Báo cáo nghiên cứu khoa học: "PHÂN LẬP FLAVONOID TỪ CAO BUTANOL TRONG CÂY DIẾP CÁ (HOUTTUYNIA CORDATA THUNB) Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ" - Pdf 19

27

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 63, 2010 PHÂN LẬP FLAVONOID TỪ CAO BUTANOL TRONG CÂY DIẾP CÁ
(HOUTTUYNIA CORDATA THUNB) Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Phan Văn Cư
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
TÓM TẮT
Nghiên cứu tách chiết flavonoid từ lá của cây Diếp cá ở Thừa Thiên Huế được thực
hiện. Quá trình sử dụng hai dung môi là dung dịch aceton và ethanol 96
0
C. Kết quả chỉ ra rằng,
sử dụng dung môi ethanol để tách chiết là phù hợp. Từ cao butanol, một cấu tử tinh khiết đã
được phân lập. Cấu trúc của hợp chất này được nhận dạng là quercetin-3-O-rutinosid (rutin)
bằng những phương pháp phổ.

1. Mở đầu
Diếp cá có tên khoa học là Houttuynia cordata Thunb, thuộc họ lá Giấp
(Saururaceae).
Diếp cá là một loại cây thảo, mọc rất phổ biến ở Việt Nam và một số nước châu
Á dùng để chữa nhiều bệnh như trĩ, phù thũng, thoát mủ, thông tiểu tiện, viêm, giải độc,
thanh nhiệt Sở dĩ như vậy là vì trong cây diếp cá có chứa một số hoạt chất có tính
kháng khuẩn và chống oxy hoá [1], [5].
Ở Việt Nam, Đỗ Tất Lợi, Trần Huy Thái [5] đã nghiên cứu chiết xuất tinh dầu
diếp cá ở miền Bắc bằng phương pháp chưng cất thông thường Hoàng Thanh Hương [4]
đã nghiên cứu tách chiết flavonoid. Còn ở miền Nam, miền Trung, chúng tôi chưa tìm
thấy tác giả nào nghiên cứu tách chiết tinh dầu diếp cá, đặc biệt là dùng phương pháp vi
sóng và flavonoid. Rõ ràng, việc nghiên cứu tách chiết, xác định hàm lượng, thành phần
hóa học của tinh dầu, flavonoid trong cây Diếp cá ở tỉnh Thừa Thiên Huế là rất cần thiết.

, dung dịch H
2
SO
4
10%/etanol.
Kết quả chọn hệ III: etyl acetat : acid formic : nước = 8 : 1 : 1 là phù hợp.
2.2.3. Phân lập flavonoid tổng bằng phương pháp sắc ký cột [2], [3], [8]
Để phân lập, đầu tiên chúng tôi tinh chế lại cao butanol nhiều lần, sau đó sử
dụng phương pháp sắc ký cột với chất hấp phụ silicagel (MERCK) 60-200µm theo
phương pháp nhồi ướt. Cột được nhồi với 64 gam silicagel với tỷ lệ đường kính cột so
với chiều cao cột nhồi là 3/32, lượng mẫu thử là 3,4079 gam cao butanol
2.2.4. Xác định, nhận dạng cấu tử đã phân lập được bằng phổ IR,
1
H-NMR,
13
C-
NMR, DEPT và MS tại Viện Hóa học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Tách chiết flavonoid tổng, thô bằng phương pháp ngâm chiết
Khối lượng mẫu diếp cá khô là 330 g, độ ẩm theo phương pháp khối lượng tại
điều kiện nghiên cứu là 11,43% thu hàm lượng flavonoid tổng, trung bình là 2,73%.
3.2. Định tính flavonoid tổng trong cao butanol bằng SKLM
Tiến hành sắc ký lớp mỏng (SKLM) với cao butanol tổng, kết quả SKLM ở hệ
III (etyl acetat:acid formic:nước = 8:1:1 v/v/v/) có tối thiểu 6 cấu tử ứng với R
f
= 0,18;
0,29; 0,37; 0,67; 0,71; 0,87. Cấu tử tách ra rõ ràng, riêng biệt nên chọn hệ dung môi này
để tiến hành sắc ký cột.

29

-1
, là nhóm OH phenol, dao
động C=O ở 1657m
-1
, có nhân benzen trong phân tử nên có dao động tại 1599cm
-1
;
ngoài ra dao động ở 1063m
-1
là của C-O-C.
Hình 1. Công thức cấu tạo của rutin
Các dữ liệu phổ
13
C-NMR,
1
H-NMR
của CU6DC phù hợp hoàn toàn so với
các giá trị tương ứng đã được công bố
trong các tài liệu [3], [7] cho phép dự
đoán công thức cấu tạo của CU6DC là
quercetin-3-O-rutinosid (rutin) với

2
'
3
'
4
'
1
''
2
''
6
''
1
'''
6
'''
2
'''
30

● Phổ
1
H-NMR,
13
C-NMR: Kết quả được chỉ ra ở bảng 1 và hình 2 sau:
Bảng. Dữ kiện phổ của
1
H-NMR,
13
C-NMR của CU6DC so với rutin

7,65 (dd, J
1
=8,5;
J
2
=2)
1’’ CH 104,823 104,71 5,120 (d, J=7,5) 5,13 (d, J=7,0)
2’’ CH 75,773 75,74 3,51 br s
3’’ CH 78,215 78,20 3,42 m
4’’ CH 71,428 71,41
3,674 (dd, J
1
=3,5;
J
2
=1,5)
3,30 m
5’’ CH 77,206 77,24 3,34 m
6’’ CH
2
68,607 68,56
3,830 (dd, J
1
=10;
J
2
=1)
3,570 dd, J
1
=10,

Hình 2. Phổ
13
C-NMR và DEPT của CU6DC
● Phổ MS
So với các tài liệu tham khảo [3], [7] rutin có M=610 tương ứng với công thức
phân tử C
27
H
30
O
16
. Theo Chu Đình Kính, trên phổ MS xuất liện peak m/z=446 chứng tỏ
phân tử đã mất đi một phân tử đường có M=164 chính là đường -L-rhamnose. Tiếp tục
mất đi một phân tử đường thứ 2 còn lại phần aglycon có m/z=302. Kết quả phổ MS của
CU6DC có peak cơ bản là m/z=302, 273, 228, 153, 153, 109, 85, 60 trùng với các peak
của quercetin. Điều này cho phép khẳng định CU6DC có aglycon là quercetin.
Kết luận: Căn cứ dữ kiện các phổ IR,
1
H-NMR,
13
C-NMR-DEPT, MS và các dữ
kiện phổ ở các tài liệu [11], [25] đã công bố, chúng tôi khẳng định cấu tử CU6DC là
quercetin-3-O-rutinosid hay quercetin-3-O-[α-L-rhamnopyranosyl- (1  6)-O-β-D-
glucopyranosid] hay rutin.
32

4. Kết luận
4.1. Hàm lượng flavonoid tổng, thô trung bình khi tách chiết bằng phương pháp
ngâm chiết với dung môi etanol 96
0

Phan Van Cu
College of Sciences, Hue University
SUMMARY
An investigation into the separation of flavonoids from Houttuynia cordata Thunb
leaves was carried out. Flavonoids were separated by two solvents namely acetone 70% and
ethanol 96
0
C. The result shows that ethanol is the suitable solvent for the separation process.
From the butanolic extract, a pure constituent was isolated. The structure of this compound was
elucidated as quercetin-3-O-rutinosid (rutin) by spectroscopic methods.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status