Đổi mới tư duy văn học và đóng góp
của một số cây bút văn xuôi
Chiến thắng năm 1975 là một dấu mốc lớn trong lịch sử dân tộc. Tuy
không thật trùng khít với những mốc lịch sử, nhưng mỗi bước chuyển lớn
của lịch sử đều tạo nên những chuyển động, đều để lại những dấu ấn trong
đời sống văn học. Do vậy, có thể thấy, từ sau 1975, văn học đã có những
chuyển đổi mang ý nghĩa một sự chuẩn bị, một giai đoạn “bản lề” để đi tới
công cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc đồng bộ với sự đổi mới của đất nước
từ sau 1986. Tuy nhiên, để có được tư duy văn học mới là cả một hành
trình với nhiều “vấp váp và trả giá” (Nguyên Ngọc) với những đóng góp âm
thầm nhưng “quả quyết” của nhiều thế hệ nhà văn. Trong bài viết nhỏ này,
chúng tôi muốn nhìn lại và khẳng định đóng góp đáng trân trọng của một số
cây bút văn xuôi vào sự đổi mới tư duy văn học ở chặng đầu đổi mới văn
học.
Ngay từ trước 1975, bằng sự mẫn cảm và tài năng, một số cây bút đã
sớm nhận ra sự bất cập và khoảng cách của văn học với đời sống. Biết đó
là khoảng cách khó tránh và khó vượt trong hoàn cảnh chiến tranh, khi mà
mọi nỗ lực của văn học đang phải dồn vào mục tiêu gần như duy nhất
“chiến đấu cho quyền sống của cả dân tộc”, nhưng các nhà văn vẫn âm
thầm nuôi khát vọng, âm thầm dự cảm về một sự đổi mới tất yếu của văn
học. Nguyễn Minh Châu là một trong số ít cây bút mẫn cảm có bản lĩnh và
tài năng đó. Ngay khi đang viết những trangDấu chân người lính hào sảng,
ông đã cảm nhận khá sâu sắc sự “bất lực” của văn học. Trong hình dung
của ông hiện thực đời sống như “một cánh rừng già chưa khai phá” với biết
bao “những vấn đề còn ẩn náu”. Vậy nhưng văn học, người cầm bút lại quá
“non trẻ” và vụng dại. Ngay từ thời điểm đó, Nguyễn Minh Châu đã lặng lẽ
suy ngẫm và đúc kết được những điều sau này đã trở thành những vấn đề
thiết cốt của đổi mới tư duy nghệ thuật, đổi mới văn học. Theo ông, người
cầm bút không những không được phép biến những “cánh rừng già của đời
(1)
. Bởi thế, giai đoạn này phần lớn nhà văn vẫn tiếp tục khai thác
đề tài chiến tranh
(2)
. Dẫu đã có đôi cuốn có những sắc thái mới ví như Đất
trắng (tập 1) của Nguyễn Trọng Oánh khi phản ánh những sự nghiệt ngã,
mất mát của chiến tranh, nhưng hầu hết những sáng tác này vẫn trượt theo
“quán tính”, vẫn chủ yếu ghi lại “những ấn tượng còn nóng hổi trong những
diễn biến và từng trải được trình bày chưa kịp qua suy ngẫm và sàng lọc,
có thể còn chưa đủ độ lắng nhưng lại mang tính chất sinh động kịp thời”
(3)
.
Trong khi nhiều cây bút vẫn lúng túng trong hướng tiếp cận những phạm vi
hiện thực mới của đời sống, bằng sự nhạy cảm của mình Nguyễn Khải, đặc
biệt Nguyễn Mạnh Tuấn đã kịp thời hòa nhập vào dòng chảy của đời sống,
kịp thời nắm bắt những mảng hiện thực mới “tươi ròng” của miền Nam sau
ngày giải phóng, thống nhất đất nước. Nếu như trong Gặp gỡ cuối năm,
Nguyễn Khải đi sâu vào vấn đề sự lựa chọn của mỗi cá nhân để hòa nhập
và thích ứng với thời thế, với cuộc sống hiện tại thì ở Cha và con và… nhà
văn lại chú tâm tới vấn đề tôn giáo và dân tộc, tôn giáo và chủ nghĩa xã hội,
tôn giáo và sự vận động để tồn tại và sự hiện hữu với ý nghĩa tích cực nhất
trong đời sống tinh thần của dân tộc. Ở giai đoạn này, Nguyễn Mạnh Tuấn
là cây bút văn xuôi thu hút được sự chú ý của người đọc. Những vấn đề
nhà văn quan tâm khai thác thực sự là những vấn đề cấp thiết của đời
sống, nó quan hệ đến hàng vạn, hàng triệu người dân miền Nam sau chiến
tranh. Xoay quanh xung đột của một gia đình nửa thành viên là cách mạng,
nửa kia là tư sản sau giải phóng, Những khoảng cách còn lại đã đề cập đến
một vấn đề nhức nhối của đời sống dân tộc – bi kịch và nỗi đau mới của
mỗi gia đình, của đất nước sau chiến tranh. Vừa ngất ngây hạnh phúc
trong niềm vui đoàn tụ ngắn ngủi, con người lại lập tức rơi vào những xung
Nếu như trên bề nổi có thể dễ dàng nhận thấy những chuyển đổi của
văn học trong việc chiếm lĩnh những chất liệu hiện thực mới thì từ trong
chiều sâu của nó cũng có thể nhận thấy những dấu hiệu chuyển động đáng
kể. Năm 1978 với bài Viết về chiến tranh
(4)
, Nguyễn Minh Châu là người
đầu tiên đã mạnh dạn “khuấy động” không khí tĩnh lặng của văn học viết về
chiến tranh trong suốt nhiều thập kỷ. Nhìn lại văn học viết về chiến tranh
ông không khỏi băn khoăn và đặt câu hỏi: phải viết về chiến tranh như thế
nào khi mà “tất cả những vấn đề quy luật của chiến tranh đã phát triển trọn
vẹn, những số phận và tính cách nhân vật cũng đã phơi bày trọn vẹn” và
câu trả lời của ông là: “phải viết về con người”, viết về con người với tất cả
những mặt tính cách đa dạng bấy lâu vẫn phải “tạm thời giấu mình trên
trang sách”. Thật tâm huyết ông đặt câu hỏi: “hình như trong ý niệm sâu xa
của người Việt Nam chúng ta, hiện thực văn học có khi không phải là cái
hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang hy vọng, đang
mơ ước… Những người cầm bút chúng ta vô cùng cảm thông với dân tộc
mình nhưng chẳng lẽ chúng ta có thể làm yên tâm mọi người bằng cách
mô tả cái hiện thực ước mơ?”. Từ ý tưởng sâu sắc trong bài viết này của
Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến đã phát triển thành luận điểm về một
“chủ nghĩa hiện thực phải đạo” từng làm xôn xao dư luận một thời đồng
thời cũng mở đầu và kích thích những suy nghĩ tìm tòi cho những người
cầm bút tìm cách đổi mới tư duy văn học. Cùng với suy ngẫm, Nguyễn
Minh Châu lặng lẽ sáng tác, gửi gắm qua mỗi tác phẩm những ý tưởng đổi
mới của mình. Từ những truyện ngắn Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến
tàu tốc hành
(5)
, càng ngày Nguyễn Minh Châu càng cảm nhận rõ hơn nhu
cầu và sự chuyển động tất yếu của cuộc sống và của nền văn học. Ông đã
và thành tựu của văn học đổi mới. Nguyễn Minh Châu quả là nhà văn “mở
đường tinh anh và tài năng”, “người dẫn đường tận tụy và dũng cảm”,
“người đã đi được xa nhất”
(7)
trong cao trào đổi mới văn học.
Sau chặng đầu dò tìm, chuẩn bị, từ sau 1986 văn học bước vào một
chặng mới trong hành trình đổi mới. Sự thành công của Đại hội Đảng lần
thứ VI, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị và chủ trương “cởi trói” cho văn học
nghệ thuật, cuộc gặp gỡ “lịch sử” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với
đông đảo văn nghệ sĩ trong hai ngày của tháng 10/1987, không khí cởi mở
của đời sống xã hội, quan hệ giao lưu ngày càng rộng rãi với các nước
trong khu vực và trên toàn thế giới… đó là bối cảnh thuận lợi thúc đẩy, tạo
nên sự chuyển đổi mạnh mẽ và sâu sắc của văn học. Sau sự chuyển đổi về
hướng tiếp cận, lựa chọn chất liệu hiện thực, ở giai đoạn này vấn đề đặt ra
với văn học là xử lý chất liệu hiện thực như thế nào? Từ tư duy sử thi với
một khoảng cách khó vượt giữa nhà văn và đối tượng mà nhà nghiên cứu
nổi tiếng Bakhtin gọi là “khoảng cách sử thi”, văn học chuyển sang kiểu tư
duy mới: suy ngẫm về hiện thực, suy ngẫm về cái đương đại đang diễn ra,
“cái đương đại chưa hoàn thành”. Cùng với kiểu tư duy văn học mới, hiện
đại này đã xuất hiện một thế hệ nhà văn mới. Họ vừa là sản phẩm của thời
đại văn học đổi mới, vừa góp phần đáng kể tạo nên sự đổi mới tư duy và
thành tựu của văn học đổi mới. Một số cây bút thuộc thế hệ này đã tạo
được những “đột biến” trong đời sống văn học. Sự xuất hiện của Nguyễn
Huy Thiệp vào năm 1987 đã thực sự gây chấn động đời sống văn học và
rất nhanh chóng đã trở thành một hiện tượng văn học. Ngay từ những sáng
tác đầu tay Nguyễn Huy Thiệp đã khiến công chúng phải “sửng sốt”. Tướng
về hưu với lối viết mới lạ đã mang đến cho văn học một chất mới “chất kiêu
bạc, tàn nhẫn, cay đắng”, một “hơi gió lạ” - chủ đề cô đơn, tình trạng con
người cô đơn, lạc loài ngay giữa gia đình, người thân và đồng loại. Nói như
Và đó cũng là trọng trách của nhà văn, những người không phải “nói ra
chân lý” mà phải “thức tỉnh ý thức hướng về chân lý hoặc chí ít cũng là thức
tỉnh tình cảm về phẩm giá con người trong họ”. Làm được như vậy là góp
phần khắc phục tình trạng “tráng một lớp men trữ tình hơi dầy” (Nguyễn
Minh Châu) của văn học trước đó và đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của
thời đại, của công chúng “đang cần những cuốn sách tự vấn, những cuốn
sách giúp họ tự vấn, những cuốn sách giúp họ nhận thức lại mình”. Chính
điều đó đã tạo nên chất “muối” trong những trang văn của Nguyễn Huy
Thiệp – cái mà văn học Việt Nam trước đó còn rất thiếu. Bởi thế, không
phải ngẫu nhiên mà đọc văn Nguyễn Huy Thiệp, sau cái thô tháp, “nhếch
nhác” nhiều khi đến đốn mạt, hèn kém của con người là cảm nhận về một
sự tê tái, một nỗi đau và lắng lại là một dư vị buồn – cái dư vị khá đặc trưng
của văn học đổi mới. Và không phải ngẫu nhiên Nguyễn Huy Thiệp được
coi là “cả một sự phá cách” trong văn học. Có thể có những “tếu táo”, “cực
đoan” và cả những “khoảng trống”, “những lỗi lầm”, “ngộ nhận” như chính
Nguyễn Huy Thiệp đã tự vấn về các nhà văn và về chính mình, nhưng từ
trong sâu xa, Nguyễn Huy Thiệp đã đến với văn chương bằng một quan
niệm riêng được đúc kết từ chính những suy nghiệm của nhà văn và chắc
chắn nó có tác động thức tỉnh không chỉ với người sáng tác mà với cả
người thưởng thức, tiếp nhận. Và đó cũng là đóng góp mang ý nghĩa một
chặng tiếp sức quan trọng của Nguyễn Huy Thiệp vào hành trình đổi mới tư
duy văn học.
Không thực sự tạo nên những tranh luận“dữ dội” và dai dẳng như
Nguyễn Huy Thiệp, nhưng sự xuất hiện của Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến
tranh (lần in đầu có tên là Thân phận của tình yêu), cũng đã gây nên sự
đánh giá trái chiều và không ít gay gắt. Chọn một hình thức cấu trúc độc
đáo “tiểu thuyết trong tiểu thuyết”: quá trình một nhà văn cấp phường – vốn
là binh nhì trong chiến tranh – viết một cuốn tiểu thuyết về chiến tranh bằng
sự chi phối của những ý tưởng và nguyên tắc khá “lập dị” của một người
số phận con người và thể hiện chiến tranh qua tâm trạng của con người,
Bảo Ninh đã đi đến đáy cùng của hiện thực chiến tranh. Chiến tranh không
chỉ là bom đạn, chết chóc, nghiệt ngã, tan nát mà đáng buồn hơn chiến
tranh còn hủy diệt nhân tính, nhân tình. Bởi thế, khi chiến tranh kết thúc
“Chính nghĩa đã thắng, lòng nhân đã thắng nhưng cái ác, sự chết chóc và
bạo lực phi nhân cũng đã thắng”
(12)
. Hòa bình đến, những người sống sót
trở về luôn cảm nhận mình như “bị mắc kẹt giữa cuộc đời”, càng ngày càng
thấm thía hơn nỗi buồn chiến tranh, “nỗi buồn được sống sót”. Những lời
cảnh tỉnh “hãy coi chừng mà xem lại nhân tính”, “những tổn thất, những mất
mát có thể bù đắp, các vết thương sẽ lành, đau khổ sẽ hóa thạch nhưng
nỗi buồn về cuộc chiến tranh thì càng ngày càng thấm thía hơn, sẽ không
bao giờ nguôi”
(13)
… luôn là những thông điệp nghệ thuật đầy ám ảnh, đậm
đặc trên từng trang Nỗi buồn chiến tranh. Bảo Ninh đã mang đến cho văn
học “nỗi buồn” với những giá trị nhân văn sâu sắc – một trong những điều
“cấm kỵ” của văn chương trước đó – và mở ra một rẽ ngả cho văn học viết
về chiến tranh. Quả là sau Nỗi buồn chiến tranh, người ta sẽ không thể viết
về chiến tranh như trước được nữa…Cùng với những đổi mới trong cảm
hứng nhân văn, Bảo Ninh cũng có những đóng góp quan trọng vào tư duy
thể loại tiểu thuyết. Quan niệm mới về hiện thực, về con người là cơ sở để
hình thành một thế giới nhân vật mới mẻ. Đặc trưng trong thế giới nhân vật
ấy là kiểu loại nhân vật bị chấn thương – những con người đã bị chiến
tranh chà nát, với những chấn thương không thể chữa lành, luôn bị ám ảnh
bởi cô đơn, không còn khả năng hòa nhập với cộng đồng. Việc xây dựng
thành công những nhân vật ghép mảnh – hiện thực hóa, hình tượng hóa
quan niệm của nhà văn về con người vốn phức tạp, đa nhân cách, nhưng
đã bị vỡ vụn, bị tha hóa nhân cách bởi chiến tranh, đang gắng gượng vật
hoặc cái ác, nhưng “cho dù viết về gì thì giá trị lớn nhất mỗi nhà văn phải
tạo ra là giá trị thẩm mỹ”, phải hướng tới cái đẹp, cái chân, cái thiện. Chính
bởi thế, Tạ Duy Anh “là người mạnh mẽ kêu gọi từ bỏ bạo lực”, cái xấu và
cái ác; kiên quyết “chống lại cái ác dưới mọi hình thức”. Và, cách thức anh
tâm đắc nhất là trực diện “đối mặt”, “giải phẫu”, “tấn công” vào cái ác, “mô
tả kỹ lưỡng, sống động về nó để mọi người dễ bề nhận ra”, “ghê sợ và kinh
tởm” nó. Nhà văn luôn “đi mấp mé ở bên bờ vực của cái ác và cái thiện, với
hy vọng có thể soi rọi nó ở những phần khuất lấp ít người chạm tới”. Xu
hướng của Tạ Duy Anh là đi sâu khai thác và miêu tả những mảng tối,
những phần chưa hoàn thiện của hiện thực đời sống. Viết về nông thôn
(giai đoạn đầu) trang viết của Tạ Duy Anh đầy ưu tư, trăn trở với số phận
của những người nông dân ở một miền quê hẻo lánh “lầy lội, tăm tối, thấm
đẫm không khí thù hận”, đầy ắp những oán thù truyền kiếp, những kỷ niệm
buồn đau, ẩn giấu trong nó biết bao hiểm họa. Cái làng Đồng lúc nào cũng
ngột ngạt trong những mối quan hệ chằng chịt, phức tạp bị chi phối bởi
những oán thù, định kiến và những cuộc đời không được lựa chọn ngay cả
quyền sống cho chính mình. Mỗi trang viết của Tạ Duy Anh da diết cảm
giác của những hồi ức đau đáu, nhức nhối, những “vò xé” không ngừng. Và
từ đó, khát vọng có thể bước qua những định kiến chật hẹp, trói buộc,
“những cấm đoán phi lý và phi nhân tính được nhân danh những điều
thiêng liêng”, có thể “bước qua lời nguyền”.
Viết về đời sống thành thị, mỗi tác phẩm của Tạ Duy Anh như một “lát
cắt” từ cái “bố cục hoàn hảo” của một thời hiện đại. Đi tìm nhân vật với
những ám ảnh nặng nề từ bức tranh hiện thực ngột ngạt của quyền lực, cái
chết, sự đồi bại…đẩy nhân vật đến đỉnh điểm của bi kịch. Thiên thần sám
hối, đã nói được một cách vừa nghệ thuật, vừa trần tục những điều gai góc
nhức nhối nhất của xã hội hiện đại: sự băng hoại đạo đức, thói vụ lợi ích kỷ
tàn nhẫn của con người. Tác phẩm đã “phơi bày” đến cùng và thực sự đã
có sức “đánh động”, “thức tỉnh” mạnh mẽ. Chọn phản ánh cuộc sống từ
Anh có cách nhìn thẳng thắn; không khoan nhượng với tất cả những sai
lầm, những mặt trái, tiêu cực. Tuy nhiên, nhà văn luôn đặt tất cả nhân vật
của mình trong mối quan hệ với lịch sử, thời đại để xem xét, đánh giá và có
xu hướng cắt nghĩa, lý giải mọi sai lầm đã qua thuộc về những hạn chế
không tránh khỏi của lịch sử. Chính nhờ thế, các nhân vật của Tạ Duy Anh
khi đã trải qua hết thăng trầm, biến cố của một đời thường có được sự bình
tâm, chiêm nghiệm, nhìn nhận lại tất cả. Điều độc giả nhận được từ tác
phẩm của Tạ Duy Anh, do vậy là những chiêm nghiệm sâu xa, thấm thía,
đậm tính nhân văn về cuộc đời và thời cuộc. Và từ đó, là những bài học
nhân văn sâu sắc: “hãy tránh sự tái diễn tương tự bởi vì lịch sử luôn có
nguy cơ lặp lại” và hãy biết “đòi cho con người cuộc sống mà họ xứng đáng
được hưởng”. Tạ Duy Anh đã mang đến một cách nhìn, cách đánh giá và
cách lý giải mới về hiện thực, góp vào sự đổi mới của tư duy văn học.
Trở lên chỉ là đôi nét phác thảo về quá trình đổi mới tư duy văn học từ
sau 1975 và đóng góp của một số cây bút văn xuôi vào quá trình hình
thành và đổi mới tư duy văn học đó. Thực tế, để hình thành tư duy văn học
mới là cả một quá trình lâu dài, có sự kế thừa của giai đoạn trước và
những tiếp diễn, tiếp nối. Ở đó là sự đóng góp bền bỉ, rất đáng trân trọng
của nhiều thế hệ nhà văn, bằng cả lập thuyết và thực tiễn sáng tác, là sự
đóng góp của cả các nhà sáng tác và lý luận phê bình. Rất cần thiết một sự
tổng kết thấu đáo hệ thống, để từ đó rút ra được những bài học kinh
nghiệm nghệ thuật quý báu cho sự phát triển của văn học dân tộc.