Phương thức “huyền thoại hóa” hình tượng nữ giới trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 - Pdf 44

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
----------------------

NGUYỄN THỊ HỒNG LÂN

PHƯƠNG THỨC “HUYỀN THOẠI HÓA”
NHÂN VẬT NỮ TRONG MỘT SỐ
TÁC PHẨM VĂN HỌC
CÁCH MẠNG VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1954 - 1975
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

ThS. NGUYỄN THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI, 2017


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận này người viết đã nhận được sự giúp đỡ
và chỉ bảo tận tình của Ths. Nguyễn Thị Vân Anh – Giảng viên tổ Lí luận văn
học, các thầy cô trong tổ cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Ngữ Văn
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Tôi xin trân trọng cảm ơn cô giáo hướng dẫn cùng toàn thể các thầy
cô giáo trong khoa đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa
luận này!
Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2017
Sinh viên


THỐNG TU TỪ NGHỆ THUẬT ................................................................. 16
2.1. Sự quy chiếu các mẫu gốc của huyền thoại......................................... 16
2.1.1. Mẹ Tổ quốc .................................................................................. 16
2.1.2. Nữ anh hùng chiến trận ................................................................ 25
2.1.3. Con người bất hạnh được cứu rỗi ................................................. 31
2.2. Thủ pháp trùng điệp và khoa trương, khuyếch đại .............................. 38
2.2.1. Thủ pháp trùng điệp ..................................................................... 38
2.3. Mô típ thiện – ác đối đầu và cái kết có hậu ......................................... 46
2.3.1. Mô típ thiện ác đối đầu ................................................................. 46
2.3.2. Mô típ cái kết có hậu .................................................................... 52
KẾT LUẬN .................................................................................................. 56


TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1. Những năm gần đây, “huyền thoại” phê bình huyền thoại trở thành
mối quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu văn học. Một trong những nguyên
nhân cốt lõi là nó khẳng định được ưu thế trong việc giải mã, khám phá tác
phẩm. Khuynh hướng sáng tác huyền thoại không phải đến bây giờ mới xuất
hiện mà nó xuất hiện từ lâu và trở thành “cái nôi” của văn học, là “thể loại”
tồn tại lâu đời nhất trước khi phân rã thành những ý thức xã hội khác nhau, đã
trở thành cội nguồn, chất liệu sáng tác của mọi loại hình nghệ thuật không
riêng gì văn học. Nhà nghiên cứu Piere Brunel quan niệm văn chương, nghệ
thuật (và hiện nay là điện ảnh) có vai trò như một “phòng lưu trữ huyền
thoại”. Huyền thoại được tái sinh, bao bọc bởi văn chương. Huyền thoại lấp
lánh bí ẩn, trở thành cái nôi của văn học, vì ở huyền thoại có những tình
huống, hoàn cảnh, câu chuyện mẫu với khả năng thâm nhập, tái sinh không

“huyền thoại hóa” xem xét dưới những góc độ khác nhau thì đây vẫn còn là
một vấn đề còn nhiều khoảng trống cần được đào sâu nghiên cứu.
Huyền thoại không chỉ đơn giản là một phương thức, kĩ thuật sáng tác
mà hơn hết huyền thoại được xem như một “tiền văn bản”, một thể loại tồn tại
lâu đời nhất, một hình thức nguyên hợp sơ khai, nơi lưu giữ văn bản nhân
loại. Từ mối quan hệ giữa huyền thoại và văn học, tác phẩm văn học chính là
mảnh đất màu mỡ cho sự tham dự của huyền thoại, tư duy huyền thoại nảy
mầm biểu hiện bằng sự gia tăng, lặp đi lặp lại những cổ mẫu từ đó hình thành
nên khuynh hướng sáng tác huyền thoại đa dạng.
Từ thực tiễn trong hoạt động sáng tác và nghiên cứu văn học chúng tôi
lựa chọn đề tài “Phương thức “huyền thoại hóa” hình tượng nữ giới trong văn
học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975” hướng đến giải quyết những
luận điểm khoa học đã nêu ra.

2


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Như đã nói huyền thoại đóng vai trò như là “trạng thái đầu tiên” của cái
mà sau này sẽ được gọi là “ý thức xã hội của cộng đồng dân tộc” hoặc “liên
dân tộc”. Thực tế cho thấy nghiên cứu về huyền thoại đã có từ lâu. Khóa luận
này tìm hiểu phương thức “huyền thoại hóa” tức là nghiên cứu quá trình, cơ
chế xâm lấn của huyền thoại, tư duy huyền thoại trong văn học viết mà phạm
vi cụ thể là hình tượng nữ giới trong văn học cách mạng 1954 – 1975.
Qua khảo sát chúng tôi tìm thấy một số công trình nghiên cứu cũng đã
đề cập đến phương thức “huyền thoại hóa” trong văn học. Luận văn của Lê
Quốc Hiếu “Phương thức huyền thoại hóa trong văn xuôi Việt Nam đương
đại” (Qua một số sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn
Xuân Khánh) đã đề cập đến phương thức huyền thoại hóa trong văn học.
Luận văn đề cập đến phương thức huyền thoại hóa từ phương diện thẩm mĩ;

các nguyên tắc “huyền thoại hóa” nhân vật nữ trong một số tác phẩm văn học
cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Số lượng các tác phẩm trong giai đoạn văn học này khá nhiều nhưng tôi
chỉ đi tìm hiểu một số tác phẩm tiêu biểu. Về thơ, chúng ta có thể kể đến các
sáng tác của Tố Hữu, Lâm Thị Mĩ Dạ, Lê Anh Xuân, Dương Hương Ly… Về
truyện ngắn có thể kể đến một số tác phẩm như Mùa Lạc (Nguyễn Khải),
Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu), Rừng xà nu (Nguyễn Trung
Thành), Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê)… Tiểu thuyết có Hòn đất
(Anh Đức), truyện kí có Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi),…
4. Mục đích và nhiệm nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Phương thức “huyền thoại hóa” nhân vật nữ trong
một số tác phẩm cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975”, người viết

4


muốn tìm hiểu những ảnh hưởng của các hình tượng văn học dân gian đối với
việc xây dựng các hình tượng nhân vật trong văn học viết giai đoạn 1954 –
1975.
Hơn nữa việc thực hiện đề tài khóa luận giúp cho chúng tôi có được
những hiểu biết sâu sắc hơn đối với văn học dân gian cũng như hiện tượng
văn học mà chúng tôi đang nghiên cứu.
Đồng thời, chúng tôi cũng mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào
việc nghiên cứu hình tượng nhân vật nữ trong văn học cách mạng giai đoạn
1954 – 1975.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi sẽ tập trung làm rõ đặc điểm sau:
- Thứ nhất: Sự quy chiếu các mẫu gốc của huyền thoại


6. Đóng góp của khóa luận
- Về mặt lí luận: khóa luận này góp phần làm sáng tỏ thêm phương thức
“huyền thoại hóa” nhân vật nữ trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn
1954 – 1975.
- Về mặt thực tiễn: góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu, giúp
cho việc tìm hiểu và nghiên cứu về phương thức “huyền thoại hóa” trong văn
học thêm phong phú.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận được triển khai thành 2
chương chính:
- Chương 1: Khái quát về phê bình huyền thoại
- Chương 2: “Huyền thoại hóa” nhân vật nữ giới như một hệ thống tu
từ nghệ thuật

6


NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ PHÊ BÌNH HUYỀN THOẠI
1.1. Khái niệm “huyền thoại” và “huyền thoại hóa”
“Huyền thoại” được xác định trong thuật ngữ phương Tây bằng từ gốc
là Myth (trong cổ ngữ Hi Lạp là Muthos, tiếng Pháp: Mythe, tiếng Anh:
Myth), với cách hiểu là câu chuyện về các vị thần, các cá nhân siêu việt, các
anh hùng chiến trận và gắn liền với khuynh hướng ngợi ca. Ở Việt Nam, khái
niệm “huyền thoại” vốn gắn liền với khái niệm “thần thoại”, tức là những câu
chuyện có tính chất thần kì (thần: thần kì; thoại: chuyện kể, câu chuyện).
Từ điển văn học định nghĩa huyền thoại là "thể loại truyện ra đời sớm
nhất trong lịch sử truyện kể dân gian các dân tộc. Đó là toàn bộ những truyện

cho phép du nhập vào huyền thoại tất cả mọi loại hình tượng. Garaudy ví
huyền thoại như một hệ thống tín hiệu thứ ba. Mặc dù trong định nghĩa này
Garaudy chưa luận giải một cách thật rõ ràng về mặt khoa học, nhưng cũng
phản ánh được phần nào tính chất của huyền thoại, thậm chí đã động được
đến đặc trưng cơ bản nhất của nó. Trong cuốn Thi pháp của huyền thoại,
Meletinsky không đưa ra một định nghĩa cụ thể, song có thể thấy � lật đứa con ra đằng trước thì cây roi sắt giáng
xuống lưng. Cây sắt thứ hai quật vào trước ngực Mai, Mai vội lật đứa bé ra
đằng sau. Nó lại đánh sau lưng chị vội lật đứa bé ra đằng trước. Trận mưa cây
sắt mỗi lúc một dồn dập, không nghe thấy tiếng thét của Mai nữa. Chỉ nghe
tiếng đứa bé khóc ré lên rồi im bặt, tiếng cây sắt nện xuống hừ hự. Tnú không
chịu được bỏ gốc cây chạy ra, mấy thằng lính to béo ngã ra sân, thằng Dục
tháo chạy. Tnú không cứu được Mai, không cứu được con. Nguyễn Trung
Thành đã miêu tả sự chiến đấu kiên cường của Mai, Dít, họ thà chết chứ
không chịu khuất phục. Đó cũng chính là tinh thần chiến đấu kiên cường của
dân làng Xô-man. Tinh thần phản kháng chống lại sự áp bức bóc lột của bọn
thực dân.

51


Qua việc xây dựng các xung đột giữa ta và địch nhà văn đã cho ta thấy
sự đấu tranh chống lại của nhân dân ta. Họ không chấp nhận cái ác tồn tại trong
xã hội, không bằng lòng với nó và họ quyết tâm hành động để chống lại nó.
2.3.2. Mô típ cái kết có hậu
Trong văn học Việt Nam thường xây dựng kết thúc truyện theo mô típ
cái kết có hậu. Đặc điểm này là do sự chi phối trong quan niệm sáng tác của
nhân dân ta từ xa xưa. Trong các tác phẩm dân gian như truyện cổ tích, truyện
thần kì thường sử dụng mô típ này. Nhân vật là những con người có số phận
đau khổ, bất hạnh trải qua mọi khó khăn, thử thách cuối cùng họ cũng có
được cuộc sống hạnh phúc. Qua đó thể hiện quan niện của nhân dân: Ở hiền

sống vẫn ẩn giấu mãnh liệt trong con người chị qua hình dáng, cử chỉ, ngôn
ngữ của chị. Con người với “hai mắt hẹp và dài đưa đi đưa lại rất nhanh (...)
hàm răng khểnh của người luôn luôn ưa đùa cợt” cùng tâm lí “đôi mắt nhỏ vẫn
ánh lên những thách thức” thì không bao giờ chán sống. Đào không chịu khép
mình trong nỗi đau thầm lặng. Chị sống táo bạo và liều lĩnh bởi chị cần sống,
thèm sống. Nỗi khát thèm ấy dữ dội bùng cháy chứ không âm ỉ, bằng lặng.
Làm việc bên Huân, nhìn “đôi cánh tay cuồn cuộn thớ thịt cháy nắng, Đào cháy
lên nỗi thèm muốn một cảnh gia đình”. Đào thích Huân chưa hẳn là Đào yêu
Huân, bởi lí trí mách cô đừng hi vọng gì ở người con trai ấy. Sự hồi sinh ở đây
chính là tâm lí bền bỉ trong Đào không chịu tắt theo năm tháng.
Sự hồi sinh của cuộc sống không chỉ có ở nhân vật Đào mà còn có ở
nhân vật Huân với “những khát khao, những mơ ước đốt cháy trái tim” qua
lời ngỏ “táo bạo” của ông trung đội trưởng già phụ trách lò gạch. Sau chiến
tranh, sự sống hồi sinh khiến “khu nhà nữ công nhân rộn rịp người ra vào,
nhộn nhạo những tiếng cười, tiếng mời chào, tiếng đấm tay thùm thụp. Mảnh
đất Điện Biên trước kia là chiến trường ác liệt nhất Đông Dương, mà chỉ mấy
năm sau sức sống đã trở lại.

53


Bên cạnh sự thay đổi trong tâm hồn cảnh sống con người là sự hồi sinh
của thiên nhiên, của cơ sở vật chất. Thông qua nhân vật Đào, Nguyễn Khải đã
thể hiện một cảm hứng mới – cảm hứng về sự hồi sinh sau chiến tranh.
Chiến tranh không chỉ có bom đạn, không chỉ có chiến công mà còn có
tình yêu – những tình yêu làm cho con người ta trở nên yêu đời, đẹp đẽ hơn.
Nguyệt biết Lãm chỉ qua lời kể của chị Tính. Nguyệt là một cô gái mới rời
ghế nhà trường đi kiến thiết miền Tây, Nguyệt rất ngoan ngoãn và tích cực,
càng lớn lại càng xinh đẹp và hăng hái. Còn Lãm là một cậu thanh niên trốn
nhà đi bộ đội. Chỉ qua lời kể của chị Tính mà họ đã yêu nhau, suốt mấy năm

nghĩa hơn bởi trong họ có một niềm tin, một tình yêu chân chính. Với niềm
tin ấy con người có thể vượt qua tất cả. Họ chiến đầu vì niềm tin, phấn đấu vì
niềm tin ấy. Có lẽ, nếu không có niềm tin ấy con người không thể vượt qua
những cam go khốc liệt của chiến tranh. Sự tàn ác của chiến tranh có thể phá
hủy những thành quả lao động của con người nhưng không thể phá đi niềm
tin của con người. Nguyễn Minh Châu đã dùng hiện thực để làm nền cho cái
lãng mạn, bay bổng, đó chính là sức hấp dẫn riêng của tác phẩm. Tác phẩm đã
để lại niềm tin cho con người vào cuộc sống, vào tình yêu.
Bằng việc xây dựng những kết thúc có hậu nhà văn đã gửi gắm niềm tin
của mình vào cuộc sống, vào tương lai. Không phải đến văn học giai đoạn này
mới xuất hiện mô típ này, mà nó có trong sáng tác từ rất lâu. Qua đó, thấy được
những nét đẹp trong con người, họ luôn phấn đấu để thay đổi nó chứ không
bằng lòng chấp nhận số phận. Đồng thời thể hiện quan niệm của nhân dân về
một xã hội tốt đẹp.

55


KẾT LUẬN
Đi dọc chiều dài lịch sử dân tộc, không đâu là không thấy bóng của
người phụ nữ Việt Nam; họ hiện lên là những người đảm đang bất khuất. Qua
việc tìm hiểu và khảo sát tình hình văn học giai đoạn 1954 – 1975 ta thấy
được bút pháp “huyền thoại hóa” trong văn học giai đoạn này. Phương thức
“huyền thoại hóa” được thể hiện đậm nét thông qua hình tượng nhân vật nữ.
Sự quy chiếu của các mẫu gốc hình tượng mẹ Tổ Quốc, anh hùng chiến trận
và nhân vật bất hạnh được cứu rỗi. Nhờ vào đó bộ phận văn học giai đoạn này
đã xây dựng nên những tượng đài về người nữ anh hùng trong kháng chiến.
Họ không chỉ là những người phụ nữ giỏi việc nước mà đảm việc nhà (chị Sứ,
chị Út Tịch, mẹ Sáu...), họ gánh trên vai mình nhiệm vụ khác nhau xong
nhiệm vụ nào cũng hoàn thành một cách xuất sắc. Đó còn là hình ảnh của các

dũng cảm quên mình để hoàn thành nhiệm vụ. Họ là những con người bình
thường mà cũng vô cùng vĩ đại. Những con người mà cái chết của họ đã hóa
thân vào quê hương, đất nước, trở thành bất tử, vĩnh hằng. Thủ pháp khoa
trương cũng được sử dụng để thấy được vai trò của Đảng trong việc thay đổi
cuộc sống của con người. Lí tưởng của Đảng như một nguồn sống mới khi họ
bước vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Thủ pháp trùng điệp trong
văn học giai đoạn này cũng được sử dụng với mật độ lớn. Cho thấy sự tài hoa
trong việc khắc họa nhân vật của nhà văn. Qua thủ pháp nghệ thuật này nhân
vật hiện lên vô cùng sinh động.
Như vậy, qua việc tìm hiểu tình hình văn học cách mạng giai đoạn
1954 – 1975, ta thấy được phương thức “huyền thoại hóa” hình tượng nhân
vật nữ được sử dụng trong văn học giai đoạn này với số lượng nhiều. Đó là sự
quy chiếu của các hình tượng văn học từ xa xưa.

57


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Thái Thị Hòai An (2013), “Dấu ấn phương thức huyền thoại hóa Franz
Kafka sáng tác Phạm Thị Hoài”, Khoa học Văn hóa Du lịch, (67).

2.

Trần Thị An (2000), “Đặc trưng thể loại việc văn hóa truyền thuyết dân
gian Việt Nam, Luận án tiến sĩ Ngữ văn,Viện Văn học, Hà Nội.

3.


học Quốc gia Hà Nội.

10. Cao Việt Dũng, “Chúng ta cần huyền thoại”, />11. Anh Đức (1966), Hòn Đất, Nxb. Văn học.
12. La Mai Thi Gia, “Ý nghĩa mô tip tái sinh việc thể hiện tư tưởng chủ đề
truyền thuyết truyện cổ tích”, www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn.
13. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên (2010), Từ
điển thuật ngữ văn học, Nxb. Giáo dục.
14. Lê Minh Hà (2006), Truyện cổ viết lại, Nxb. Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.


15. Nguyễn Thái Hoàng (2014), “Không gian huyền thoại văn xuôi Việt
Nam đương đại”, Nghiên cứu văn học (514).
16. Khoa Ngữ Văn Báo chí (2007), Huyền thoại văn học, Nxb. Đại học
Quốc gia Tp Hồ Chí Minh.
17. Song Mộc, Trần Nho Thìn (2004), Thi pháp của huyền thoại (1976).
18. Trần Thị Mai Nhân, “Tìm hiểu “phương thức huyền thoại hóa” một số
tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới”, www.khoavanhoc ngonngu.edu.vn.
19. Lã Nguyên (tuyển dịch) (2012), Lí luận văn học - những vấn đề hiện đại,
Nxb. Đại học sư phạm Hà Nội, tr.128.
20. Đỗ Thị Mĩ Phương (2014) “Nhân vật mang màu sắc kì ảo truyện truyền
kì Việt Nam trung đại”, Nghiên cứu văn học, (514).
21. Lê Ngọc Tân (2001), “Huyền thoại tiểu thuyết E Zola”, Văn học nước
ngoài,(2).
22. Nguyễn Thi (2006), Người mẹ cầm súng, Nxb. Kim Đồng.
23. Trần Nho Thìn (2005), “Cách đọc huyền thoại bối cảnh lí thuyết thế kỉ
XX”, Văn hóa nghệ thuật, (6).
24. Đỗ Lai Thúy (2001), “Phương pháp phê bình huyền thoại học”, Văn học
nước ngoài, (2).
25. Trần Viết Thiện, “Huyền thoại truyện ngắn đương đại Việt Nam”,
.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status