Thể loại trong văn học
Trung Quốc thời trung đại
Một trong những nhà lý luận văn học đầu tiên là Lục Cơ, sống ở thế kỷ III sau CN,
người soạn Văn phú (Phú về ngôn từ trang nhã). Viện sĩ V.M. Alekseev, người đã dịch bài
phú này sang tiếng Nga và bình luận nó, đã chỉ ra hơn hai mươi đề tài cơ bản đã được Lục
Cơ đề cập tới (xúc động và thăng hoa của nhà thơ, hứng khởi sáng tạo, sự toàn năng của
nhà thơ, v.v ). Trong số chúng có đề tài mà V.M. Alekseev xác định như là “hình thức,
phong cách, thể loại” (Alekseev, tr.266-268).
Nếu như chúng ta chú ý đến nguyên văn văn bản thì thấy rằng trong khi giải thích
đề tài này, Lục Cơ nhìn chung chỉ thao tác một khái niệm thể (體), mà về nó chúng tôi đã
nói ở ngay đầu bài viết. Khái niệm này ở đây hình như có ý nghĩa vừa là hình thức văn học
vừa là phong cách. V.M. Alekseev đã truyền đạt nó như thế trong bản dịch của mình
(“Hình thức và phong cách phong phú bằng muôn vạn khác biệt”). Nhưng trên thực tế,
Lục Cơ nói đến những hình thức văn chương rất gần với cái mà bây giờ chúng ta gọi là các
thể loại. Vì thế mà một nhà nghiên cứu thời nay, rất có uy tín về lịch sử tư tưởng văn học
Trung Quốc là giáo sư Quách Thiệu Ngu, khi bình luận Văn phú đã nhìn thấy ở
chữ Thể chính là thể loại (thể tài). Nhưng thiết nghĩ rằng V.M. Alekseev vẫn gần chân lý
hơn, rằng khái niệm thể đối với Lục Cơ dẫu sao cũng rất mềm dẻo: chẳng hạn, thể loại
được hình thành bởi phong cách. Và đây, một sự liệt kê các thể loại này trong Văn phú qua
bản dịch của V.M. Alekseev: “Thi nói tình nên kiều diễm. Phú là tự nhiên trong thân thể
nên lưu chuyển như dòng chảy chính xác và rõ ràng. Bi văn (Văn khắc trên đá) phát triển
phong cách của mình một cách trang nhã và giúp biết bản chất sự vật. Tiếng khóc
kiểu lụy
誄
réo rắt như sợi chỉ se, giọng bi ai. Minh văn đầy uyên bác, song cô đúc, như
tiết ra tình và nhiệt khí. Văn thể châm giọng lúc bổng lúc trầm, nhưng phong cách trong
sáng và mạnh mẽ. Tụng tung hoành lộng lẫy, văn phong rực rỡ, còn luận thì vừa chính xác
vừa tế nhị, đi thẳng vào lòng. Tấu: văn phong đều đặn, thấu đáo nhưng tất cả đều mực
thước theo kiểu cổ điển. Thuyết thì bừng bừng như lửa, song tất cả đều được suy tính tinh
khôn” (Alekseev, tr.262).
Như vậy Lục Cơ liệt kê tất cả những thể loại Văn cơ bản thời đó theo quan điểm của
từ đồng âm, đọc là míng - ND) từ đây mà có ý nghĩa phái sinh là “lời” hay tên để lại cho
con cháu. Hẳn là tên gọi của một thể loại văn chương gắn với nghĩa cuối cùng này. Trong
một bộ sử biên niên cổ đại, Tả truyện (thế kỷ IV trước CN), có nói rằng trong các bài minh
có ghi công lao của các vương bá và thiên tử, tức là của nhà vua. Minh còn một chức năng
nữa là tác dụng phòng ngừa, răn đe. Người ta cho rằng trên các đồ dùng bằng đồng, ví dụ
trên các đỉnh thờ, các vạc đồng, nồi đồng có kích thước tương đối lớn, cần phải khắc
những bài minh với các nội dung răn đe khác nhau. Đặc điểm tự nhiên của minh là sự ngắn
gọn và từ vựng đặc biệt, “tiết ra tình cảm và nhiệt khí” như V.M. Alekseev đã dịch.
Chúng tôi cố ý phá vỡ đôi chút trật tự liệt kê của Lục Cơ, mà theo ông
thì bi và minh được tách bạch bởi việc nhắc đến tiếng khóc kiểu như lụy (誄), do muốn
nhấn mạnh rằng cả hai thể loại này đều phụ thuộc vào chất liệu mà trên đó người ta khắc
những văn bản tương ứng, rằng những chức năng khởi thuỷ của chúng - ca tụng và giáo
huấn - không có quan hệ trực tiếp với văn chương như là ngôn từ được tu sức - nó được
quan niệm là như thế ở Trung Quốc bắt đầu từ thời trung đại sơ kỳ.
Lụy như đã nói, là một trong những hình thức than khóc. Có một vài hình thức như
thế: tùy thuộc vào khóc ai. Lần đầu tiên được nhắc đến trong một chứng tích ở thế kỷ VI
trước CN - Chu lễ, luỵ là lời ca tụng công lao của người chết với nỗi buồn thương của tác
giả trước cái chết của nhân vật, thể hiện ở phần kết thúc của văn bản. Hơn nữa, lụy thường
thể hiện nỗi buồn thương của người bề trên (về mặt xã hội, đẳng cấp, của cải) về cái chết
của bậc dưới. Như các nhà lý luận cổ đại viết: “Người nghèo hèn không viết lụy dành cho
người giàu sang, người trẻ tuổi không viết lụy dành cho người già cả”. Giống như thơ thời
cổ, lụy được viết bằng thơ tứ ngôn. Từ nguyên của bản thân thuật ngữ này không rõ ràng,
nhưng khác với các thuật ngữ đã nói (bi, minh), chữ lụy được viết bằng bộ ngôn (言) chỉ rõ
sự liên thuộc trực tiếp của khái niệm này với ngôn từ. Nhân thể chúng tôi nhận xét là Lục
Cơ đặt lụy – tiếng khóc, sau bi với tính cách là những ghi chép trên bia mộ.
Tiếp theo minh - những bài khắc trên đồ đồng – Lục Cơ nói về châm (
箴
), những lời
giáo huấn. Chữ châm dùng để gọi tên thể loại được các nhà lý luận trung đại qui về chữ
đồng âm (
tượng, một chứng minh cho ý kiến đúng đắn”, nó “không thể được trình bày bằng những
ngôn từ đơn giản, thô lỗ mà cần rực sáng bằng sự cách điệu, làm người đọc lóa mắt, làm
say đắm bởi sự trình bày tư tưởng khéo léo, bởi sự sắc sảo” (Như trên, tr.267-
268). Thuyết, tên gọi của thể loại này, về mặt từ nguyên gắn liền với động từ thuyết là
“nói” và ý nghĩa phái sinh của nó là: “giải thích”, “trình bày”, “cắt nghĩa”; từ đây có chức
năng của nó: giải thích, kiến giải ý nghĩa, trình bày quan điểm riêng, thường là về vấn đề
này hay khác của định đề Khổng giáo. Các lý thuyết gia trung đại thường viện dẫn một
chương của Kinh Dịch coi như “cha đẻ” của thể loại này, đó là chương Thuyết quái - Giải
thích các quẻ. Tuy nhiên ngay ở đây, như ta thấy, trong định nghĩa thể loại thuyết của Lục
Cơ, có nhấn mạnh đến sự cần thiết của sự tô vẽ, tu sức cho văn bản.
Nếu định tóm lược tất cả những điều Lục Cơ nói về mười thể loại mà ông đã liệt kê
thì dễ nhận thấy rằng nếu căn cứ vào các chuẩn mực thời nay về văn chương thì nhà lý
luận Trung Quốc đã thống hợp vào khái niệm văn - văn chương - những thể loại rất khác
nhau. Có những thể loại theo quan điểm chúng ta về cơ bản là văn chương (thi, phú, một
phần nào là tụng), có những thể loại rõ ràng là thể loại chức năng mà sự xuất hiện của
chúng chịu sự qui định của các yêu cầu thực dụng, gắn liền với đời sống xã hội (giáo huấn,
tấu sớ, luận thuyết về các đề tài kinh điển, v.v ). Đồng thời ta nhận thấy trong danh sách
của Lục Cơ, các thể loại chức năng có số lượng lớn hơn nhiều. Nhưng việc đưa chúng vào
phạm trù văn chương có vẻ hoàn toàn hợp lý, bởi vì chúng thỏa mãn tiêu chuẩn cơ bản của
tính văn chương vào thời của Lục Cơ (và ngay cả mãi về sau) - tiêu chuẩn về sự tranh tao
nhã của phong cách, đáp ứng các nhu cầu thẩm mỹ của xã hội.
Nếu như Lục Cơ nói về các thể loại văn chương theo quá trình suy ngẫm chung về
tính chất của sáng tác văn học thì người đồng thời với ông là Chí Ngu (
挚 虞
) (năm sinh
của ông không rõ, năm mất 312 tức sau Lục Cơ hai mươi năm) đã soạn một văn bản
chuyên biệt Văn chương lưu biệt luận (Luận về các khuynh hướng và các loại hình văn
chương). Tiếc là từ văn bản của sách này gồm hai quyển, tức là khá đồ sộ và tỉ mỉ vào
thời ấy, chỉ còn giữ được một số phiến đoạn không lớn lắm. Từ các phiến đoạn này ta
thấy tác giả đã miêu thuật khá chi tiết các thể loại của văn chương Trung Quốc, và chúng
rằng đó là quá trình đặc trưng cho cả nhiều nền văn học trung đại khác, trong số đó có cả
văn học Trung Quốc. Nếu như các nhà lý luận mà chúng ta đã nhắc ở trên, đã nhắc đến
trong các bản liệt kê của mình hàng chục tên gọi thì Nhâm Phảng trong Văn chương duyên
khởi đã phân biệt đến 84 loại. Bảng phân loại của ông về nguyên tắc hãy còn theo chức
năng, một phần vì thế mà nó tỉ mỉ đến mức ông thường chia một thể loại thành hai theo
chức năng riêng mà chúng đảm nhiệm, ví dụ ông chia biểu (表) thành biểu theo nghĩa
chung (báo cáo) và thượng biểu – theo nghĩa chung “báo cáo lên trên”, cho lãnh đạo cao
nhất, hoặc chia tao (騷) thành tao thực thụ và phản tao (nghĩa đen là “ngược lại tao”).
Nhưng khuynh hướng chia nhỏ các thể loại ra những tiểu thể loại như thế đã gây ra
phản ứng ngược lại: người ta tập hợp các thể loại thành những nhóm lớn hơn. Người đồng
thời với Nhâm Phảng là nhà lý luận Lưu Hiệp đã bắt tay vào việc đó. Trong trước tác Văn
tâm điêu long của mình, ông cố gắng miêu thuật và phân loại tất cả các văn bản văn
chương nổi tiếng thời ấy. Mặc dù có thể cho rằng Lưu Hiệp tiếp nhận một số tư tưởng của
Phật giáo và Đạo gia, cơ sở của lý thuyết của ông hiển nhiên là Khổng giáo được tôn sùng
ở Trung Quốc. Lưu Hiệp xem văn (văn chương) như là biểu hiện của một sức mạnh nào
đó - đức (đức thường được dịch là “năng lượng”, “tính qui luật”, “đạo đức”, chính với sức
mạnh đó mà các vị hoàng đế huyền thoại cổ đại đã trị vì thế giới) và đồng thời như là biểu
hiện của cái đạo phổ quát - đại đạo hay là tự nhiên.
Nếu chúng ta chú ý đến văn bản của bản thân trước tác và trình tự của các chương
mục thì sẽ thấy rằng Lưu Hiệp bắt đầu xác định văn chương bằng việc luận bàn về Kinh -
các kinh điển Khổng giáo mà ông xem như là biểu hiện vĩnh cửu của đạo, như là “tiền khu
của tất cả mọi ngôn từ” (Lưu Hiệp, Tập 1, tr.23).
Sau khi dành lời ca ngợi cho kinh điển Khổng giáo, Lưu Hiệp chuyển qua xem xét
các thể loại văn chương và bắt đầu từ chương Biện tao (辨 騷). Thuật ngữ biện - biện luận
đã đi vào tên gọi một trong những chùm thơ của nhà thơ đầu tiên ở Trung Quốc - Khuất
Nguyên (thế kỷ IV trước CN), nhưng ở đây biện xem ra chỉ giữ nghĩa động từ là “làm
sáng tỏ”, “phân tích” nội dung phần này là sự phân tích, làm sáng tỏ thể loại tao vốn được
đặt tên theo bản trường ca nổi tiếng nhất của Khuất Nguyên – Ly tao, ở đây, theo lời Lưu
Hiệp, đã thống hợp những phẩm giá của các bài ca hợp thành các chương Quốc
phong và Tiểu nhã trong Kinh Thi cổ kính. Như là một thể loại, tao không mấy phát triển
bằng cách ấy chỉ ra sự gần gũi của chúng ở thời ông, song thực tế thì hình như ngay từ thời
Lưu Hướng và Liệt nữ truyện, nơi mỗi tiểu sử được kết thúc bằng một bài tụng và
bài tán,mặc dù tách biệt hai thể loại này về phong cách, đề tài và kết cấu là rất phức tạp
(nhiều nhà lý luận Trung Quốc thuộc các thế kỷ khác nhau đã viết về sự rất giống nhau
của tụng vàtán ).
Lưu Hiệp cũng gộp các thể loại có sự giống nhau về chức năng là chúc (祝 - cầu
khấn) và minh (盟 - khấn trời) khi có thề nguyền liên minh. Cả hai về nguồn gốc đều bắt
nguồn từ nghi lễ. Một trong các ý nghĩa của chúc, như các bài ca của Khuất Nguyên cho
thấy, là “thầy pháp Saman”; từ điển cổ Thuyết văn (thế kỷ I) giải thích chúc là những lời
cất lên khi tế lễ. Minh về mặt từ nguyên bắt nguồn từ tên gọi của một thứ vạc dùng chứa
tiết của các con vật tế thần giết trong dịp ký kết liên minh giữa các vương hầu. Tên gọi của
cái vạc trở thành tên gọi lời cầu khẩn các vị thần khi làm lễ. Về chức năng, minh gần với
lời thề nguyền thệ mà chúng tôi đã nói đến ở trên và được Lưu Hiệp nhắc tới trong chương
về minh. Lúc đầu, những tác phẩm truyền miệng thuộc các thể loại chúc và minh được ghi
chép lại (ví dụ như khắc trên đá), sau đó được người ta sáng tác như những tác phẩm văn
học viết, song theo mẫu của các văn bản truyền miệng sơ khởi.