Hinh tuong ke si trong van hoc trung dai - namvan83 - Pdf 42

Trờng thpt chuyên Nguyễn tất thành yên bái
đỗ lê nam
Hình tợng kẻ sĩ trong
văn học trung đại việt nam
Giới thiệu:
- Trong các tác phẩm thơ văn trung đại, ta thấy nổi lên hình tợng các thiền s đắc đạo đời Lý Trần với
nhiều t tởng cao thâm mà hữu ích cho thế tục; rồi hình tợng ngời anh hùng vệ quốc tràn đầy hào khí thời
đại Đông A, cuối cùng là hình tợng ngời trí thức phong kiến, tuy xuất hiện sau nhng nó dần trở thành
một nhân vật quan trọng và xuất hiện phổ biến nhất trong văn học trung đại. Việc tìm hiểu kẻ sĩ thời
phong kiến có nghĩa thực tiễn đối với ngày nay. Các bạn học sinh chính là những trí thức tơng lai của đất
nớc. Vì thế tìm hiểu các trí thức phong kiến sẽ giúp ta học hỏi đợc những bài học hữu ích.
I. Tìm hiểu chung về hình tợng kẻ sĩ:
1. Khái niệm kẻ sĩ:
- Sĩ khả sát bất khả nhục, em hiểu câu nói này nh thế nào?
- Đợc dùng để chỉ những trí thức trong xã hội phong kiến. Đó vừa là từ để gọi vừa là từ tự xng.
- Những trí thức phong kiến đời xa thờng học theo Nho giáo của Khổng Tử nên còn đợc gọi là các nhà
nho hoặc các nho sĩ, nho sinh.
- Đời xa, con đờng xây dựng công danh sự nghiệp của các trí thức phong kiến thờng diễn ra nh sau:
+ Trong thời bình: Đầu tiên, học hành, rèn luyện, chờ thời; sau đó, thi cử, chứng tỏ tài năng với đời; nếu
đỗ đạt làm quan thì thực hành lí tởng trị quốc, an dân, giúp vua chúa xây dựng vơng triều hng thịnh, bền
vững. Nếu không thi đỗ làm quan họ có thể về quê dạy học, sáng tác thơ văn hoặc su tầm các giá trị văn
hoá dân tộc.
+ Nếu triều đại suy vong, xã hội loạn lạc, kẻ sĩ thờng tìm con đờng lánh đục về trong, từ quan về quê ở
ẩn, vui thú điền viên, lâm tuyền, xa lánh cõi đời xô bồ, đua tranh.
- Chế độ giáo dục và khoa cử của nớc ta thời xa chủ yếu hớng vào văn học và lịch sử. Hơn nữa, đặc điểm
của văn hoá thời trung đại là tình trạng văn sử triết bất phân. Vì thế, các trí thức phong kiến đồng thời là
những ngời rất giỏi thơ văn, thông làu sử sách. Họ vừa là kẻ sĩ vừa là nghệ sĩ.
2. Các tác phẩm có hình tợng kẻ sĩ:
*Trong thơ, phú:
1. Tỏ lòng
1. Nỗi lòng

tại trời. Vì thế ngời anh hùng không cam lòng. Đến tận khi tóc bạc, sức mòn, ông vẫn ấp ủ chí khí xung
trận hết sức bền bỉ và đáng khâm phục:
Quốc thù vị báo, đầu tiên bạch
Kỉ độ long tuyền đới nguyệt ma.
c. Đại cáo bình Ngô: Hình tợng kẻ sĩ trong bài thơ không chỉ là những cá nhân của một thời đại lịch sử
nhất định mà là những danh nhân, vĩ nhân đợc nhìn nhận dới góc độ văn hoá, truyền thống lịch sử. Họ
chính là những nhân tài góp phần đắc lực trong công cuộc dựng nớc và giữ nớc:
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đờng, Tống, Nguyên mỗi bên xng đế một phơng
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có.
Kẻ sĩ tài năng đợc gọi là hào kiệt. Một trong những khó khăn lớn nhất của nghĩa quân Lam Sơn trong
những ngày đầu chính là thiếu nhân tài trợ giúp:
Tuấn kiệt nh sao buổi sớm
Nhân tài nh lá mùa thu
Ngay cả khi cuộc chiến đã đến hồi kết, vai trò của nhân tài càng đợc khẳng định nhiều hơn khi họ
chính là ngời hiến kế tha bổng cho kẻ thù khiến chiến tranh chấm dứt hoàn toàn, nhân dân đợc hởng nền
hoà bình lâu dài:
Chẳng những mu kế kì diệu
Cũng là cha thấy xa nay.
d. Hứng trở về: Kẻ sĩ đi xa nhng luôn hớng tấm lòng về quê nhà.
Dâu già lá rụng tằm vừa chín
Lúa sớm bông thơm, cua béo ghê
Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt
Dầu vui đất khách chẳng bằng về.
Đất khách quê ngời tuy là chốn phồn hoa đô hội (đất Giang Nam, Trung Quốc) vui vẻ, giàu sang nhng
không thể khiến tác giả nguôi quên đi những thú vui dân dã giản dị mà bình yên của quê nhà. Đó là kẻ sĩ
có tinh thần dân tộc thể hiện qua tình yêu quê hơng. Đồng thời đây cũng là một mình chứng cho phẩm
chất của kẻ sĩ Phú quý bất năng dâm: Phú quý không làm h hỏng, nảy sinh những ham thích tầm th-
ờng.

tồn tại và phát triển nhất thiết phải có sự giúp sức của ngời tài đức. Họ chính là ngời quyết định đến sự
hng vong, thịnh suy, mất còn của quốc gia. Mà kẻ sĩ lại chính là lực lợng đông đảo, chiếm số lợng chủ
yếu trong đám hiền tài.
- Chính vì lẽ đó, triều đình quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng, ban khoa danh, chức tớc,
bổng lộc đến mức tối đa. Thậm chí, nhà vua còn muốn tên tuổi, danh tiếng của kẻ sĩ không chỉ đợc khen
ngợi một thời mà còn đợc lu danh hậu thế ngàn năm. Đó là lí do vì sao Lê Thánh Tông đã cho khắc tên
các tiến sĩ, những ngời đỗ đầu các kì thi lên bia đá đặt trong Văn Miếu. Không những thế việc khắc bia
tiến sĩ còn có tác dụng khuyến thiện, trừ gian: vừa là động lực tinh thần để hiền tài ra sức đóng góp,
cống hiến vừa ngăn ngừa nguy cơ sa ngã, tha hoá.
Vua cũng chỉ là ngời. Philíp là một vị vua vĩ đại của vơng quốc Maxeđoan hùng mạnh. Song không
bao giờ ông tỏ ra tự phụ mà luôn ra lệnh cho ngời hầu sáng sáng đến bên giờng mình để hô to một câu:
Hỡi đức vua, ngài cũng chỉ là ngời thôi. Chu Nguyên Chơng Trong ba mơi năm từ 1368-1398, mỗi
bình minh, vua cho ngời đọc một câu nói: Làm vua khó, làm thần càng khó, khó thật khó; sáng nghiệp
khó, giữ nghiệp càng khó, khó thật khó; giữ nhà khó, giữ thân càng khó, khó thật khó.
b. Tựa Trích diễm thi tập So sánh với trờng hợp của T Mã Thiên, La Quán Trung, Vamiki. Đây là tấm
gơng của những kẻ sĩ mang tinh thần tự hào dân tộc. Họ muốn đóng góp công sức bằng cách su tầm các
giá trị văn hoá đời trớc để lu lại cho đời sau. Việc làm đó vừa đòi hỏi thời gian, sức lực vừa đòi hỏi sự
công phu, tỉ mỉ. Nó đã góp phần xây dựng một quốc gia hoàn thiện về cả chủ quyền lãnh thổ lẫn truyền
thống văn hiến.
c. Thái phó Tô Hiến Thành: Kẻ sĩ đã đỗ đạt vinh hiển nhng trọn đời vẫn giữ đợc lòng trung thành với
triều đình, danh lợi, cờng quyền và tình cảm cũng không thể khiến họ lung lay ý chí hoặc thay lòng đổi
dạ. Chính vì thế, dù Thái hậu mang vàng bạc biếu tặng rồi hứa cho công danh cuối cùng là dùng sức
mạnh để ép buộc nhng cũng không thể thuyết phục đợc Tô Hiến Thành làm trái di chiếu của tiên vơng.
Khi ông ốm nặng, Vũ Tán Đờng ngày đêm hầu hạ, trong khi Trần Trung Tá vì bận việc công không thể
đến thăm. Vậy mà ông vẫn tín nhiệm Trung Tá kế nhiệm mình vì đây thực sự là ngời có tài. Nh vậy, cho
đến tận lúc chết, ông vẫn một lòng vì nớc vì dân, không để cho tình cảm cá nhân chi phối lí trí.
Mạnh Thờng Quân thời Chiến Quốc là ngời hết sức giàu có và nghĩa hiệp. Một hôm ông nhờ một môn
khách là Phùng Huyên đi đòi nợ. Phùng Huyên hỏi: Tiền đòi nợ, ông có muốn dùng để mua gì không?
Thờng Quân trả lời: Ngơi xem nhà ta còn thiếu thứ gì thì mua Phùng đến gặp các con nợ và tuyên bố
Thờng Quân xoá hết nợ cho họ và đốt giấy vay ra tro. Khi về, ông nói với Quân rằng: trong nhà tiên sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status