SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÌM HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC
NƯỚC NGOÀI TRONG
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong nhà trường phổ thông hiện nay môn Ngữ văn luôn luôn đóng vai trò là
một trong những bộ môn chính. Hơn thế nữa, với đặc thù của môn học bồi
dưỡng năng lực cảm nhận, đọc hiểu các văn bản thông dụng, năng lực viết một
số đoạn văn, bài văn cụ thể. Đồng thời, cung cấp hệ thống tri thức về văn học
dân tộc và văn học thế giới. Học sinh luốn tiếp xúc trước hết với văn bản và
chính vì thế mà định hướng phương pháp đọc hiếu là vô cùng cần thiết. Chương
trình sách giáo viên ở trung học phổ thông những năm gần đây có nhiều đổi mới
trong đó có môn Ngữ Văn. Giáo viên dạy văn đứng trước những thay đổi, khi
dạy các tác phẩm văn học nước ngoài. Hơn nữa, tình hình nghiên cứu giảng dạy
văn học ở nước ta và trên thế giới trong những năm vừa qua có nhiều đổi mới.
Hướng tiếp cận tác phẩm có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, vấn đề này không chỉ
đặt ra đối với riêng phần văn học nước ngoài.
Chương trình Ngữ Văn11 với những tác phẩm tiêu biểu: Truyện ngắn “ Người
trong bao”- Sê Khốp.Như vậy, khi xét nội dung của tác phẩm cần tìm hiểu một
cách tương đối kĩ về những kinh nghiệm văn hoá lịch sử, phát hiện được những
mối tương đồng tạo điều kiện cho học sinh chiếm lĩnh tác phẩm. Từ trước đến
nay trong nhà trường việc dạy văn học nước ngoài áp dụng qui trình và phương
Truyện ngắn phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó, qua con
người, hành vi, sự kiện được miêu tả bởi người kể chuyện. Thông qua câu
chuyện đời thường tác giả khái quát lên bối cảnh xã hội. Truyện ngắn thường có
cốt truyện, tình huống truyện, hệ thống nhân vật, ngôn ngữ nhân vật…
Ở đây cốt truyện với một chuỗi các tình tiết, sự kiện, biến cố xảy ra liên tiếp tạo
nên sự vận động của hiện thực được phản ánh, góp phần khắc họa rõ nét tính
cách, số phận các nhân vật thông qua câu chuyện đời thường khái quát lên bối
cảnh xã hội.
Cốt truyện là yếu tố dễ thấy và cũng dễ làm cho bài giảng trở nên sinh
động. Truyện kể về một giáo viên dạy tiếng Hi Lạp cổ nổi tiếng về lối sống
trong bao. Mọi vật dụng của hắn để trong bao. Hắn luôn có khát vọng thu mình
trong bao. Cuộc sống hiện tại làm hắn khó chịu sợ hãi. Khi đến nhà đồng nghiệp
chơi hắn ngồi yên không nói năng gì. Lối sống đó đã ảnh hưởng nặng nề đến
tinh thần hoạt động của các giáo viên và người dân thành phố, khi hắn đang sống
cũng như khi hắn đã chết. Điều đó khiến bác sĩ I-van I va nứt suy nghĩ và đi đến
kêt luận “ Không thể sống mãi như thế được”
- Giọng điệu điềm tĩnh, chậm rãi, thể hiện qua giọng văn mỉa mai, toát lên
cái nhìn nhân đạo, lạc quan của nhà văn về cuộc đời. Tính chất mỉa mai trong lời
văn của Sê-Khốp không quá nặng nề. Nó thiên về hài hước, giễu cợt. Điều đó
chứng tỏ Sê-Khốp rất ưu ái con người, cuộc đời. Ông phê phán nhẹ nhàng những
thói hư tật xấu, cốt để họ ý thức rõ để từ bỏ chúng. Với Bê-li-cốp cũng vậy.
Hành động thu mình trong bao của hắn kì quái. Người đọc chỉ cần dõi theo tác
phẩm trong sách giáo khoa là đã bật cười. Biện pháp gây cười ở đây được đặt
trên sự trùng điệp và tăng cấp. Từ vật dụng nhỏ nhất cho tới mọi hành vi, suy
nghĩ …. Bê-li-cốp lúc nào cũng ở trong bao.
- Tiếng cười của Sê-Khốp được thể hiện trong văn bản là tiếng cười đa cực.
Có lúc tiếng cười ấy là tiếng cười trào phúng, có lúc là tiếng cười mỉa mai,
thuật độc đáo, đặc sắc của nhà văn. Câu chuyện cười ra nước mắt về cuộc đời
của một con người mắc chứng bệnh sợ hãi, sống, chết đều thảm hại…không chỉ
phán ánh thực trạng xã hội mà còn có ý nghĩa triết lí sâu sắc. Nguyễn Tuân từng
ca ngợi: “Truyện Bê licốp là một áng văn đả kích lên đến tuyệt đỉnh: hình thù,
tên họ nhân vật đã thành một cái sự, đã thành một hình dung từ ngày nay vẫn
còn tác dụng lớn”.Tác phẩm “Người trong bao” ( 1898), truyện ngắn nổi tiếng
của Sê Khốp, được sáng tác trong thời gian nhà văn dưỡng bệnh ở thành phố I-
an-ta, trên bán đảo Crưm, biển đen. Thời đó, xã hội Nga đang ngạt thở trong bầu
không khí chuyên chế nặng nề cuối thế kỉ XIX. Môi trường xã hội đó đẻ ra lắm
kiểu người kì quái – người trong bao.
2.2. Biện pháp thực hiện
2.2.1. Tìm hiểu chung : (Cuộc đời, sự nghiệp, nội dung tác phẩm…)
2.2.2. Tìm hiểu một số nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa văn bản
2.2.2.1. Tìm hiểu hình tượng nhân vật Bê-li-cốp:
GV cho HS thảo luận theo nhóm trình bày theo cách lập bảng như sau:
Hình t
ư
ợng
nhân v
ật B
ê
-
li
-
c
ốp
chui vào, mơ toàn điều khủng khiếp)
-Trong các mối quan hệ.
+ Với đồng nghiệp:Hắn đi hết nhà này
sang nhà khác.Tự kéo ghế ngồi.Không
nói năng gì, im lặng ngồi thu mình lại
không nói sợ xảy ra chuyện gì mất
lòng ( ý nghĩ để trong bao)
+ Với cấp trên chính quyền: Hắn mách
lẻo, lo sợ trước uy quyền một cách thái
quá.
+ Tình yêu với Va ren ca.Hắn nhút
nhát không dám đối mặt với cuộc sống
gia đình.
- Trong công việc.
+ Hắn làm theo chỉ thị, thông tư một
cách máy móc rập khuôn .
+ Y không bao giờ dám có ý kiến riêng
về bất cứ một vấn đề to nhỏ nào.
- Trước cái mới.
+ Ngạc nhiên, không chấp nhận việc đi
xe đạp ra đường của chi em Va ren ca
+ Hắn cho không phù hợp với tư thế
của một nhà giáo dục thiếu niên.
Hắn nhận thức bảo thủ, ích kỉ.
- Trong cuộc sống.
là hệ quả của chế độ phong kiến chuyên
chế Nga Hoàng đang phát triển mạnh,
con đường tư bản hoá ở nước Nga cuối
thế kỉ XIX. 2.2.2.2. Sự ảnh hưởng của lối sống Bê li cốp đối với mọi người
- Các giáo viên trong trường và người dân thành phố nơi y sinh sống, mọi
người đều sợ y, ghét y, tránh xa y “Sợ nói to, sợ gửi thư, sợ làm quen, sợ đọc
sách, sợ giúp đỡ người nghèo, dạy học chữ ”
- Có một số người tò mò muốn thay đổi cách sống của y bằng cách gán
ghép y với Va ren ca, vẽ trnh châm biếm mối tình đầu của y, nhưng không ăn
thua gì.
- Thậm chí Cô va len cô còn mắng mỏ khinh ghét ra mặt xua đuổi đẩy y
xuống cầu thang.
- Những việc làm trên không thay đổi được cách sống tính cách Bê li cốp.
Ngược lại, còn bị tính cách ấy, lối sống ấy đầu độc, làm cho sợ hãi ảm ánh tinh
thần họ suốt mười lăm năm cho tới khi hắn chết.
2.2.2.3. Về cái chết của Bê- li -cốp
- Nguyên nhân.
+ Vì bị sốc nặng trước thái độ và hành động của chị em Varenca. Nguyên
nhân sâu xa hơn đó là cái chết tất yếu bởi vì tạng người và cách sống của Bê li
cốp trước sau cũng phải bị tiêu diệt. Vậy cái chết của Bê li côp là một biện pháp
nghệ thuật mà Sê Khốp đã sử dụng để đẩy tính cách nhân vật tới đỉnh điểm.
+ Cái chết là sự giải thoát và hạnh phúc nhất đối với hắn vì hắn được nằm
trong cái bao tốt nhất, bền vững nhất “ Vẻ mặt hắn trông hiền lành, dễ chịu, thậm
đồng và thống nhất với các hệ chuẩn mực văn hoá đạo đức của cộng đồng thì lối
sống trong bao mới triệt để chấm dứt, kiểu người trong bao mới không còn lí do
để tồn tại và Bê li côp không còn đất để tái sinh.
2.2.2.7. Nghệ thuật.
- Giọng điệu: điềm tĩnh, mỉa mai, chua xót.
- Xây dựng nhân vật: điển hình chân dung ,tính cách kì quái mà chân thực.
- Đối lập tương phản giữa kiểu người, tính cách và lối sống trái ngược của
Bê-li-cốp với mọi người.
- Hình ảnh, lời nói vừa có ý nghĩa cụ thể, vừa biểu trưng.
2.2.2.8. Ý nghĩa văn bản.
- Thể hiện cuộc đấu tranh giữa con người với cái “bao” chuyên chế và khát
vọng được sống là mình, loại bỏ lối sống “ trong bao” thức tỉnh “ con người
không thể sống mãi như thế được.” III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI.
Sau một thời gian nhận thấy tôi nhận thấy tiết học tác phẩm nước ngoài
không còn đơn điệu, buồn tẻ mà có sự chủ động của học sinh trong giờ học, giáo
viên trở thành người hướng dẫn, định hướng giúp học sinh cảm thụ tác phẩm
một cách tích cực.
Tìm hiểu tác phẩm một cách chủ động, phát huy khả năng ham học hỏi về
văn hóa các nước qua hình tượng, tính cách nhân vật trong văn bản ở học sinh
trong giờ học Ngữ văn. Nhìn chung, đã góp phần tạo sự hứng thú, góp phần tạo
niềm say mê, học hỏi của học sinh trong giờ học, năng lực tư duy được nâng
cao.
Tuy nhiên, kết quả như vậy chưa phải là cao nhưng đó cũng là một sự thay
đổi trong quá trình tìm hiểu tác phẩm văn học nước ngoài của học sinh. Kết quả
cụ thể hai lớp 11B1, 11B2 sau khi áp dụng đề tài tôi thu được kết quả như sau:
- Lớp 11B1: Sĩ số 44 (Giỏi: 01(2.27%), Khá: 19 (43.18%), TB: 21
Tân Phú, ngày 15 tháng 03 năm 2012
Người thực hiện
Nguyễn Thị Trị V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Ngữ Văn 11.
2. Sách Dạy học văn học nước ngoài – PGS. TS. Lê Huy Bắc.
3. Sách Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường THPT - PGS Trương
Dĩnh.
4. Sách giáo khoa Ngữ Văn 11 ( NXBGD- năm 2007)
5. Sách giáo viên Ngữ Văn 11( NXBGD- năm 2007)