SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở BẬC
THCS TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ
KHUYẾT TẬT ĐỒNG NAI
1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở BẬC THCS
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT ĐỒNG NAI
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, công tác chăm sóc - bảo vệ người khuyết tật ở
nước ta đang dần được cải thiện và nâng cao. Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục,
nhận thức của các địa phương, nhất là đội ngũ cán bộ - giáo viên có sự chuyển biến
rõ rệt, giúp cho nhiều trẻ em khuyết tật được tiếp nhận, chăm sóc tại hệ thống các
cơ sở giáo dục quốc dân. Nhiều thầy cô giáo không quản ngại khó khăn, vất vả
dành hết tâm huyết, tình thương yêu và tinh thần trách nhiệm của mình cho các em
khuyết tật được hưởng cơ hội học tập tốt nhất để có thể phát triển như mọi trẻ em
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận:
1.1. Thế nào là trẻ khuyết tật?
- Trẻ khuyết tật là trẻ có khiếm khuyết về cấu trúc, sai lệch về chức năng cơ
thể dẫn đến gặp khó khăn nhất định trong hoạt động cá nhân, hoạt động xã hội và
trong học tập theo chương trình giáo dục phổ thông.
- Các nhóm trẻ khuyết tật chính gồm: Trẻ khiếm thính, trẻ khiếm thị, trẻ khó
khăn về học, trẻ khó khăn về vận động, trẻ khó khăn về ngôn ngữ, trẻ đa tật và trẻ
có các dạng khuyết tật khác.
Trong phạm vi đề tài này, tôi xin trình bày về thực tế công tác chủ nhiệm lớp
với hai nhóm đối tượng trẻ khiếm thính và trẻ khiếm thị đang theo học ở các khối
lớp bậc THCS tại Trung tâm Nuôi dạy trẻ khuyết tật tỉnh Đồng Nai.
1.2. Quan điểm chung về giáo dục trẻ khuyết tật:
Trong thực tế tình hình giáo dục trẻ khuyết tật hiện nay đã có quan điểm cho
rằng: “Hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào việc xác định lựa chọn mục tiêu chương
trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục cùng với những điều kiện,
phương tiện giáo dục”. Thật vậy, ta thấy bản chất của quá trình giáo dục là tổ chức
toàn bộ cuộc sống, học tập, hoạt động của HS; tạo điều kiện thuận lợi tối ưu để khả
năng của HS khuyết tật được phát triển tối đa dưới sự tổ chức giáo dục của Ban
Giám hiệu nhà trường mà giáo viên chủ nhiệm (GVCN) là người đóng vai trò quan
trọng nhất.
Các nghiên cứu lý luận và thực tiễn giáo dục cho thấy: Trong quá trình học
tập và rèn luyện ở nhà trường, học sinh nói chung và học sinh khuyết tật nói riêng
luôn có nhu cầu muốn khẳng định mình, muốn được thể hiện, muốn khám phá
năng lực bản thân; các em muốn phát huy những năng lực, sở trường của mình về
một số lĩnh vực nào đó. Những nhu cầu này luôn có tác dụng tích cực và được hình
thành trong các hoạt động học tập, sinh hoạt, vui chơi của các em tại nhà trường.
Tại môi trường này, chính GVCN là người định hướng quan trọng trong việc hoàn
thiện nhân cách của các em, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện của
của năm học trước, qua bảo mẫu, qua phụ huynh HS…;
- Liên lạc, gặp gỡ trao đổi với phụ huynh;
- Ghi chép, lưu giữ các thông tin thu thập được;
- Quản lý tốt Hồ sơ cá nhân HS và cập nhật hồ sơ công tác chủ nhiệm.
2.3. Một số biện pháp tổ chức lớp học:
Ngoài việc nắm chắc và thực hiện đầy đủ chức năng nhiệm vụ của công tác
chủ nhiệm lớp, trong quá trình tìm tòi thực hiện, tôi đã áp dụng một số biện pháp
cụ thể tập trung vào các nội dung sau:
- Nhận lớp chủ nhiệm;
- Lập kế hoạch chủ nhiệm;
- Tổ chức giờ sinh hoạt lớp;
- Biện pháp tác động cá biệt.
Dưới đây, tôi xin phép được lần lượt trình bày một số biện pháp mà tôi và các
đồng nghiệp đã áp dụng có hiệu quả:
2.3.1. Nhận lớp chủ nhiệm:
a) Giới thiệu, làm quen, nhớ và gọi đúng tên từng HS trong lớp:
Để tạo được thiện cảm và niềm tin với HS lớp chủ nhiệm, ngay những ngày
đầu nhận lớp giáo viên nên cố gắng nhớ hết tên HS trong lớp.
- Với HS khiếm thị: Tên của em là một thanh âm rất êm ái, dễ chịu và quen
thuộc với chính em.
- Với HS khiếm thính: Tên của mỗi em là một dấu hiệu riêng biệt. Dấu hiệu
này do các em tự quy ước và gọi nhau. Kể từ khi đi học, ngoài cái tên khai sinh do
cha mẹ đặt, các em còn có thêm tên gọi bằng dấu hiệu (Tương tự, các em còn đặt
để gọi tên các bạn khiếm thị, tên các thầy cô và những người xung quanh). Muốn
giao tiếp tốt với trẻ khiếm thính, mọi người cần phải biết và gọi theo tên dấu hiệu
này.
4
7. Trần Thị Liễu My 8. Phan Quốc Nhân 6
9. Trương Văn Nhật 10. Đỗ Thị Thùy Quy 11. Hà Xuân Vinh 12.Hồ Hải Yến GV cần nhớ và gọi chính xác tên dấu hiệu của các HS trong lớp cũng như phát
âm đúng tên của HS khiếm thị, đây là điều rất quan trọng. Bởi vì, các em vẫn
muốn mình là người quan trọng với người khác, là người được người khác tôn
trọng. Việc GV gọi đúng tên các em ngay từ khi gặp nhau là biểu hiện của điều đó.
HS sẽ rất vui và bất ngờ về việc này. Chính việc này sẽ làm cho GVCN nhanh
chóng để lại ấn tượng tốt nơi các em. Điều quan trọng là các em cảm nhận đựơc sự
tôn trọng của GVCN đối với mỗi học sinh.
7
mấy và những lưu ý khi lên xuống bậc thang hay khung cửa hẹp nhằm giúp các em
định hướng và di chuyển thuận lợi hơn.
2.3.2. Lập kế hoạch chủ nhiệm:
a) Lập kế hoạch:
Trên cơ sở nắm vững mục tiêu giáo dục, nhiệm vụ, kế hoạch năm học của
Trung tâm; nắm vững chương trình, nội dung giáo dục cấp học, lớp học và khả
năng thực hiện, dự đoán kết quả thực hiện của lớp về mọi mặt (học tập, rèn luyện
đạo đức, lao động, năng khiếu, thể dục thể thao, văn nghệ và các hoạt động
khác…); GVCN tiến hành xây dựng kế hoạch chủ nhiệm cụ thể cho từng tuần,
tháng, năm học. Để đảm bảo tính hệ thống, kế hoạch chủ nhiệm lớp cần thể hiện rõ
một số nội dung sau:
- Khái quát về tình hình, đặc điểm chung của học sinh lớp chủ nhiệm;
8
- Xây dựng chương trình hoạt động toàn diện của lớp chủ nhiệm theo tuần,
tháng, học kỳ, năm;
- Có biện pháp tổ chức, quản lý, giáo dục học sinh lớp phù hợp;
- Có kế hoạch bồi dưỡng học sinh khá giỏi, học sinh năng khiếu; phụ đạo học
sinh yếu, kém;
- Có kế hoạch tổ chức những hoạt động của tập thể lớp nhằm thực hiện tốt
những nhiệm vụ chung của Trung tâm.
b) Thực hiện, đánh giá và điều chỉnh:
- Trong quá trình thực hiện kế hoạch, GVCN cần theo dõi lớp chặt chẽ trong
các hoạt động trên lớp cũng như nề nếp sinh hoạt tại khu nội trú qua việc xây dựng
và phát huy tối đa năng lực quản lý của Ban cán sự lớp; phối hợp chặt chẽ các lực
lượng giáo dục trong Trung tâm như: Giáo viên bộ môn, bảo mẫu, quản sinh, bảo
vệ, Đoàn- Đội và gia đình HS để kết hợp giáo dục.
- Hàng tuần đánh giá việc thực hiện kế hoạch và có sự điều chỉnh, bổ sung
thích hợp.
vọng của học sinh đến với các giáo viên bộ môn, bảo mẫu phụ trách các nhà ở,
quản sinh cùng cộng đồng trách nhiệm trong việc giáo dục HS. Bên cạnh đó, với
vai trò là người thầy, người bạn, GV có thể nắm được tình hình bên trong và ngoài
lớp học để có thể phát hiện kịp thời và ngăn ngừa những xung đột trong lớp cũng
như tại khu nội trú (nếu có) nhằm hạn chế hành vi tiêu cực, rủi ro cho học sinh.
Qua hình thức sinh hoạt tập thể này, các em được bày tỏ, chia sẻ tâm tư, tình
cảm và tự đánh giá, nhận xét nhau thẳng thắn, tích cực. Các em sẽ nhận thức ra
được ảnh hưởng cũng như trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với lợi ích chung của
tập thể lớp. Nhận thức này sẽ tác động tích cực đến ý thức tự điều chỉnh việc chấp
hành nội quy và ý thức học tập của mình tốt hơn. Qua đó, giúp các em rèn luyện và
nâng cao năng lực tự quản, tình thần tự giác; đồng thời hình thành các kỹ năng cơ
bản và cần thiết cho bản thân.
Trong những giờ sinh hoạt đầu tiên, với cách làm này, học sinh có thể sẽ lúng
túng vì chưa quen với việc tự tổng hợp báo cáo, nhận xét và ghi bảng nhất là đối
với HS khối 6,7. Trước tiên, GVCN sẽ làm mẫu vài tiết, sau đó kiên trì hướng dẫn,
hỗ trợ một số kỹ năng cơ bản cho đến khi các em sẽ quen dần và có thể tự điều
khiển giờ sinh hoạt lớp mà không cần GVCN phải hỗ trợ.
b) Đa dạng hóa về nội dung và hình thức tổ chức tiết sinh hoạt lớp:
Để hoạt động giáo dục tập thể trên không nhàm chán, gò bó, luôn thu hút
được sự tham gia của tất cả HS trong lớp, thỉnh thoảng, GVCN nên thay đổi hình
thức và nội dung sinh hoạt lớp. Giáo viên lựa chọn những nội dung cụ thể, bổ ích,
gắn với nhu cầu và hứng thú của học sinh, chẳng hạn:
Tăng cường những nội dung sinh hoạt có liên quan đến công việc chung của
lớp:
Ví dụ: Cô trò cùng bàn bạc, thảo luận để cùng tìm ra các biện pháp thực hiện
các đợt thi đua do Đoàn-Đội phát động (Phong trào thi đua học tập và các hoạt
động khác trong Trung tâm được Đoàn-Đội phát động và duy trì thường xuyên
suốt năm học). Trên cơ sở đó, GV chủ trì cho lớp thảo luận đề ra các hình thức thi
đua, đề xuất biện pháp thực hiện, phân công nhiệm vụ cụ thể.
GVCN luôn đồng hành cùng các em trong suốt các hoạt động với vai trò là
Thông qua những tiết sinh hoạt chuyên đề, cùng với các kỹ năng được cung
cấp qua các hoạt động học tập, sinh hoạt ngoại khóa, các em dần được bổ sung,
trang bị một số kỹ năng sống cơ bản, cần thiết. Những kỹ năng này, phần nào có
thể giúp các em ứng phó được với những thách thức của cuộc sống, giải quyết các
tình huống một cách tích cực và giao tiếp có hiệu quả hơn, thích ứng được với cuộc
sống xã hội dễ dàng hơn.
Hình thức sinh hoạt: Cô trò cùng vào bếp.
Có lẽ hình thức này nghe có vẻ ít khả năng thực hiện được. Nhưng với trường
nội trú (như ở Trung tâm) thì các dụng cụ và phương tiện nấu nướng tại Bộ phận
nhà bếp luôn sẵn có. Tiền chợ thì cả cô và trò cùng góp. Tuy không có nhiều tiền
để nấu được những món ăn cầu kỳ sang trọng, nhưng với sự đồng tâm hiệp lực của
cả cô và trò thì lớp luôn có được những món ăn “miệt vườn” thật hợp khẩu vị. Các
em đặc biệt hào hứng với hình thức sinh hoạt này. Từ lúc bàn bạc để chọn món ăn,
hỏi ý kiến cô giáo, đi chợ cho đến lúc nấu, các em đều rất hăng hái, tích cực. Có lẽ
vì bởi, ở đây không có những trăn trở vì bài tập khó giải, không có nỗi buồn lo vì
bị điểm kém, cũng không có những lời trách phạt hay la rầy của cô thầy mà chỉ có
sự thoải mái với bầu không khí đầy ắp vui tươi sau những giờ học tập căng thẳng.
Hầu hết HS của Trung tâm đều ở nội trú, cho nên ngoài giờ học trên lớp, các
em được trở về các nhà nội trú với sự quản lý của các bảo mẫu và quản sinh. Với
hình thức sinh hoạt này cũng có thể giúp các em phần nào giải tỏa bớt những căng
thẳng tâm lý vốn có ở những trẻ sống xa gia đình. Đồng thời qua đó, các em được
rèn luyện thêm một số kỹ năng nấu nướng để tự phục vụ. Điều quan trọng hơn là
các em ý thức được giá trị của bản thân mình và càng tự tin hơn trong cuộc sống.
11
2.3.4. Biện pháp tác động cá biệt:
Tác động cá biệt ở đây sự tác động tới từng cá nhân một cách chuyên biệt để
trong giao tiếp, học hành…. thì sự trừng phạt phải thích đáng; và mức độ, nội
dung, hình thức trừng phạt phải nhằm mục đích giáo dục vì quyền lợi của tập thể,
của gia đình, của bản thân HS, của lớp học. Khi trừng phạt, GV phải giải thích,
phân tích lý do xác đáng, đảm bảo cho việc trừng phạt đạt hiệu quả, làm cho HS vi
phạm chuyển biến thái độ và hành vi. GVCN nên tránh trừng phạt HS bằng các
hình thức mang tính sỉ nhục như: Cho HS tự tát vào mặt mình, phạt quỳ, đứng
nắng, thụt dầu, nhảy cóc, dọn nhà vệ sinh, ….
Dù là khó dạy, khó cảm hóa đến mức nào đi chăng nữa nhưng tôi tin rằng
trong trẻ vẫn tiềm ẩn những nhân tố, những phẩm chất tích cực. Nếu có phương
pháp sư phạm đúng, chúng ta vẫn có thể khơi gợi, làm thức tỉnh những phẩm chất
12
bên trong trẻ. Từ đó giúp các em khôi phục lại niềm tin, ngăn ngừa và loại dần
những biểu hiện xấu.
Tóm lại, muốn phát huy hiệu quả của phương pháp tác động cá biệt và giáo
dục tập thể, GVCN cần nắm vững các phương pháp này biết kết hợp chúng trong
hoàn cảnh cụ thể. Mặt khác, GVCN trước hết phải là người có uy tín, có trách
nhiệm, yêu thương học sinh để có thể xây dựng được tập thể học sinh thành một
tập thể chăm ngoan, đoàn kết, vững mạnh.
Trong công tác chủ nhiệm ở các khối lớp bậc THCS tại Trung tâm Nuôi dạy
trẻ khuyết tật thì hoạt động của GVCN về bản chất là những hoạt động sáng tạo
nhất trong quá trình giảng dạy. Và đối với sự nghiệp “Trồng người”, hình ảnh
người thầy cô mẫu mực luôn là tấm gương sáng cho các em HS. Do vậy, xuất phát
từ vai trò của thầy, người làm công tác giáo dục, sự gắn kết trách nhiệm với HS mà
đòi hỏi người GVCN phải giàu lòng nhân ái, vị tha, kiên trì, nhiệt tình, biết tôn
trọng nhân cách học sinh và được học sinh tin yêu. Từ đó tạo được mối quan hệ
“Thầy – Trò”, tạo được ấn tượng tốt và xây dựng nên những hình ảnh đẹp đẽ, cao
cả của người thầy trong ký ức các em.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI:
ĐK dự xét
TN-THCS)
SL
%
SL
%
TB
trở
lên
%
Tốt
%
SL
%
2007-2008
7
12
12
0
0
12
100
12
100
12
100
2008-2009
8
01
8,3
0
11
100
11
100
11
100
2011-2012
9
12
12
0
0
12
100
12
100
12
100
Năm học 2009-2010 và Năm học 2010-2011 có hai học sinh bỏ học: một vì
lý do sức khỏe, một vì lý do lao động phụ giúp gia đình.
Ngoài ra đối với các em học sinh lớp 9, mặc dù đã ra trường, đã trở thành
những công dân thực thụ nhưng các em vẫn tin tưởng, tâm tình với cô khi vui cũng
như khi buồn. Các em thường xuyên hỏi ý kiến và nhờ cô giúp đỡ, tư vấn trong
- Biết cách tổ chức giáo dục, chủ động, linh hoạt để giải quyết khéo léo các
tình huống sư phạm.
- Biết kết hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục trong nhà trường.
- Thật sự yêu thương, gần gũi, cảm thông để thể hiện tốt vai trò người thầy,
người bạn của các em. Đối với những lỗi lầm của HS khuyết tật, chúng ta cần có sự
khoan dung, tránh thái độ chụp mũ, thành kiến; dù là học sinh cá biệt cũng cần phải
có sự tôn trọng nhân cách các em (Bởi vì, đôi khi lầm lỗi xảy ra do nhiều nguyên
nhân, trong đó có nguyên nhân do: nhận thức sai lệch, hoạt động thần kinh không
cân bằng, khả năng kiềm chế yếu…).
- Không ngừng củng cố và nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng
giáo dục trẻ khuyết tật.
- Thường xuyên trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp.
2. Đối với các cấp quản lý giáo dục, gia đình và cộng đồng:
- Sớm thành lập Phòng tư vấn học đường cho học sinh khuyết tật tại nơi các
em đang học.
14
- Thực hiện Chương trình Can thiệp sớm đúng độ tuổi một cách có hiệu quả.
- Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao kỹ năng, kiến thức giáo
dục trẻ khuyết tật cho đội ngũ giáo viên, nhân viên làm nhiệm vụ nuôi dưỡng-chăm
sóc trẻ.
- Duy trì và nâng cao hiệu quả công tác tổ chức các hoạt động ngoại khóa và
dạy nghề phù hợp cho HS khuyết tật.
- Tiếp tục điều chỉnh nội dung chương trình dạy học một cách linh hoạt và tạo
điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị để sử dụng có hiệu quả các phương pháp
giảng dạy - giáo dục phù hợp với các đối tượng HS khuyết tật.
- Phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục trẻ khuyết tật; phát triển hệ thống hỗ
trợ giáo dục trẻ khuyết tật, nâng cao năng lực quản lý giáo dục trẻ khuyết tật và
tăng cường sự phối hợp liên ngành trong chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật.
- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của gia đình và cộng đồng nhằm giảm
1. Bài giảng Giáo dục trẻ khuyết tật – Lớp Bồi Dưỡng Chuyên Môn Giáo
Viên Dạy Hòa Nhập Tỉnh Đồng Nai 14/7 - 1/8/2008 – Trung tâm Hỗ Trợ Phát
Triển Giáo Dục Hòa Nhập Cho Người Khuyết Tật TP. Hồ Chí Minh.
2. Tâm lý và giáo dục trẻ khuyết tật – Lê Thị Yến Di.
3. Một số vấn đề tâm lý sư phạm và lứa tuổi – Đức Minh – NXB Giáo
dục, 1975.
4. Một só yếu tố tâm lý trong quan hệ thầy trò – Bùi Thị Phúc – Viện
KHGD Hà Nội, 1975.