Thể loại trong văn học
Trung Quốc thời trung đại
Tác giả của sách cũng gộp thể loại văn khắc trên chất liệu đồng minh với những
giáo huấn châm mà ta đã biết. Như Lưu Hiệp viết, “châm được đọc thành tiếng trước bá
quan, còn minh khắc trên các vạc, đỉnh; mặc dù chúng (các thể loại này) khác nhau về tên
gọi nhưng ngăn ngừa và giáo huấn về bản chất là một” (Lưu Hiệp, Tập 1, tr.195). Trong
cùng một chương ở sách Lưu Hiệp, có cả tiếng khóc lụy và văn khắc trên bia đá bi. Sự
khác nhau ban đầu về chức năng giữa các văn khắc trên đá bi, các văn khắc trên
đồng minh vàlụy kể công đức người quá cố về bản chất đã bị xóa nhòa: chúng chỉ còn
phân biệt ở người nhận thông điệp (sống hay chết). Như các nhà bình chú Trung Quốc
nhận định, Lưu Hiệp nói chung không coi bi là một thể loại, vì ông viết: “Trật tự trình bày
trong bi là truyện, bản thân văn bi đó là minh (Như trên, Tập I, tr.230). Ở thời Lưu Hiệp,
chất liệu trên đó viết văn bản đã không còn có ý nghĩa quan trọng nữa: giấy đã được dùng
rộng rãi từ thế kỷ I; bởi thế các dấu hiệu liên quan đến chất liệu đối với các nhà lý luận thế
kỷ VI không đủ để phân định các thể loại văn học.
Ở trên chúng tôi đã nói rằng Chí Ngu, người tiền bối của Lưu Hiệp trong số các thể
loại khác nhau, đã miêu tả văn khóc người chết trẻ – ai. Lưu Hiệp cũng chú ý đến thể loại
này khi cắt nghĩa thể loại điếu (弔) gần với ai về chức năng. Theo một từ điển cổ là Thuyết
văn của Hứa Thận, điếu là “thăm hỏi về cái chết”. Từ đây mà có một ý nghĩa của điếu là
“đau buồn”, “bày tỏ sự chia buồn”. Từ đây mà có sự gần gũi giữa ai và điếu như các thể
loại bày tỏ nỗi đau buồn trước người đã khuất. Nhận xét về sự gần gũi này, Lưu Hiệp nói
rằng Điếu Khuất Nguyên phú của Giả Nghị (201- 169 trước CN) và Ai Tần Nhị Thế
phú của Tư Mã Tương Như (179- 117 trước CN) “hoàn toàn là những tác phẩm thuộc thể
phú” (Như trên, tr.241). Những nhận xét như thế cho thấy ranh giới giữa các thể loại vốn
được phân chia theo nguyên lý chức năng - nghi lễ đã trở nên rất lỏng lẻo.
Như chúng tôi đã nhắc đến, Chí Ngu tách thể loại thất thành một phạm trù riêng biệt.
Lưu Hiệp cũng miêu tả thể loại này, nhưng trong sự gắn kết trực tiếp với các thể loại khác,
ví dụ liên châu (連 珠 - các hạt ngọc trai nối thành chuỗi). Ông xếp thất và liên châu vào
chương Tạp văn, nơi có nhiều tên gọi thể loại khác nhau: điển – các qui định thể chế của
các quân vương thời cổ, cáo - thông báo, thệ - thề nguyền, vấn – các câu hỏi, lãm - tổng
quan, lược – tổng quan ngắn gọn và các trước tác gọi là thiên (chương mục)
loại của Lưu Hiệp. Ví dụ, việc nhà vua gửi thông điệp cáo khác gì về nguyên lý so
với chiếu –lệnh vua? Nhưng Lưu Hiệp đã xếp cáo vào phần tản văn thuộc nhóm trước,
còn chiếu vào nhóm thứ hai gồm các thể loại sự vụ. Cứ giả sử nhà lý luận này phân biệt
các thể loại phục vụ cho nhu cầu hành chính quốc gia với các thể loại truyền thống và nghi
lễ thuộc nhóm thứ nhất. Nhưng thế thì tại sao các tục ngữ ngạn (
谚
)lại được xếp vào nhóm
thứ hai trong khi rõ ràng đây là thể loại văn học dân gian? Về mặt này có thể giả định rằng
đối với Lưu Hiệp, các câu tục ngữ không có đầy đủ giá trị thẩm mỹ, không sự bóng bẩy
của văn phong. “Ngạn là những lời nói trực tiếp. Các lời chia buồn cũng không đủ tính văn
chương, bởi thế nên việc thể hiện sự chia buồn cũng gọi là ngạn” (Lưu Hiệp, Tập II,
tr.460). Không đi sâu tìm kiếm lý do tại sao nhà lý luận này lại xếp gần các tục ngữ với
những lời chia buồn, chúng tôi chỉ nhấn mạnh rằng hẳn là tiêu chuẩn quan trọng đối với
Lưu Hiệp là tính văn chương (văn) hay là sự trang sức của phong cách. Nhưng ngay cả
tiêu chuẩn này không phải khi nào Lưu Hiệp cũng duy trì. Thế nên xuất phát từ quan niệm
của chúng ta, khó hiểu vì sao những trước tác lịch sử được Lưu Hiệp nói đến (ví dụ, Sử
ký của Tư Mã Thiên), những trước tác chứa nhiều truyện có tính nghệ thuật cao lại được
ông liệt vào nhóm thể loại thứ hai. Nhưng ngay ở đây, chúng ta có thể dò ra một nguyên
lý phân loại chủ yếu của Lưu Hiệp. Vấn đề là ở chỗ tất cả các hình thức thể loại - cả thơ và
văn xuôi, được ông liệt vào nhóm đầu tiên-văn, đều là những văn bản có vần. Xem ra đối
với ông, đường ranh phân chia các nhóm thể loại là ở đây. Vần như một tiêu chí căn bản
của tính chất tu sức, trang trí chứ không đơn thuần sự trang nhã của phong cách vẻ đẹp của
sự trình bày, tính hinh tượng, v.v đối với Lưu Hiệp và nói chung trong tư tưởng lý luận
Trung Quốc các thế kỷ IV-VI đã quyết định sự phân biệt tất cả văn chương
thành văn (nghệ thuật) và bút (sự vụ). Một trong những người đầu tiên viết về sự phân biệt
này là Phạm Việp (398-445), tác giảHậu Hán thư. Trong “Thư từ trong tù gửi các cháu”,
ông nói về những lời tán có vần kết thúc các truyện và những luận, tựa không có vần, ghi
nhận tính nghệ thuật đặc biệt của những lời tán, bởi lẽ văn không có vần dễ viết hơn có
vần.
Còn về việc phân biệt thơ và văn xuôi thì đối với Lưu Hiệp không thực sự quan
thì sẽ thấy rằng Lưu Hiệp phản ánh những quan điểm đã được thừa nhận rộng rãi trong
thời đại ông.
Tiêu Dịch trước khi lên ngôi, tức là trước năm 552, nhưng xem ra sau khi Lưu Hiệp
mất, đã viết Kim lâu tử lập ngôn thiên, trong đó phân chia tất cả các văn bản văn học thành
các trước tác của nho sĩ - nho, mà tính năng quan trọng là trao truyền tri thức từ Khổng Tử
sang các học trò; văn gồm thi và phú; học (học thuyết), ông liệt vào đây những trước tác
của các nhà nho đương thời, những người am hiểu kinh điển, cũng như của các triết gia và
sử gia; bút - văn sự vụ, các đại diện loại văn này không thật điêu luyện trong làm thơ
nhưng lại thạo soạn công văn giấy tờ (chương) và báo cáo (tấu). Như ta thấy, Tiêu Dịch
tách biệt các triết gia Nho giáo đầu tiên, những người sáng lập học thuyết, ra khỏi những
người kế tục họ vì cho (có căn cứ) rằng những người sau chỉ làm việc chú giải và bình luận;
nhưng việc chia văn và bút ở ông vẫn theo nguyên tắc như ở Lưu Hiệp: nguyên tắc trang
sức (mặc dù ông không nói về vần như nhân tố hình thành phong cách chính yếu nữa) và
coi việc luận thuật, trình bày là yếu tố quyết định trong văn sự vụ.
Nếu Lưu Hiệp và Tiêu Dịch khi bàn về văn chương đã tiến hành phân loại nó ra
thành những chương mục cơ bản thì Tiêu Thống đã cố gắng tạo ra một bộ hợp tuyển văn
học có tính nghệ thuật đầu tiên theo quan điểm của ông. Ông gọi nó là Văn tuyển. Ông cắt
nghĩa các nguyên tắc lựa chọn tác phẩm trong lời tựa ngắn ngủi: “Đã trải qua hơn ngàn
năm kể từ khi văn từ phồn thịnh (nhưng từ toàn bộ dòng chảy đó) tôi không lựa chọn các
tác phẩm của Chu (Chu công) và Khổng (Khổng Tử), người thầy của chúng ta. Các sách
vở của Lão và Khổng, Quản (Tử) và Mạnh (Tử) có mục đích chủ yếu là biện chính cho tư
tưởng chứ không phải là hình thức nghệ thuật và sự trình bày khéo léo. Do đó tôi không
đưa chúng vào Văn tuyển. Tôi cũng không chọn các nghị luận của các nhà chính trị các
phái và các vị cố vấn của công hầu, cho dù chúng rất kỳ lạ về phẩm chất của mình Cũng
như vậy, tôi không chọn các bộ sử biên niên và các niên giám vì chúng không thích hợp
với nhiệm vụ của tôi, do chúng luận bàn về thị phi theo quan điểm chính thống, do chúng
thường xuyên ca ngợi người này, hạ thấp người khác. Tuy nhiên, những phần của chúng,
ví dụ các bài luận và các hồi tán tụng riêng biệt được soạn từ những câu văn mỹ miều, rồi
những câu chuyện đặc biệt được viết có nghệ thuật thì tôi xếp vào Văn tuyển như là những
tác phẩm được suy ngẫm sâu về nội dung và hướng tới lời văn tinh tế” (bản dịch của V.M.
khiến ông lập một trình tự như thế không quan trọng lắm: cả phú lẫn thi với tất cả các biến
thể của chúng là những tác phẩm nghệ thuật thuần túy, không gắn với hoạt động thực tiễn
của người Trung Quốc thời cổ, cũng không gắn với nghi lễ và các nhân tố khác ngoài văn
học. Điều đáng nói là trong lời tựa Tiêu Thống như có ý riêng rào đón cho thuộc tính văn
chương của phú, nhấn mạnh sự tồn tại trong phú những nhân vật do tác giả hư cấu chứ
không phải các nhà hoạt động lịch sử.
Trật tự xếp sắp các tác phẩm theo thể loại cũng cho thấy ý nghĩa mà Tiêu Thống
dành cho các thể loại thơ thi ca và văn chương. Tiếp theo phú (xin nhắc lại phú là thể loại
“thơ xuôi”, được viết bằng thứ văn xuôi có nhịp điệu, có phong cách cao sang với sự hiệp
vần bắt buộc mặc dù không đều đặn như trong thơ) đến thi, theo sau nó là nhạc
phủ (những bài thơ kiểu dân ca), sau đó lại đến thi nhưng là tạp thi, sau đó là những câu
thơ cổ mà Tiêu Thống gọi là tao (theo Ly tao của Khuất Nguyên). Tác giả (hay là các tác
giả, vì không rõ có phải một mình thái tử soạn) đưa vào mục tao tất cả tác phẩm của Khuất
Nguyên và người kế tục – Tống Ngọc (290- 223 trước CN), những tác phẩm trong lịch sử
văn học Trung Quốc được gọi là “Sở từ”. Trong tuyển tập, sau tao là thất, tức là những tác
phẩm, như đã nói, được Lưu Hiệp xem như là một trong những phần của tạp văn. Chỉ sau
đó, Tiêu Thống mới dừng lại ở các thể loại sự vụ. Trước tiên ông xếp các chiếu- mệnh
lệnh, của hoàng đế, tiếp theo là sách (nghĩa đen: một bó thẻ tre trên đó người Trung Quốc
cổ viết chữ, về sau chữ này được dùng chỉ các lệnh của nhà vua; một văn bản duy nhất
thuộc thể loại sách được dẫn trong Văn tuyển - thông điệp hoàng đế gửi các hầu tước và
đại thần). Sau sách là các lệnh- do vua hay các thái tử ban hành vào thời gian đi kinh lý
cũng như các mệnh lệnh xuất phát từ chính quyền trung ương. Sau lệnh, Tiêu Thống
đặt giáo, do những quan lại ở kinh đô thời cổ ban hành cho các chức quan cai trị các phủ
huyện (thể loại này đặc biệt phổ biến ở thế kỷ I-IV sau CN, tức là vào thời của Tiêu
Thống). Đi theo sau chúng là các tác phẩm thuộc về thể văn. Như ta nhớ, văn là tên gọi
chung của văn chương tao nhã, nhưng trong trường hợp này, được rút gọn từ khái
niệm sách văn - nói về các trước tác của các cố vấn khác nhau đời Hán. Cuối cùng, Tiêu
Thống dành chỗ cho biểu- các báo cáo do các quan đại thần viết gửi lên đấng tối cao.
Ở đây không cần thiết phải liệt kê tất cả các thể loại văn sự vụ thời ấy mà kiểu mẫu
Tiêu Thống đã đưa vào Văn tuyển; điều điển hình là trong quan niệm của ông, cả các
phần đặc biệt Tán sử. Có thể ở đây nguyên tắc phân loại không chỉ là nguyên tắc thể loại
mà nhiều phần hơn còn là nguyên tắc chức năng: những tác phẩm thể tán được sử dụng
vào những mục đích khác nhau thì cũng được xếp vào những mục khác nhau, nhưng, có lý
hơn cả, vấn đề vẫn là ở hình thức của chúng: bài tán sử được viết có vần, còn bài tán luận
lại không có vần.
Những tác phẩm thể luận cũng được Tiêu Thống xử lý như thế. Một số tác phẩm
thể luận được ông xếp vào mục riêng - luận¸ mở đầu bằng tác phẩm nổi tiếng Quá Tần
luận(Luận về lỗi lầm của nhà Tần) của Giả Nghị (201-169 trước CN), còn cũng những
bài luận khác kết thúc các truyện về những con người nổi tiếng trong một số bộ sử về các
triều đại (như Hậu Hán thư của Phạm Việp) thì tạo thành một mục riêng “sử luận”, tương
tự như các bài tán được sử dụng với chức năng tương đồng.
Chỉ sau những thể loại nằm trong thành phần các trước tác lịch sử Tiêu Thống mới
đưa vào Văn tuyển của mình các thể loại mà theo quan điểm của chúng ta là có tính chức
năng hiển nhiên, song đã được Lưu Hiệp liệt vào nhóm văn (vì có vần là tiêu chuẩn bắt
buộc): châm - lời nhắc nhở, răn đe, minh - bài viết trên các dụng cụ chứa đựng, lụy – lời
khóc có kể tiểu sử, ca ngợi công đức người quá cố, ai- khóc người chết trẻ, bi- văn khắc
trên mộ chí - tất cả các thể loại này ít nhiều có gắn với nghi lễ mai táng người chết. Hai thể
loại nghi lễ khác gần với chúng về chức năng là điếu văn và tế văn và cuối cùng, kết thúc
văn tuyển của Tiêu Thống là hàng trạng - miêu tả cuộc đời và việc làm của người đã chết -
thể loại có quan hệ trực tiếp với nghi lễ cổ đại
(3)
.
Tổng kết những gì ta đã xem xét, có thể nói rằng soạn giả văn tuyển đầu tiên ở
Trung Quốc đã coi trọng những thể loại thuần túy nghệ thuật (phú và thi); các thể loại có
tính chức năng rõ ràng, gắn với nghi lễ chôn cất, v.v được ông đặt ở vị trí cuối cùng
trong hệ thống của mình (từ 33 đến 39); những thể loại hành chính - sự vụ (chiếu, biểu)
cũng như những thể loại có quan hệ với sử học quan phương dường như chiếm địa vị trung
gian, song cũng thuộc thành phần của văn học.