Thể loại trong văn học Trung Quốc thời trung đại - Pdf 19

Thể loại trong văn học
Trung Quốc thời trung đại
Trong lời nói đầu cho Văn tuyển, Tiêu Thống xác định rõ ràng các danh giới của bộ
văn tuyển này, sau khi chỉ ra rằng ông không chọn những tác phẩm văn xuôi lịch sử và
trước tác triết học. Ông cũng không đưa vào bộ tuyển các văn bản kinh điển (vốn vẫn được
đưa vào các danh sách tác phẩm văn học), cũng không chấp nhận chia ra văn và bút, một
sự phân chia dựa trên dấu hiệu thuần túy hình thức: có hay không có vần. Đối với Tiêu
Thống, tiêu chuẩn lựa chọn duy nhất là tính nghệ thuật của văn bản, điều ông hiểu như là
trước tác “có hình thức tinh xảo và trình bày khéo léo”. Và xét từ quan điểm này, tuyển tập
của ông hết sức có giá trị, bởi vì nó cho phép hình dung ra khá rõ thành phần của văn học
(có tính) nghệ thuật trong nhận thức của các nhà lý luận Trung Quốc thời trung đại
(4)
.
Tuy nhiên một vấn đề được đặt ra: các thể loại văn học viết thời ấy đã được Tiêu
Thống gọi tên hay người tiền bối Lưu Hiệp phân tích đầy đủ chưa? Chúng ta không bàn
đến các văn bản về nông nghiệp, y học, luật pháp, các bộ binh thư, v.v vì chúng có chức
năng thực dụng thuần túy nói chung dường như đứng ngoài hệ thống thể loại văn học.
Song vào thời ấy, ở Trung Quốc đã có một khối lượng khá lớn kinh điển Phật giáo được
dịch (Kinh-sutra, Luận-sastra, Luật-vinaya, jataka, v.v ); có cả kinh sách của Đạo giáo
(trong lời tựa cho văn tuyển, trong số các trước tác triết học đạo gia Tiêu Thống chỉ nhắc
đến Lão Tử, Trang Tử); ngoài ra còn có nhiều trước tác sử học không chính thống đã đưa
vào văn bản của mình vô số truyền thuyết lịch sử có thể sưu tập; cuối cùng đã có những
tuyển tập truyện thần kỳ như Sưu thần ký (Ghi chép về việc đi tìm kiếm thần linh) của Can
Bảo, xuất hiện khoảng thế kỷ III, tức là trước Tiêu Thống hai trăm năm, cũng như các
tuyển tập truyện tiếu lâm (ví dụ Tiếu lâm của Hàm Đan Thuần, thế kỷ III). Sự xem thường
những cuốn sách này và sự rõ ràng không chú ý đến chúng cho thấy tính tự sự, tính hấp
dẫn không được các nhà biên soạn và các nhà lý luận thời ấy xem như một dấu hiệu của
tính nghệ thuật. Cần có hơn một nghìn năm để thừa nhận văn xuôi tự sự là một nhánh bình
quyền của văn học Trung Quốc.
Nếu so sánh hệ thống văn học ở Trung Quốc trung đại sơ kỳ với hệ thống văn học
của nước Nga cổ vốn cũng chịu sự qui định bởi thế giới quan trung đại (xem Kuskov, tr.3)

tập của mình cả những thể loại chưa có ở bộ tuyển của Tiêu Thống: Sớ - bình chú, trạng -
báo cáo do các quan lại viết gửi vua hay quan trên, lộ bố - thông báo khẩn cấp, zi - cảnh
báo (khác với châm được cả Tiêu Thống và Diêu Huyễn giới thiệu).
Tất cả những cái mới được áp dụng đó rõ ràng phù hợp với thực tiễn văn học đời
Đường. Dù những thể loại này ra đời từ đầu công nguyên, nhưng những kiểu mẫu của chúng,
theo quan điểm Tiêu Thống, còn chưa có giá trị văn học, trong khi đó, đến thế kỷ X, chúng
đã bước vào đời sống văn học và Diêu Huyễn đưa chúng vào tuyển tập của mình. Không
khó khăn mà nhận thấy rằng tất cả các thể loại mới, được viết bằng văn xuôi có vần và
không vần, về thực chất là biến thể của giấy tờ hành chính - công việc và những dấu hiệu
tiêu biểu của chúng gắn liền trước hết với lễ nghi thời trung đại. Ví dụ tiêu biểu: lộ bố: thời
cổ (thế kỷ III-II trước CN) đây là thư từ gửi nhà vua được viết bởi dân thường hay quan lại
không được triều đình phong quan tước hay cấp cho những suất ruộng đất (nguyên tắc này
được duy trì ở đời Đường đến đâu, cần có những khảo sát chuyên biệt).
Như vậy, đối với người soạn bộ tuyển tập văn chương có uy tín đời Đường, đã sống
ở cuối thế kỷ X, cũng như đối với những bậc tiền bối của ông, văn học thống hợp cả các
thể loại thuần túy nghệ thuật (phú, thi, v.v ) cả các thể loại hành chính - sự vụ với tính
chức năng rất rõ. Tuy nhiên, các tác phẩm tự sự, ví dụ như các truyện truyền kỳ thời
Đường rất nổi tiếng ngày nay, cũng như các văn bản được sáng tạo trong các nhà chùa
bằng ngôn ngữ hội thoại thời ấy dành để diễn xướng (biến văn) đã không rơi vào hệ thống
văn học nói chung. Ngoài ra, trong tuyển tập của Diêu Huyễn có một chi tiết kỳ thú. Trong
số 22 mục thể loại được giới thiệu trong bộ sách này, có một (cổ văn) không chỉ một thể
loại riêng biệt. Cổ văn – nghĩa đen “văn chương thời cổ”, “văn học cổ”- khái niệm chỉ một
khuynh hướng thể loại xuất hiện vào đời Đường, khi hai nhà văn nổi tiếng Hàn Dũ và Liễu
Tôn Nguyên chống lại lối văn đối xứng phức tạp và hô hào quay trở lại với thời cổ đại, tức
là với phong cách ngắn gọn, sáng sủa của các kinh điển Khổng giáo cổ đại. Mặc dù những
đại biểu của phong trào phong cách và ở mức độ rõ ràng có tính tư tưởng này đã sử dụng
trong sáng tác của mình nhiều thể loại hệt như các nhà văn khác, Diêu Huyễn vẫn tách họ
ra một mục riêng biệt. Rất có thể là ý nghĩa cổ của thuật ngữ thể (“thân thể” văn học), kết
hợp trong mình, như đã nói ở đầu bài viết này, đồng thời cả khái niệm phong cách và thể
loại, ở đây đã đóng vai trò nhất định.

quen thuộc tụng, tán, tiếp theo là những thể loại văn học tuồng như “phụ trợ”: vấn đối - hỏi
đáp, thư -thông điệp, ký - ghi chép (thời ấy chúng thường mang tính chất văn học), tự - lời
nói đầu, bạt - lời nói sau sách, tạp ký - các trước tác hỗn tạp, truyện, và cuối cùng, cũng
như ở Tiêu Thống trong Văn tuyển, là những thể loại gắn với nghi lễ mai táng. Rõ ràng ở
tác giả đời Minh, các thể loại thuần túy có tính văn chương đã lùi xuống hàng thứ hai.
Nhưng truyền thống của Tiêu Thống không chết. Ở thế kỷ XVII, Tiết Hy đã soạn
tuyển tập Minh văn tại (Các tác phẩm văn đời Minh đang tồn tại) theo mẫu của Văn
tuyển,tức là đề cao phú, thi và xếp sau chúng các thể loại liên quan đến hoạt động của vua
(cáo, chiếu ) và hành pháp của quan lại; tiếp theo là các tác phẩm chức năng: các loại bài
tựa, các bút ký về tranh, về đền chùa, các phác thảo về phong cảnh, những bia kỷ niệm,
v.v và cuối cùng - các thể loại nghi lễ gắn với tang lễ. Tiết Hy đã tiến hành phân loại tỷ
mỷ gần như là kĩ vào bậc nhất, tách ra đến 72 tiểu loại. Nhưng các thể loại thuần túy ở ông
ít hơn - có gần 50; các tiểu loại thì hình thành nhờ có việc chia các thể loại thành các hạng:
ví dụ,tự - lời nói đầu, được chia thành 12 hạng tùy thuộc vào chỗ lời nói đầu viết cho kiểu
trước tác nào (kinh điển nho giáo hay tuyển tập thi ca, hay là cho bài văn tả cuộc du lịch,
hay vựng tập các chiếu chỉ, v.v ).
Từ đầu thế kỷ XVIII và trong thế kỷ XIX, khi văn phái Đồng Thành
桐 成 派

ảnh hưởng lớn đến văn học Trung Quốc, đã xuất hiện những tuyển tập được soạn bởi các
đại biểu hàng đầu như Diêu Nại (1731-1815) với Cổ văn phân loại tuyển tập, Tăng Quốc
Phiên (1811-1873) với Bách gia chư tử tạp ký. Diêu Nại và Tăng Quốc Phiên, cũng như
Trình Mẫn Chính, đã đặt lên hàng đầu bảng thứ hạng không phải những thể loại văn
chương (thi, phú) mà là luận (thường luận về kinh điển), sau đó là tự và bạt, rồi ở vị trí thứ
ba -tấu - báo cáo lên nhà vua hay các tác phẩm bàn về các vấn đề chính trị hay cuộc sống
xã hội viết mô phỏng tấu.
Diêu Nại cắt giảm số lượng thể loại rất gay gắt trong bộ tuyển của mình (13 thay vì
39 ở Tiêu Thống), nói chung không hạ cố đến các văn bản thơ ca (tuyển tập của ông gọi là
tuyển cổ văn chứ không phải các tác phẩm văn chương nói chung), còn phú và tán thì
được xếp cho ở vị trí 12 và 11. Tăng Quốc Phiên, định sửa chữa tình hình, đã đặt lên vị trí

triển mới trong những điều kiện hiện thực lịch sử mới” (Likhachev, 1968, tr.12-13).
Rõ ràng, có thể nói về hai kiểu bứng trồng: một kiểu gắn liền với sự tất yếu phải
dịch các tác phẩm ra tiếng địa phương như điều đó đã diễn ra ở nước Nga và Bungaria, và
một kiểu được thực hiện trong điều kiện của một ngôn ngữ văn học, không đòi hỏi công
tác phiên dịch chuyên biệt nào. Sự bứng trồng kiểu thứ hai chúng ta quan sát thấy ở các
nước khu vực Viễn Đông. Đi cùng với ngôn ngữ văn học từ Trung Quốc đến các nước
láng giềng là cả một hệ thống thể loại văn xuôi phi tự sự và thơ ca đã hình thành cố định ở
Trung Quốc vào đời Đường (thế kỷ VII-VIII), tức là đúng vào lúc các nền văn học khác
của khu vực bắt đầu hình thành.
Nếu chúng ta chú ý đến các tuyển tập được người Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam
trung đại biên soạn từ các tác phẩm văn học nước mình, thì sẽ thấy họ giới thiệu trên
thực tế tất cả các thể loại cơ bản của văn chương Trung Quốc, đồng với các thể loại cả hệ
thống và thứ hạng của chúng cũng được tiếp thụ. Ví dụ như trong tuyển tập văn học của
người Nhật soạn thế kỷ XI Bản triều văn túy (Những kiểu mẫu văn học xuất sắc nhất của
bản triều) gồm các tác phẩm của các nhà văn Nhật Bản thế kỷ IX - thế kỷ XI, trong Đông
văn tuyển (Tuyển tập văn học phương Đông) soạn ở Triều Tiên thế kỷ XV, và
trong Hoàng Việt thi văn tuyển (thế kỷ XVIII), chúng ta phát hiện thấy cũng sự xếp sắp
thứ tự các thể loại như trong Văn tuyển của Tiêu Thống (các soạn giả Triều Tiên và Việt
Nam vay mượn cả tên gọi “văn tuyển” cho các tuyển tập của mình).
Tuyển tập của Nhật Bản bắt đầu với phú, sau đó là thi và rồi sau đó đến se (chiếu
của hoàng đế) và các thể văn chức năng khác. Tuyển tập của Việt Nam bắt đầu từ phú cổ
sau đó xếp ký, rõ ràng vì đây chủ yếu là thể loại thiên về miêu tả và thậm chí có tính chất
của truyện ngắn; tiếp theo là các bài minh khắc trên đá, các bài tế văn, các bài chiếu chỉ và
các thể loại văn sự vụ khác.
Tuyển tập của Triều Tiên mở đầu với sa (từ), pu (phú), si (chiếu chỉ) và các thể loại
văn học chức năng khác, trong đó ta thấy có ký, tự, và trôn - truyện, chemun - tế văn và các
thể loại gắn với nghi lễ mai táng.
Điều thú vị là khác với người Trung Quốc, các soạn giả Nhật Bản và Triều Tiên đã
đưa vào các bộ tuyển tập của họ những kiểu mẫu văn học Phật giáo trong các thể loại
nhưhuxugan (phát nguyện), gammon (nguyện văn) của người Nhật và tochanmun (đạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status