trình của
Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) : sử dụng 75g glucose hòa vào 250ml nước
để uống.

Nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Ở ĐTĐ typ 2 thì nguy cơ mắc
bệnh liên quan chặt chẽ với lối sống ít vận động và bệnh béo phì, thường gặp
ở người trưởng thành trên 35 tuổi.
Tuy nhiên, ĐTĐ typ 2 ở lứa tuổi trẻ đang có xu hướng phát triển do lối
sống công nghiệp hóa.
Người mắc bệnh ĐTĐ typ 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói quen,
kết hợp dùng thuốc để kiểm soát glucose máu, tuy nhiên nếu quá trình này
thực hiện không tốt thì bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng thêm
insulin.
1.1.4.3. Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK)
ĐTĐTK là tình trạng rối loạn dung nạp glucose ở bất kỳ mức độ nào,
khởi phát hoặc được phát hiện lần đầu tiên trong lúc mang thai. ĐTĐ trong
thời kỳ mang thai sẽ làm tăng nguy cơ mắc các tai biến sản khoa như: dị tật
thai nhi, thai chết lưu, thai to hơn so với tuổi thai và các tai biến quanh cuộc
đẻ. Sau đẻ, bệnh nhân mắc ĐTĐTK sẽ có 3 khả năng:
♦ Trở thành ĐTĐ thực sự
♦ Chỉ là giảm dung nạp glucose
♦ Đường huyết trở lại bình thường.
Tỷ lệ mắc ĐTĐTK vào khoảng 5-8% phụ nữ có thai, nguy cơ mắc
ĐTĐTK cao hơn ở những thai phụ béo, có thai muộn (> 35 tuổi), tiền sử gia
đình có người bị ĐTĐ hoặc đã bị ĐTĐTK ở lần có thai trước.
1.1.4.4. Đái tháo đường thể khác.
Nhóm này bao gồm các nguyên nhân hiếm gặp hơn gây ĐTĐ như: thiếu
hụt di truyền chức năng tế bào β, hội chứng kháng insulin, các bệnh tụy ngoại
tiết, và ĐTĐ thứ phát sau dùng thuốc corticoid….
6
1.1.5. Biến chứng của bệnh.
1.1.5.1. Biến chứng cấp tính
Các biến chứng cấp tính của bệnh bao gồm:
- Nhiễm toan ceton và hôn mê do nhiễm toan ceton.

thiết kế dành cho BN ĐTĐ typ 1 và typ 2 trên 18 tuổi. ADKnowl được dịch ra
nhiều thứ tiếng và có nhiều nghiên cứu nước ngoài đã sử dụng bộ câu hỏi này
để đánh giá mức độ thiếu hụt kiến thức về chăm sóc và tự theo dõi bệnh ở BN
ĐTĐ như: của Speight J & Bradley C (2001) tại Anh, nghiên cứu của
A.Khamis và cộng sự (2004) tiến hành trên các bệnh nhân typ 1 tại Vương
quốc Anh, NC của PA Dyson và cộng sự trên các BN mắc typ 2 tại Kuwait.
1.2.2. Thiết kế và cách sử dụng bộ câu hỏi ADKnowl.
ADKnowl được thiết kế riêng biệt từng mục để phân tích, mỗi mục đều
có các câu hỏi riêng biệt với 3 phương án trả lời: đúng, sai, không biết để BN
lựa chọn. Chính vì được thiết kế riêng biệt từng mục nên có thể loại bỏ những
mục không liên quan đến tính chất bệnh của BN để phù hợp với NC, ví dụ như:
với BN ĐTĐ typ 1 không dùng thuốc viên điều trị bệnh thì sẽ loại bỏ phần câu hỏi
liên quan đến điều trị bằng thuốc viên ở những BN mắc ĐTĐ typ 1.
Sử dụng phương án “Không biết” nhằm ngăn chặn xu hướng BN “đoán”
về một mảng kiến thức nào đó.
ADKnowl gồm 104 câu phân bố trong 23 mục (phụ lục 1) bao gồm
những mảng kiến thức có liên quan đến:
♦ Điều trị bệnh và theo dõi chỉ số HbA1c.
♦ Chế độ ăn và dinh dưỡng.
8
♦ Sử dụng insulin hoặc thuốc viên điều trị trong những ngày bị bệnh.
♦ Chăm sóc bàn chân.
♦ Ảnh hưởng của hoạt động thể lực đến bệnh.
♦ Ảnh hưởng của thuốc lá và bia rượu đến tình trạng bệnh.
♦ Hạ đường huyết: nguyên nhân, triệu chứng và cách xử trí khi bị hạ
đường huyết.
♦ Các biến chứng của bệnh và theo dõi làm giảm nguy cơ mắc các biến
chứng của bệnh.
Ngoài ra, ADKnowl cũng được khuyến cáo sử dụng để đánh giá kiến
thức của nhân viên y tế, những người liên quan trực tiếp đến chăm sóc và điều

Kết quả cho thấy, thiếu hụt kiến thức liên quan đến điều chỉnh liều lượng
insulin khi mắc bệnh lý khác kèm theo, lựa chọn thực phẩm và khám mắt định
kỳ. Khamis cũng thấy được mức hiểu biết của các BN là khá tốt khi được hỏi
đến các kiến thức liên quan đến HĐH, tác dụng của tập thể dục, rượu và thuốc
lá đến ĐH [16] .
1.2.3.2. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến mức độ kiến thức của BN.
Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc chăm sóc bệnh ĐTĐ được đánh giá là
tốt hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tuổi, giới, mức thu nhập, khả
năng tiếp cận với các dịch vụ y tế và lượng kiến thức BN có được liên quan
đến bệnh. Tuy nhiên để có được kiến thức tốt yêu cầu phải có quá trình tích
lũy và thu nhặt từ nhiều nguồn thông tin khác nhau. Nó bao gồm: từ hệ thống
y tế, từ các phương tiện thông tin đại chúng, từ bạn bè và từ chính ý thức tìm
tòi của mỗi BN về bệnh của mình.
Qua tiến hành NC trên 789 BN mắc ĐTĐ tại Anh năm 2001, Speight J &
Bradley đã tìm thấy sự khác biệt về điểm kiến thức giữa hai nhóm BN có chế
10
độ điều trị khác nhau. Trong nhóm BN điều trị bằng insulin thì điểm kiến thức
thu được cao hơn so với các BN điều trị bằng thuốc viên và hoặc điều chỉnh
chế độ ăn với p <0,001 có ý nghĩa thống kê [23].
Đồng thời tác giả cũng tìm thấy sự tương quan nghịch giữa tổng điểm
kiến thức và tuổi (r = -0,267, p<0,05) nhưng không tìm thấy tương quan giữa
kiến thức với chỉ số BMI [23]. Theo tác giả những BN tuổi càng cao thì tổng
điểm kiến thức càng thấp và ngược lại.
Mặt khác khi tìm hiểu mối tương quan giữa mức độ kiến thức với
HbA1c của BN tác giả cũng nhận thấy: những BN có giá trị xét nghiệm
HbA1c thấp hơn có xu hướng đưa ra các câu trả lời chính xác hơn những BN
có HbA1c cao. Cũng theo tác giả những BN có thời gian mắc bệnh >11,5 năm
có xu hướng cung cấp các câu trả lời chính xác hơn những BN có thời gian
mắc bệnh ít hơn (đạt chính xác 79% số câu hỏi). Nhưng có những mục kiến
thức mà BN có thời gian mắc bệnh lâu hơn lại có hiểu biết kém hơn cụ thể ở

- BN đồng ý tham gia NC
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Có thai
- Không đồng ý tham gia NC
12
- BN mắc các bệnh rối loạn tâm thần, lơ mơ.
- Không đủ các dữ liệu phân tích, đánh giá.
2.3. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu được thu thấp theo sơ đồ NC với mẫu bệnh án thống nhất tại
khoa.
- Tất cả các BN tham gia NC đều được hỏi, và đo chiều cao, cân nặng.
2.3.2. Phương pháp xử lý số liệu.
Các số liệu được xử lý theo phần mềm stata 10.0.
Các biến định lượng như: tuổi, BMI, HbA1c được ghi dưới dạng trung
bình (mean) và độ lệch chuẩn (SD).
Các biến định tính được ghi dưới dạng phần trăm (%).
So sánh các giá trị trung bình theo T- test (Student).
So sánh các tỷ lệ theo phương pháp khi bình phương (Chi- square) hoặc
Fisher‘s exact test.
Giá trị p được lấy là 0,05, các mức p< 0,05 được xem là có ý nghĩa thống
kê khi kiểm định 2 phía.
2.3.3. Cách thức tiến hành:
▪ Chọn các mẫu bệnh án mà BN nhập viện được chẩn đoán là mắc ĐTĐ
typ 1 hoặc typ 2. Sau đó thu thập các thông tin liên quan đến BN như:
+ Tuổi, giới, địa chỉ,thời gian mắc bệnh, chế độ điều trị tại nhà của các
BN có tiền sử mắc ĐTĐ.
+ Đo cân nặng và chiều cao BN để tính ra BMI.
+ Kết quả xét nghiệm HbA1c.
▪ BN được giải thích mục đích của NC và đồng ý tham gia NC.

Chọn 200 BN mắc typ 1 và typ 2 nhập viện
Thu thập các thông tin của BN theo mẫu bộ
câu hỏi.
Phỏng vấn BN theo bộ câu hỏi trong phiếu
điều tra
Nhập và phân tích số liệu.
Đánh giá mức độ kiến thức qua tổng
điểm tính được
Tìm mối tương quan giữa điểm KT với các
yếu tố: tuổi, HbA1c, thời gian mắc bệnh, và
BMI
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2012 đến tháng 5/2013, tôi đã
thu được kết quả như sau:
3.1. Đặc điểm chung của nhóm BN tham gia nghiên cứu
3.1.1. Đặc điểm tuổi, giới
Bảng 3.1: Đặc điểm tuổi, giới của BN
N ( 200) %
1. Giới
- nam
- nữ
117
83
58,5
41,5
2. Tuổi:
- < 30 tuổi
- 31-40 tuổi
- 41-50 tuổi
- 51- 60 tuổi

Trình bày trong biểu đồ 3.1
Biểu đồ 3.1: Phân bố BMI của nhóm BN nghiên cứu
Nhận xét: Giá trị BMI trung bình của các bệnh nhân là 22,96± 3,4, trong
đó phần lớn các BN có BMI trong giới hạn trung bình (BMI từ 18,5-22,9)
chiếm 44,5%, có 80 BN thừa cân, béo phì (BMI >=23) chiếm 40% và chỉ có
31 BN gầy (BMI < 18,5) chiếm tỷ lệ thấp nhất (15,5%).
17
3.1.4. Phân bố theo typ bệnh
Trình bày trong biểu đồ 3.2
Biểu đồ 3.2: Phân bố BN theo typ bệnh
Nhận xét:
-Tỷ lệ BN mắc ĐTĐ typ 2 (chiếm 95%) cao hơn ĐTĐ typ 1 (chiếm 5%)
3.1.5. Phân bố BN theo chế độ điều trị
Bảng 3.3. Chế độ điều trị của BN có tiền sử ĐTĐ
Chế độ điều trị N= 183 %
Thuốc viên 87 47,5
Thuốc viên + insulin 39 21,3
Insulin 57 31,2
Nhận xét : qua bảng 3.3 cho thấy:
- Những BN có tiền sử mắc ĐTĐ thì tỷ lệ dùng thuốc viên điều trị chiếm
cao nhất (47,5 %), tỷ lệ thấp nhất là dùng phối hợp thuốc viên và insulin
chiếm 21,3 %.
18
3.1.6. Phân bố BN theo thời gian mắcbệnh
Trình bày trong biểu đồ 3.3.
Biểu đồ 3.3: Thời gian mắc bệnh của nhóm BN
Nhận xét: Qua biểu đồ 3.3 cho thấy BN mắc bệnh < 1 năm là 65 BN
chiếm tỉ lệ cao nhất (32,5%), tỉ lệ BN mắc bệnh từ 6-10 năm là thấp nhất với
32 BN chiếm 16%.
3.1.7. Phân bố BN theo giá trị HbA1c

Nhận xét: qua bảng 3.4 cho thấy:
- Những BN dùng insulin điều trị có điểm kiến thức trung bình là
56,563± 9,072 điểm còn những BN dùng thuốc viên điều trị thì điểm trung
bình là 54,057± 9,748 điểm, và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
với p > 0,05.
21
3.2.2. Mức độ kiến thức của BN trong từng mục.
3.2.2.1. Kiến thức BN liên quan đến điều trị bệnh
Trình bày trong bảng 3.5
Bảng 3.5: Kiến thức BN liên quan đến điều trị bệnh.
Tỷ lệ BN (%)
Có KT
đúng
Có KT
sai
KB
Ý kiến
về điều
trị bệnh
Bệnh tiểu đường có thể kiểm
soát được bằng điều trị
93 0 7
Kiểm tra đường niệu dương tính
là dấu hiệu tốt
91 0,5 8,5
Bệnh tiểu đường sẽ tử vong
nhanh sau 1 thời gian mắc bệnh
77,5 11 7.5
Căng thẳng có thể ảnh hưởng
đến đường huyết

đúng
Có KT
sai
KB
Có thể xuất hiện khi bị hạ
đường huyết
2.5 2.5 95
Phản ánh mức độ đường
huyết trung bình trong thời
gian 6-8 tuần
26 4 70
Phản ánh mức độ đường
huyết trung bình trong thời
gian 6-8 ngày
28 0 72
Phản ánh mức độ đường
huyết trung bình trong 24h
28 0 72
Nhận xét : qua bảng 3.6 cho thấy:
- Đa số BN (95%) không biết đến mặt sai của nhận định “HbA1c là giá
trị có thể xuất hiện khi bị hạ ĐH”.
- Rất ít BN biết đến xét nghiệm HbA1c, chỉ có 52 BN chiếm 26% có
hiểu biết về “HbA1c là giá trị trung bình của ĐH trong 6- 8 tuần”.
23
3.2.2.3. Kiến thức BN về “Chế độ ăn và dinh dưỡng cho BN ĐTĐ”
Bảng 3.7: Kiến thức BN liên quan đến chế độ ăn.
Tỷ lệ BN (%)
Có KT
đúng
Có KT

18,5 3 78,5
Bơ thực vật chứa ít calo hơn bơ động vật 3 72,5 24,5
Ăn nhạt làm giảm huyết áp 72,5 3 24,5
Loại trái cây tươi nào cũng ăn được với ảnh
hưởng không nhiều tới mức ĐH
72 11 17
Nhận xét : Qua bảng 3.7 và 3.8 cho kết quả:
- Có 79% BN nghĩ rằng không nên ăn nhiều đạm, 79% BN cho rằng hầu
nhận định “Hầu hết các loại thực phẩm chứa đường đều không ảnh hưởng đến
ĐH” là sai.
24
- Có một tỷ lệ lớn BN (81,5%) chưa biết rằng nhận định “Ăn lượng
đường bằng lượng chất xơ” là hoàn toàn sai lầm.
- Có đến 71,5% BN biết rằng chất xơ giúp duy trì ĐH ổn định.
- Phần lớn BN biết rằng “ Ăn nhạt sẽ làm giảm huyết áp” chiếm 72,5%.
- Phần lớn các BN (chiếm 72%) biết rằng họ phải có kiến thức về lựa
chọn các loại trái cây ăn hàng ngày bởi chúng ít nhiều có ảnh hưởng đến ĐH.
- Chỉ có 3% BN hiểu biết đúng về nhận định “ Cá và loại thịt màu trắng
như: thịt gà sẽ có hàm lượng béo ít hơn thịt màu đỏ như: thịt bò và thịt lợn”.
- Có 81,5% BN không biết rằng nhận định “Bơ thực vật chứa ít calo hơn
bơ động vật” là đúng.
- Đa số các BN (97%) chưa có kiến thức về sự khác nhau giữa năng
lượng (kcal) thực sự của loại bơ có nguồn gốc thực vật và động vật.
3.2.2.4. Kiến thức BN về ảnh hưởng của hoạt động thể lực đến đường huyết
Trình bày trong bảng 3.9
Bảng 3.9: KT BN về ảnh hưởng của hoạt động thể lực đến đường huyết
Tỷ lệ BN (%)
Có KT
đúng
Có KT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status