CỦA THẦY GIÁO TRONG NHÀ TRƯỜNG HIỆN NAY
Người thực hiện: VÕ TRẦN KHÁNH QUYẾN
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn:
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: Nâng cao phẩm chất và năng lực của
thầy giáo trong nhà trường hiện nay
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2011 - 2012
BM 01-Bia SKKN
BM02-LLKHSKKN
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xưa và nay, không ai còn phủ nhận vai trò quan trọng của thầy, cô giáo
trong xã hội. Tuy nhiên “cơ chế thị trường” đang tác động mạnh đến các mối quan
hệ có tính chất xã hội ở nhà trường: mối quan hệ giữa học sinh với thầy giáo, giữa
học sinh với học sinh, giữa thầy giáo với thầy giáo…Trong đó, mối quan hệ giữa
thầy – trò được coi là quan trọng trong giáo dục;đòi hỏi đáp ứng yêu cầu ngày
càng caovề phẩm chất và năng lực ở người thầy, cô giáo. Đây là vấn đề mà đội ngũ
giáo viên, những người quản lý giáo dục và dư luận luôn quan tâm.
Nghề dạy học đòi hỏi phẩm chất và năng lực rất cao ở người giáo viên. Vì
thầy giáo phải dạy học và giáo dục bằng chính nhân cách của mình. Phẩm chất và
năng lực là yếu tố vô cùng quan trọng giúp thầy giáo hoạt động có hiệu quả trong
giảng dạy và trong giáo dục. Người thầy giáo có phẩm chất và năng lực luôn được
đồng nghiệp, phụ huynh tín nhiệm, học sinh kính trọng và có ảnh hưởng đến học
sinh. Họ là người có uy tín và ảnh hưởng mạnh đến người khác. Cũng có thể nói
uy tín là toàn bộ cuộc sống của người thầy, cô giáo.
Nhiều năm nay, cả nước đang thi đua học tập và làm theo Tấm gương Đạo
đức Hồ Chí Minh thì năng lực và phẩm chất của người thầy trong nhà trường hiện
nay cần được đặt lên hàng đầu.Mỗi người giáo viên phải biết yêu cầu cao đối với
triển còn bỏ ngỏ, sự phát triển lại nhanh chóng.Vì vậy lao động của người giáo
viên không cho phép rập khuôn, máy móc mà đòi hỏi phải có nội dung phong phú,
cách thức tiến hành sáng tạo ở từng tình huống và cá nhân cụ thể.
1/ Hoạt động – hoạt động đặc trưng của người giáo viên tiểu học:
Hoạt động của người giáo viên tiểu học gồm: , hoạt động dạy, hoạt động
giáo dục, hoạt động tự hoàn thiện chuyên môn và nghiệp vụ và hoạt động xã hội.
trong đó hoạt động dạy học chính là đặc trưng của giáo viên tiểu học.
Việc dạy học mà xã hội đã giao phó cho người thầy giáo được tiến hành
bằng “phương pháp nhà trường” có quy trình kỹ thuật nhằm hình thành cho các em
những khái niệm khoa học , những tri thức và kỹ năng của các nhà sư phạm được
đưa vào nhà trường Chất lương của hoạt động dạy phụ thuộc vào tay nghề của
giáo viên.Nói cụ thể, muốn tiến hành có hiệu quả hoạt động dạy , người giáo
viên cần có những phẩm chất và năng lực nhất định.
2/ Một số phẩm chất của người giáo viên tiểu học:
Người giáo viên cũng là một công dân cho nên những phẩm chất đạo đức
chung cho bất cứ ai trong xã hội thì người giáo viên phải có.
Lý tưởng nghề dạy học bao gồm nhận thức về tầm quan trọng của nghề giáo
một cách sâu sắc nhất.có tình cảm yêu nghề một cách mãnh liệt nhất, thể hiện ở
công tác giáo dục và giảng dạy nó được nảy sinh, hình thành và phát triển
trong thực tiễn của mỗi giáo viên. Lý tưởng nghề nghiệp tạo nên một sức
mạnh tinh thần giúp giáo viên vượt lên khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Lý
tưởng đó thể hiện ở sự tận tụy với học sinh, hiểu được những niềm vui, nỗi buồn
của học sinh, ở tác phong làm việc với tinh thần trách nhiệm cao. Trong thực tế
không ít những thầy cô đã để lại dấu ấn khó phai trong lòng học sinh.
Tư duy giáo dục. Tất cả những lời nói, việc làm, hành vi, cử chỉ của mình đều
được người giáo viên cân nhắc. Người giáo viên tiểu học là thần tượng của học
sinh, các em dễ tin, dễ nghe theo lời dạy của thầy. Vì thế người giáo viên tiểu
học phải kiên trì, gương mẫu, kiên trì, ân cần và tự chủ. Dù có gặp phải hoàn
cảnh khó khăn, dù có ở tâm trạng thế nào, khi đến lớp không nên để đồng nghiệp,
học sinh sự khó chịu của mình.
những khó khăn học sinh gặp phải khi lĩnh hội những kiến thức trong tài liệu đó.
Muốn có năng lực này người giáo viên phải có năng lực phân tích và tổng hợp các
yếu tố chủ yếu và thứ yếu, cái cơ bản và cái chi tiết, không phải chỉ có thế mà còn
thấy mối quan hệ giữa chúng, biết tổng hợp chúng theo cấu trúc có cơ sở khoa học
để trình bày: người giáo viên phải có óc thiết kế sư phạm để xây dựng trong đầu óc
trẻ cái thầy muốn tạo dựng; thầy giáo phải nhạy cảm với cái mới, giàu cảm xúc
sáng tạo, biết cảm thụ niềm vui trong nhận thức và sáng tạo sư phạm.
* Năng lực tổ chức hoạt động cho học sinh: Người giáo viên có năng lực này
là người giáo viên biết giao cho học sinh, hệ thống việc làm, biết tổ chức, hướng
dẫn các em tiến hành các việc làm đó, theo dõi, kiểm tra và đánh giá những hành
động của các em để kịp thời uốn nắn những sai sót (nếu có), giúp các em gặp khó
khăn để em nào cũng đạt kết quả. Thầy không làm thay trò, các em phải tự làm lấy,
vì thế tạo cho các em hứng thú, sáng tạo và thưởng thức “mùi vị” của thành công
nho nhỏ. Lời nói giàu hình ảnh, có biểu cảm, có ngữ điệu chính xác làm cho các
em lĩnh hội được những ý tưởng của thầy giáo.
* Năng lực hiểu biết sâu rộng: Người giáo viên cần có năng lực hiểu biết sâu
và rộng: Nắm vững nội dung, chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên và các
tài liệu hướng dẫn đối với các môn học, có năng lực tự bồi dưỡng để hoàn thiện tri
thức, có nhu cầu mở rộng vốn văn hóa chung và văn hóa sư phạm để tiến hành có
hiệu quả công tác dạy học và giáo dục.
b/ Năng lực giáo dục:
Năng lực giáo dục là năng lực hiểu được đối tượng giáo dục và làm cho học
sinh hiểu, nghĩ, nói và làm theo yêu cầu của xã hội. Nhóm các năng lực này gồm
có các năng lực sau:
* Năng lực hiểu nhân cách của học sinh tiểu học: Hiểu được những cái
đã hình thành và cơ chế, quá trình hình thành nhân cách. Mặt khác người giáo viên
cần hiểu những đặc điểm trí tuệ, nhu cầu, nguyện vọng .của học sinh.
* Năng lực cảm hóa học sinh: Năng lục cảm hóa học sinh là năng lực
biết dựa vào mục đích giáo dục, yêu cầu đào tạo, hình dung trước được cần phải
giáo thường đứng trước nhiều tình huống sư phạm khác nhau, đòi hỏi cách ứng xử
phù hợp. Ứng xử sư phạm là một phần quan trọng của “tay nghề” đối với thầy
giáo. Cơ sở của sự khéo léo ứng xử sư phạm là lương tâm, là lòng tôn trọng và yêu
thương sâu sắc đối với học sinh.
1. Ứng xử của thầy giáo đối với học sinh:
Quan hệ giữa thầy và trò là quan hệ giữa người dạy và người học. Nhiệm vụ
trọng đại của người thầy la giáo dục và rèn luyện học sinh trở thành người có ích
cho xã hội. Trong quá trình giáo dục học sinh, người thầy phải có sự khéo léo ứng
xử. Ứng xử của người thầy chỉ có kết quả khi hiểu được đặc điểm của tập thể, của
lứa tuổi, của từng em và cần phải nắm được hoàn cảnh của từng em. Trên cơ sở đó
có cách ứng xử phù hợp với từng học sinh, với tập thể lớp. Mặt khác, người thầy
phải thực sự là tấm gương sáng về trí tuệ và đạo đức đối với học sinh. Nói cách
khác nếu người thầy không có phẩm chất và năng lực thì mọi cố gắng trong ứng xử
của thầy đều kém hiệu quả. Người thầy bị mất tác dụng trước học sinh thường do
những nguyên nhân sau:
+ Thỏa mãn với những tri thức đã có, không vươn lên trong học tập
chuyên môn.
+ Trong quan hệ thường ngày là người thờ ơ, thiếu trách nhiệm với
công việc chung.
+ Trong quan hệ với đồng nghiệp, với những người xung quanh thiếu
chân tình.
+ Trong gia đình là người thiếu trách nhiệm với bản thân.
Ứng xử của thầy với trò trong quan hệ Thầy – Trò được thể hiện trong
công tác giảng dạy, công tác giáo dục học sinh…
a/ Trong công tác giảng dạy:
Tính tích cực của học sinh trong giờ lên lớp không chỉ phụ thuộc vào trình độ
tinh thông khoa học và nghệ thuật sư phạm của giáo viên mà còn phụ thuộc vào
thái độ của giáo viên đối với học sinh. Sự dịu dàng, khéo léo, tế nhị, sự nghiêm
khắc khi cần thiết, sự ân cần thể hiện qua ánh mắt, nụ cười đều có ý nghĩa nhất
Khi nhận xét học sinh, giáo viên nên tế nhị, khéo léo khích lệ tính tích cực của
học sinh.
Sự khéo léo ứng xử của giáo viên làm tăng uy tín của giáo viên đối với
học sinh, làm cho các em lạc qan tin tưởng vào sự cố gắng của mình và quý
trọng giáo viên hơn. Lạc quan, tin tưởng vào sự tiến bộ của học sinh là rất
cần thiết. Không nên có định kiến với học sinh.
b/ Trong công tác giáo dục: Công tác giáo dục là vấn đề rất phức tạp của
người giáo viên, nhất là đối với giáo viên chủ nhiệm. Cũng như trong công tác
giảng dạy, việc ứng xử của giáo viên đối với học sinh chỉ có hiệu quả khi có sự
hiểu biết học sinh, tôn trọng nhân cách của các em, khi có uy tính về chuyên
môn, về đạo đức và lối sống đối với học sinh và khi có kinh nghiệm nghề
nghiệp.
Trong quan hệ ứng xử, người thầy cần nhìn nhận, ứng xử với học sinh như
con cháu, anh em và bạn bè. Tuy nhiên với mỗi lứa tưổi, với mỗi học sinh cần
phải có cách ứng xử riêng.
Đối với học sinh Tiểu học, do còn nhỏ bé về mọi phương diện, trẻ có nhu
cầu được người lớn quan tâm giúp đỡ. Mọi hành vi của các em vẫn còn mang
màu sắc xúc cảm. Lúc còn nhỏ bố mẹ, cô mẫu giáo là thần tượng của các em. Mọi
lời nhận xét, đánh giá, khuyên bảo của thầy giáo, cô giáo dễ được các em chấp
nhận. Khi vui, khi buồn cũng như khi gặp khó khăn các em luôn hướng về thầy cô
giáo. Thầy giáo, cô giáo là là niềm tin là chỗ dựa của các em trong cuộc sống.
Các em nhìn thầy giáo cô giáo như một người trọng tài công minh nhất, đáng
tin cậy nhất – mọi chuyện các em đều “Thưa thầy ….” “ Thưa cô…” .
Thầy, cô giáo cần phải đối xử với học sinh tựa như với những đứa con,
đứa em của mình: yêu thương, độ lượng, bao dung, kiên trì, động viên, khích
lệ, công bằng …. Tránh để các em có ấn tượng không tốt đối với các thầy, các
cô nhất là trong những ngày đầu đến trường.
Khi phê bình, nhắc nhở học sinh cần quan sát thái độ, phản ứng của các em:
nét mặt, ánh mắt và đặc biệt là phản ứng của tập thể.
Sự khéo léo ứng xử trong công tác giáo dục, uốn nắn cho học sinh cần
với học sinh như thế nào là tùy chính kiến của nhà giáo dục. Lấy chân, thiện, mỹ
để giáo dục học sinh, phải làm cho học sinh biết lẽ phải. Thầy giáo phải là tấm
gương kiểu mẫu về tinh thần, tư tưởng và đạo đức đối với học sinh.
Thầy giáo phải thương yêu tất cả học sinh, dù có những học sinh chưa
ngoan hoặc chậm hiểu cũng không nên có thái độ phân biệt đối xử; phải có
tình yêu thương trẻ sâu sắc, rộng rãi, gạt bỏ ích kỉ, đố kị thì mới giáo dục trẻ;
chỉ có thương mà không nghiêm, học sinh dễ nhờn. ngược lại, chỉ nghiêm mà
không thương, trẻ sẽ sợ sệt, rụt rè, không dám bộc lộ tâm tư tình cảm của
mình, như thế thì không thể uốn nắn tư tưởng tình cảm đúng đắn cho học
sinh được. Chính vì vừa có thương vừa có nghiêm mà thầy giáo dạy học sinh
có kết quả hơn là cha mẹ dạy con.
Để ứng xử có hiệu quả, trong quá trình giao tiếp con người phải sự dụng
các kênh thông tin và các phương tiện giao tiếp khác nhau. Đối với nghề sư phạm
vấn đề này càng trở nên cần thiết. Do vậy, để ứng xử có hiệu quả trong công tác
giáo dục cho học sinh, giáo viên cần tôn trọng các quy tắc sau:
Tôn trọng học sinh
Xác nhận và động viên, khuyến khích những tiến bộ của học sinh.
Lạc quan, tin tưởng vào học sinh.
Nghiêm khắc với học sinh.
Luôn lắng nghe học sinh.
2/ Ứng xử của thầy giáo đối với cha mẹ học sinh:
Con cái học hành tiến bộ, thành đạt là một trong những giá trị to lớn nhất
trong mỗi gia đình. Không có người cha, người mẹ nào không mong muốn con
mình ngoan, học hành chăm chỉ thành đạt. Những mong đợi này rất trùng khớp với
mong đợi của các thầy giáo, cô giáo. Do vậy việc kết hợp chặt chẽ với gia đình
trong việc giáo dục học sinh là rất cần thiết. Sự kết hợp với gia đình trong
công tác giáo dục nhằm thống nhất với nhau về mục tiêu, mục đích giáo dục,
nội dung và biện pháp giáo dục. giáo viên và phụ huynh phải xác định rõ
trách nhiệm của mình trong công tác giáo dục học sinh. Chỉ có như vậy mới
mẹ có thiện ý tin tưởng vào thầy giáo, cô giáo và vui vẻ tiếp nhận những phản ánh
của mình. Các thầy giáo, cô giáo nên nói những khả năng, tiến bộ trong học tập,
công tác và rèn luyện của con cái họ trước khi nói đến những khiếm khuyết của
con cái họ. Khi nói đến những khiếm khuyết của học sinh, đừng vội trách móc
các bậc cha mẹ, hãy nhận một phần lỗi về phía mình và đưa ra những lời
khuyên, những yêu cầu đối với các bậc cha mẹ để giáo dục ngăn ngừa những
thiếu sót của học sinh.
Sự trách móc, nhất là ở những chỗ đông người là điều cần tránh. Vì điều đó
đã đụng chạm đến lòng tự trọng của con người, và do vậy mà mối quan hệ thân
mật giữa giáo viên và cha mẹ học sinh không còn.
3/ Ứng xử của thầy giáo đối với thầy giáo:
Quan hệ giữa thầy giáo với thầy giáo trong nhà trường là quan hệ đồng
nghiệp. Do vậy trong ứng xử với đồng nghiệp cần có sự tôn trọng bình đẳng,
trách nhiệm và hòa hợp.
Sự tôn trọng nhau thể hiện ở cách xưng hô trong sinh hoạt chuyên môn,
trong giảng dạy, trong công tác. Không nên hạ thấp đồng nfghie6p5, đề cao mình
nhất là trước mặt học sinh.
Sự bình đẳng thể hiện trong sự phân công công tác, trong đánh giá giáo
viên, trong đãi ngộ. Sự bình đẳng ở đây không có nghĩa là cào bằng mà là sự công
bằng. Mỗi người đều phải có trách nhiệm và nghĩa vụ làm tròn chức năng của
mình.
Trong nhà trường, đội ngũ giáo viên là một tập thể những người không
cùng độ tuổi, kinh nghiệm nghề nghiệp cũng khác nhau. Giáo viên giàu kinh
nghiệm cần giúp đỡ những giáo viên ít kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, giáo
dục học sinh. Những giáo viên mới ra trường cần phải khiêm tốn học hỏi kinh
nghiệm những giáo viên lâu năm về công tác giảng dạy và giáo dục. Đối với người
giáo viên, kinh nghiệm nghề nghiệp là đều rất cần thết và cần phải không
ngừng học hỏi và tích lũy nó.
Trong giao tiếp cần cởi mở, chân tình.
Võ Trần Khánh Quyến PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học:
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
Họ và tên tác giả: Chức vụ:
Đơn vị:
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục - Phương pháp dạy học bộ môn:
- Phương pháp giáo dục - Lĩnh vực khác:
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị Trong Ngành
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 2 ô dưới đây)
- Có giải pháp hoàn toàn mới
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây)
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại
đơn vị có hiệu quả
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Lưu ý:
- Sáng kiến kinh nghiệm soạn thảo trên máy vi tính và in ra giấy khổ A4;
quy định canh lề: Trên 2,0 cm, dưới 1,5 cm, phải 3,0 cm, trái 1,5 cm; Font chữ
Việt Nam UNICODE (Times New Roman); size chữ 14pt.
- Tất cả biểu mẫu đóng thành tập theo thứ tự: Bìa (BM01-Bia SKKK), Lý
lịch khoa học (BM02-LLKHSKKN), Thuyết minh đề tài (BM03-TMSKKN),
Phiếu nhận xét, đánh giá của đơn vị (BM04-NXĐGSKKN).
- Các sản phẩm gửi kèm sáng kiến kinh nghiệm như đĩa CD (không nhận
đĩa mềm), phim ảnh đóng gói trong 01 phong bì bên ngoài có dán nhãn theo mẫu
(BM 01-Bia SKKN), các mô hình gửi kèm sáng kiến kinh nghiệm phải được đóng
thùng bên ngoài có dán nhãn theo mẫu (BM 01-Bia SKKN).