Bệnh da tăng sắc tố và các phương pháp phòng tránh - Pdf 19

Bệnh da tăng sắc tố và các phương pháp
phòng tránh

Các bệnh có biểu hiện tăng sắc tố ở da bao gồm một số bệnh có căn nguyên di
truyền hay bẩm sinh, do rối loạn chuyển hoá, nguyên nhân do nội tiết, do hoá
chất hoặc thuốc, do dinh dưỡng, yếu tố vật lý, sau nhiễm khuẩn hay viêm, các
khối u sắc tố và các nguyên nhân khác.
1. Bệnh da tăng sắc tố (hyperpigmentation)
Các bệnh có biểu hiện tăng sắc tố ở da bao gồm một số bệnh có căn nguyên di
truyền hay bẩm sinh, do rối loạn chuyển hoá, nguyên nhân do nội tiết, do hoá chất
hoặc thuốc, do dinh dưỡng, yếu tố vật lý, sau nhiễm khuẩn hay viêm, các khối u
sắc tố và các nguyên nhân khác.
Di truyền hoặc bẩm sinh
 Hội chứng LEOPARD
- L (Lentigines): Nốt ruồi
- E (Electrocardiographic abnormalities): Bất thường về điện tim
- O (Ocular-hypestelorism): Hai mắt cách xa nhau
- P (Pulmonary stenosis): Hẹp động mạch phổi
- A (Abnormal genitalia): Bất thường bộ phận sinh dục
- R (Retardation of growth): Phát triển chậm
- D (Deafness): Điếc
 Hội chứng Peutz- Jeghers: Đây là một rối loạn do nhiễm sắc thể, có các
biểu hiện bao gồm nhiều nốt ruồi ở trên môi dưới và polyp dạ dày ruột. Các
mảng tăng sắc tố xuất hiện từ khi sinh ra hoặc còn nhỏ và các thương tổn
trên da có thể dần dần biến mất, nhưng các thương tổn trong miệng thì
không.
 Tàn nhang: Tàn nhang là những đốm màu nâu hoặc cafê sữa. Các đốm này
rải rác màu nâu, kích thước thường nhỏ hơn 0,5 cm, hay xuất hiện ở những
vùng tiếp xúc ánh sáng mặt trời, thường xuất hiện trước 3 tuổi. Nó có biểu
hiện sẫm màu ngay. Nguyên nhân có thể là do di truyền trội trên nhễm sắc
thể. Số lượng tế bào sắc tố thì bình thường nhưng chúng hoạt động mạnh

tổn. 1loại lan rộng được gọi là rối loạn sắc tố toàn thể và 1 loại chỉ bị ở các
chi được gọi là rối loạn sắc tố đối xứng. Trong cả hai trường hợp đều có các
mảng tăng hay giảm sắc tố với các kích thước và hình dạng khác nhau. Mô
học chỉ rõ sự tăng sắc tố lớp đáy không kìm hãm được (dầm dề).
 Bớt Ota: Sự tăng sắc tố thành chấm lốm đốm gồm những điểm màu xanh
hoặc nâu xuất hiện trong thời kỳ trẻ nhỏ hay thanh niên, ở nữ hay gặp gấp 5
lần ở nam. Nó thường ở 1 bên và hay bị ở mắt và khu vực da ở xung quanh
chi phối bởi nhánh 1 và 2 của thần kinh số 3. Rối loạn sắc tố ở mắt gặp
trong 63% các trường hợp. Sinh thiết da cho thấy các tế bào sắc tố thượng
bì lưỡng cực hay hình sao ở lớp trung bì võng. Bệnh kéo dài suốt đời mà
không bao giờ tự thuyên giảm.
 Bớt Ito: Đây 1 là một biến thể của bớt Ota nhưng vùng da bị ảnh hưởng
được chi phối bởi đám rối thần kinh cánh tay và thần kinh thượng đòn.
 Bớt Mông cổ: sự tăng sắc tố màu xanh đen xuất hiện ngay sau khi đẻ,
thường gặp trên 90% ở chủng tộc châu Á, ít gặp hơn ở người da đen và
dưới 10% ở người da trắng. Nó luôn luôn xuất hiện ở da vùng thắt lưng
cùng hoặc ở mông. Các thương tổn thành mảng với ranh giới không rõ,
kích thước từ vài cm hoặc đôi khi rất lớn. Nó thường mất đi trong vòng vài
năm.
 Nhiễm sắc tố dầm dề: đây là một bệnh da thần kinh di truyền trội trên
nhiễm sắc thể X, thường xuất hiện ngay sau khi đẻ. Bệnh ảnh hưởng trực
tiếp đến nữ giới và gây chết người ở nam giới. Có 3 giai đoạn tiến triển
o - Giai đoạn bọng nước mụn nước: xuất hiện khi đẻ hoặc sau đó 2
tuần
o - Giai đoạn hạt cơm: Có thể xuất hiện từ tuần thứ 2 đến tuần thứ 6
o - Giai đoạn nhiễm sắc tố: Từ tuần thứ 12 đến tuần 36. Thông thường
có thể thấy cả 3 giai đoạn nhưng có tới 14% chỉ xuất hiện giai đoạn
tăng sắc tố với các mảng màu nâu bẩn, màu sắc ngày càng tăng cho
đến 2 tuổi và sau đó giảm dần. Các thay đổi ở tóc, móng và mắt cũng
đã được mô tả. Chậm phát triển tinh thần.

hở.
Dinh dưỡng
Rối loạn dinh dưỡng gây tăng sắc tố da, nguyên nhân hàng đầu phải kể đến thiếu
vitamin A, vitamin B12, vitamin PP, biểu hiện chủ yếu gặp ở những vùng hở.
Yếu tố vật lý
Do các yếu tố vật lý như cháy nắng, rám nắng ở những vùng hở bộc lộ với ánh
sáng mặt trời mà không được bảo vệ.
Viêm hay nhiễm khuẩn
Có thể tăng sắc tố da sau một viêm cấp tính hay mạn tính, tăng sắc tố có thể đơn
thuần khu trú ở lớp thượng bì, cũng có khi ở cả lớp trung bì là do đại thực bào ăn
sắc tố sau đó khu trú ở trung bì nông.
Có thể tăng sắc tố do một bệnh nhiễm nấm như lang ben.
Khối u
Các bớt sắc tố, các đám da dày tăng tiết chất bã và tăng sắc tố ở người trung tuổi,
ở mặt, ở trên mình hay các u tế bào sắc tố (Lentigo maligna-Melanoma).
Nguyên nhân khác
Tăng sắc tố ở một số bệnh hệ thống, bệnh nhiễm khuẩn mạn tính (lao, sốt rét),
Lymphoma, Acanthosis– Nigricans, xơ cứng bì, suy thận….
2. Các giải pháp điều trị bệnh da tăng sắc tố
A. Điều trị nguyên nhân
 - Di truyền ( Đột biến gen ) à sửa gen
 - Điều chỉnh rối loạn chuyển hóa
 - Điều hòa nội tiết ( sau đẻ, do uống thuốc tránh thai, rám má )
 - Không dùng hóa chất hay thuốc gây tăng sắc tố.
 - Bổ sung các chất dinh dưỡng như : vitamin (PP, 3B, A )
 - Yếu tố vật lý (bảo vệ khi ra nắng ).
 - Nhiễm trùng: dùng kháng sinh để diệt vi khuẩn hay nấm
 - Bớt sắc tố hay u loại bỏ bằng phẫu thuật, laser, hóa chất
B. Điều trị chiệu trứng
- Lý tưởng trung hòa sắc tố melanin: Hiện tại chưa có chất nào có thể trung hòa

Hydroquinone tăng vận chuyển melanin khỏi TB sắc tố. Các nhà dược lý cho rằng
Hydroquinone cũng có thể ngăn chặn quá trình hình thành melanin. Không giống
monobenzen, Hydroquinone không gây ra sự phá hủy TB sắc tố, cũng như không
làm mất sắc tố vĩnh viễn. Sự tẩy màu có thể xảy ra trong 1 - 4 tháng, khi đó
melanin hiện hữu bị mất đi cùng với sự lột da, còn melanin mới được hình thành
bị thải ra nhanh hơn. Quá trình làm mất sắc tố thường kéo dài từ 2 - 6 tháng sau
khi không tiếp tục trị liệu bằng Hydroquinone.

Hình 2. Cơ chế tác dụng làm giảm sắc tố da của Hydroquinone
Ngoài ra Hydroquinone còn làm rối loạn hô hấp TB sắc tố dẫn đến cung cấp năng
lượng cho hoạt động tế bào bị ảnh hưởng như sơ đồ hình dưới.

Hình 3. Hydroquinone ảnh hưởng cung cấp năng lượng cho TB sắc tố
*Chỉ định, chống chỉ định và tác dụng không mong muốn
- Chỉ định: trong các bệnh da t¨ng s¾c tè nh: tàn nhang, rám má, xạm da
- Tác dụng không mong muốn:
 + Viêm da tiếp xúc dị ứng.
 + Viêm da tiếp xúc kích ứng.
 + Khô da.
 + Nếu dùng lâu dài có thể làm cho da trở thành màu nâu xám.
- Chống chỉ định và thận trọng khi dùng Hydroquinone
 + Không bôi Hydroquinone gần mắt, da bị xây xước, cháy nắng, da nhiễm
khuẩn, không được dùng đồng thời với thuốc làm rụng lông.
 + Để hạn chế tác dụng không mong muốn của Hydroquinone trước khi bôi
thuốc vào vùng da định điều trị, nên bôi thử vào 1 vùng da bình thường bất
kỳ (thường là cẳng tay trước hay sau lưng), nếu không thấy có phản ứng gì
mới chính thức bôi thuốc.

- Nguồn gốc:
+ Cơ thể chúng ta không tự tổng hợp được vitamin A, mà phải lấy từ bên ngoài
vào qua hấp thu ở đường tiêu hóa dưới dạng vitamin A hoàn chỉnh. Vitamin A có
nhiều trong dầu gan cá (nhất là cá thu) hay duới dạng tiền vitamin như các caroten
(có nhiều trong gấc, bí đao, cà rốt….) sau đó thủy phân thành vitamin A. Dạng
aldehyt và dạng axit chỉ xuất hiện trong cơ thể trong quá trình chuyển hóa vitamin
A diễn ra. Axit Retinoic là chất tổng hợp được đưa vào cơ thể bằng đường uống
hoặc bôi. Con người đã tổng hợp rất nhiều axit Retinoic và gồm 3 thế hệ, thế hệ 1
và 2 đã có trên thị trường, còn thế hệ 3 đang trong giai đoạn thử nghiệm.
+ Các axit Retinoic dùng tại chỗ hiện tại chủ yếu là ở thế hệ 1: tretinoin,
isotretinoin, thuốc bôi có nồng độ từ 0,01% đến 0,1%. Nồng độ thấp 0,01% axit
Retinoic được coi là các dạng mỹ phẩm. nồng độ 0,05% thường dùng để điều trị
bệnh da tăng sắc tố.
*Dược động học của axit Retinoic
- Axit Retinoic bôi trên da làm gián đoạn sự vận chuyển những hạt sắc tố melanin
đã được hình thành trong tế bào sắc tố sang tế bào tạo sừng, nhất là TB sừng lớp
đáy và cận đáy góp phần làm giảm sắc tố da.
- Axit Retinoic còn có thể ngăn cản một phần các hạt melanin được hình thành
trong TB sắc tố, chuyển sang các đại thực bào ở trung bì. Hình 5. Cơ chế giảm sắc tố da của axit Retinoic
*Chỉ định, chống chỉ định, tác dụng không mong muốn của axit Retinoic
- Chỉ định:

của tia tử ngoại là da. Có nhiều bệnh ngoài da liên quan đến ánh nắng kể cả các
loại ung thư da. Kem chống nắng vừa có tác dụng hấp thu phần lớn các tia tử
ngoại, vừa phản xạ lại ánh sáng trắng góp phần bảo vệ da. Kem chống nắng
thường được dùng để bảo vệ da cho những ai phải bộc lộ nhiều với ánh nắng như
các vận động viên chơi các môn thể thao ngoài trời, những người tắm nắng, công
nhân ngoài giàn khoan… Ngoài ra nó còn được dùng phối hợp với một số thuốc
bôi khác để điều trị một số bệnh, trong đó có bệnh da t¨ng sắc tố.
Ví dụ: Spectra BAN Ultra 28.
Hoạt chất: Butyl methoxydibenzoylme thone:
Hấp thụ tia cực tím A có bước sóng 320 – 400 nm.
Hoạt chất: Padimate O hấp thụ tia cực tím B có bước sóng 290 - 320 nm và có tác
dụng gián tiếp đến sự giảm sắc tố của da.
- Laser (Hồng ngọc hay YAG) à Diệt tế bào sắc tố cả trung bì và thượng bì nhưng
có một số trường hợp gây ra hiện tượng pháo hoa (chỗ trắng chỗ đen).
- Siêu mài da làm cho các tế bào sừng chứa các hạt melanin và các bản sừng bong
ra, do vậy làm giảm sắc tố da.
C. Laser trong điều trị một số bệnh da tăng sắc tố
Trong những năm gần đõy dựng laser trong điều trị bệnh da tăng sắc tố đó cho kết
quả khả quan. Theo lý thuyết cuả Anderson và Parrish các sắc tố da có thể bị phá
hủy một cách chọn lọc bằng các xung ánh sáng với bước sóng thích hợp và độ dài
cuả xung đủ ngắn. Cũng theo lý thuyết này đốt nóng sắc tố da bằng tia laser có
thời gian lâu hơn thời gian tỏa nhiệt, thì nhiệt sẽ lan tỏa gây ra thương tổn nhiệt
cho các mô và như vậy làm tăng nguy cơ gây ra sẹo. Ngược lại nếu sử dụng tia
laser đơn sắc có độ dài của xung ngắn hơn thời gian tỏa nhiệt thì sẽ không xảy ra
hiện tượng khuyếch tán nhiệt và như vậy tổn thương sẽ chỉ khu trú ở thượng bì và
sẽ không tạo ra sẹo. Melanin hấp thu các bước sóng cực tím, ánh sáng trắng, các
sóng gần với tia cực tím cho tới bước sóng 1000nm do vậy các bước sóng này có
thể được sử dụng để ly giải mô bằng phương pháp quang nhiệt chọn lọc. Các nhà
khoa học đã biết được thời gian tỏa nhiệt của các hạt melanin là vào khoảng từ 50-
500 nano giây. Vì vậy laser có bước sóng mà sắc tố melanin hấp thu mạnh và có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status