Báo cáo nghiên cứu
khoa học: "Ngôn ngữ tiểu
phẩm báo chí của
Ngô Tất Tố"
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008 65
NGÔN NGữ TIểU PHẩM BáO CHí CủA NGÔ TấT Tố
Nguyễn Hoài Nguyên
(a)
Tóm tắt. Tiểu phẩm báo chí của Ngô Tất Tố mỗi bài một kiểu, không có sự trùng
lặp và tẻ nhạt, ngợc lại luôn khơi gợi sự hứng thú ở ngời đọc. Ngôn ngữ tiểu phẩm báo
chí của ông vừa có cái uyên thâm, uyên bác, vừa có cái mộc mạc bình dân, vừa có cái
thâm trầm của lối văn cử nghiệp, vừa có cái hơi thở nồng nàn của dân tộc, thời đại. Bài
viết này, ở một mức độ nhất định chứng tỏ những nét đặc sắc trong ngôn ngữ tiểu phẩm
báo chí của Ngô Tất Tố.
thú ở ngời đọc. Qua các tiểu phẩm, ta
dễ dàng nhận ra tác giả là một tài năng
đa dạng, độc đáo, một ngòi bút hết sức
linh hoạt và uyển chuyển khi thâm
thúy sắc sảo, khi dứt khoát đanh thép,
khi thì hài hớc và dí dỏm, khi thì hồn
hậu và khỏe khoắn. Tiểu phẩm báo chí
của ông là một phòng triển lãm những
bức chân dung đợc phác thảo theo kiểu
biếm họa giai cấp phong kiến thống trị
và những kiểu ngời điển hình trong xã
hội cũ bằng một thứ ngôn ngữ đa dạng,
linh hoạt, nhiều màu sắc. Có thể khẳng
định rằng, thủ pháp châm biếm trong
tiểu phẩm báo chí Ngô Tất Tố có sự kết
hợp giữa cái thâm thúy của một trí thức
uyên thâm với cái hồn hậu, lạc quan,
khỏe khoắn giàu tinh thần chiến đấu
của văn học dân gian. Do đó, ngôn ngữ
tiểu phẩm của ông vừa có cái uyên
thâm, bác học, vừa có cái mộc mạc, bình
dân, vừa có cái thâm trầm của lối văn
cử nghiệp, vừa có cái hơi thở nồng nàn
của dân tộc, thời đại. Bài viết này, ở
một mức độ nhất định, đi sâu phân tích
những nét đặc sắc trong ngôn ngữ tiểu
phẩm báo chí Ngô Tât Tố.
2. Đặc sắc ngôn ngữ tiểu phẩm
báo chí của Ngô Tất Tố
2.1. Sử dụng linh hoạt vốn từ vựng
khả năng tri nhận mới về nghĩa một
cách tự do hơn. Nhờ đó, ngoài việc biểu
thị chính xác các khái niệm, nghĩa của
từ Hán Việt có thể phát triển theo t
duy liên tởng của ngời Việt, làm nảy
sinh hàng loạt các vấn đề thú vị trong
tiếng Việt nh các hiện tợng đồng âm,
đồng nghĩa làm phong phú vốn từ
tiếng Việt cả trong sử dụng.
Nhà nho Ngô Tất Tố dĩ nhiên thấy
đợc tiềm năng to lớn của từ Hán Việt
và ông đã khai thác và sử dụng chúng
một cách dày đặc trong các tác phẩm.
Cùng viết tiểu phẩm báo chí để châm
biếm, đả kích cái xấu, cái lạc hậu nhng
nếu Hồ Chí Minh chủ trơng khai thác
lớp từ thuần Việt thì Ngô Tất Tố lại chủ
yếu sử dụng lớp từ Hán Việt. Qua cách
sử dụng của Ngô Tất Tố, các từ Hán
Việt đã tạo đợc những liên tởng bất
ngờ, thú vị, những hàm nghĩa tinh tế
làm bật lên tiếng cời châm biếm sâu
cay. Chẳng hạn, trong tiểu phẩm Giết
ngời cớp của, ông viết: Một số rất lớn
cụ lang, ông lang, chú lang, anh lang
kia đều là tổ s, thánh s, tiên s và kỉ
s của nghề bịp [7, tr.156]. Trớ trêu
thay, những kẻ vốn là thầy đồ dốt, là
anh chàng thi trợt bằng tiểu học, là
đứa vô nghề nghiệp, là những bọn chữ
trong các nơi thành thị, những công sở,
những biệt thự, những lâu đài kiến trúc
kinh phí hàng năm kể vạn, kể triệu [7,
tr.336]. Chỉ một đoạn văn ngắn mà có
hàng loạt từ Hán Việt nh tài chủ,
nghiệp chủ, điền chủ, danh công, đại
thơng, công ti, vĩ đại, cổ phần, thơng
phiếu, nghị trờng, quốc tế, địa vị, cao
quý, cảnh tợng, kiến trúc, kinh phí,
vạn, triệu. Đằng sau cái vẻ sang trọng
của những từ Hán Việt, Ngô Tất Tố đã
phác họa lí lịch cá nhân của các vị tai to
mặt lớn, những ngài đóng vai trò ông
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008 67
chủ trong xã hội từ thủ hiến, thống đốc
ngời Pháp cho đến quan lại hàng tỉnh,
hàng huyện, viện trởng dân biểu, nghị
viện, bọn địa chủ phần nhiều là
những bọn ăn chó cả lông ăn hồng cả
hột.
Đặc biệt ở Ngô Tất Tố, bên cạnh lớp
từ Hán Việt, lớp từ thuần Việt cũng
đợc ông khai thác triệt để và có hiệu
quả cao. Đọc các tiểu phẩm của ông,
nách, khéo nhử, đẻ thả cửa, nói dại đổ
đi, quất vào đít
Có thể dẫn trong tiểu phẩm Ông
Phạm Quỳnh là bạc tình lang, Ngô Tất
Tố viết: Trớc kia màu hồ còn đợm, xã
hội còn kẻ đón ngời đa, thì đối với chị
ả Nam Phong, tiên sinh cũng hết lòng
chải chuốt, khiến cho ả đúng tuần trăng
mà ra mặt với đời. Vài năm gần đây,
chị ả vì phấn lạt hơng phai, tiên sinh
ruồng rẫy ngay ả, mà ôm ái tình đi
sang con đờng chính trị. Tiên sinh
chẳng ó ê đến ả, để cho ả sống dở chết
dở, thoi thóp, ngắc ngoải [7, tr.92].
Các từ ả, chị ả, ó ê, ruồng rẫy, ôm, thoi
thóp, ngắc ngoải, các tổ hợp từ kẻ đón
ngời đa, ra mặt, phấn lạt hơng
phai, sống dở chết dở làm cho các câu
văn vừa bộc lộ tính chân thực của sự
kiện vừa là lời bình luận xác đáng, làm
cho thông tin đa ra có sức truyền cảm
và tác động mạnh mẽ đối với ngời đọc,
giúp ngời đọc dễ dàng nhận ra chân
tớng của chàng bạc tình Phạm Quỳnh,
một trí thức có cỡ nhng lại là kẻ cơ hội.
ở nhiều trờng hợp khác, Ngô Tất Tố
mạnh dạn dùng những từ địa phơng,
từ thông tục mang sắc thái mỉa mai,
châm biếm vừa thể hiện một cách cụ
thể, chi tiết sự thật đợc phản ánh.
của Ngô Tất Tố là hết sức độc đáo, đa
dạng, limh hoạt và đầy tính sáng tạo.
2.2. Đổi mới cách diễn đạt truyền
thống
Là một nhà Hán học uyên thâm,
Ngô Tất Tố rất có ý thức khai thác các
điển tích, điển cố, các giai thoại trong
các sách vở Trung Hoa. Dĩ nhiên, ông
vận dụng những điển tích, điển cố là để
so sánh, đối chiếu, luận bàn những
chuyện, những việc ngày nay. Có thể kể
hàng loạt trờng hợp nh ông lấy
truyện Trịnh Hoàng trong Hậu Hán th
để đả kích tên thống sứ Bắc kì
Tholance, lấy chuyện vợ Chu Mãi Thần
để so sánh với tình thế oái oăm của báo
Tân Việt, lấy tích Dơng Tấn trong
truyện Phong thần có đủ bảy hai phép
hóa thân để chế diễu Phạm Quỳnh sáng
lập ra Hiến pháp tam giác, lấy chuyện
Lâu S Đức nhà Đờng khuyên ngời
em khi đi làm thái thú phải tốt nhịn để
dè bỉu bãi nớc bọt trên mặt ông tuần
phủ Nguyễn Doãn T, lấy giai thoại Th
công trong chuyện Trang Tử cho khỉ ăn
sáng ba chiều bốn để vạch mặt trò hề
mị dân của thống đốc Nam kì Pages
Cách sử dụng điển tích, điển cố, giai
thoại trong tiểu phẩm không hề cầu kì,
sách vở mà hết sức tự nhiên, có dụng ý
bao gồm cả thành ngữ, tục ngữ, ca dao,
những lời nói có tính châm ngôn, những
áng thơ văn quen thuộc trong Truyện
Kiều, Chinh phụ ngâm nhng nổi bật
nhất ở tiểu phẩm Ngô Tất Tố là việc
vận dụng thành ngữ, tục ngữ dân gian.
Trong các tiểu phẩm của Ngô Tất
Tố, các thành ngữ, tục ngữ đợc sử
dụng khá phổ biến, linh hoạt, có các
dạng thức khác nhau hết sức sinh động
và sáng tạo. Có những trờng hợp ông
dùng nguyên vẹn các thành ngữ, tục
ngữ nh kẻ đón ngời đa, chen vai
thích cánh, run nh cầy sấy, giật gấu vá
vai, tiền mất tật mang, chân lấm tay
bùn, tan cửa nát nhà, bùn lầy nớc
đọng, mập mờ đánh lận con đen, dây cà
ra dây muống, con rồng cháu tiên, ăn
cây nào rào cây ấy, ăn quả nhớ kẻ trồng
cây Tuy giữ nguyên cách diễn đạt dân
gian nhng ông dùng chính xác cho
từng đối tợng, vấn đề, tạo đợc những
ngữ cảnh phù hợp có hàm ý sâu xa làm
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4b-2008 69
gió quanh co nên có những thành ngữ,
tục ngữ phải hòa tan vào trong đoạn
văn. Chẳng hạn, thành ngữ trơ nh mặt
thớt đợc sử dụng trong đoạn văn sau
đây: Các ngài không ở thôn quê có lẽ
không hiểu nỗi khó khăn của sự đi
mợn. Đừng nói mợn mặt, mỗi khi có
việc ăn uống, dân quê muốn đi mợn
cái thớt thái thịt cũng phải mất công
xách đi xách về. Đằng này không đợi
chúng ta hỏi mợn, chính các ông ấy tự
mình đem mặt ra thay chúng ta há
chẳng phải là sự hào hiệp? Với sự hào
hiệp ấy, nếu không ai tỏ lời cảm ơn,
không khỏi có kẻ bảo chúng ta là ngời
rẻ của coi cái mặt ngời này không
bằng cái thớt ngời khác [7, tr.341].
Phải chăng, đây là sự thay đổi chiến
lợc, chiến thuật khéo léo để đấu tranh
hợp pháp lâu dài? ở hầu hết các trờng
hợp khác, ông cố ý cải biến cấu trúc
thành ngữ, tục ngữ để cho sự diễn đạt
phù hợp với nội dung tiểu phẩm, thể
hiện đúng điều mình cần nói, cần viết.
Có ba biện pháp cải biến cấu trúc. Thứ
nhất, ông dùng biện pháp đảo trật tự
yếu tố. Thông thờng, trật tự các yếu tố
trong thành ngữ, tục ngữ là cố định
nhng khi thay đổi vị trí của các yếu tố,
đặt ý này trớc ý kia là có sự cân nhắc,
Nguyễn Hoài Nguyên NGÔN NGữ TIểU PHẩM BáO CHí , TR. 65-72 70
độ khinh bỉ của tác giả đối với những
nghị viên dân biểu chỉ là hạng chạy
chọt, mua bán mà có. Biện pháp thứ ba
là thay thế yếu tố trong cấu trúc thành
ngữ. Ngô Tất Tố dùng biện pháp này
nhằm tăng thêm tính sự kiện cho các
tiểu phẩm báo chí của mình. Đó là các
thành ngữ chớng tai nghịch mắt, hàng
rau hàng cá, đầu đi đuôi lọt Cũng có
những trờng hợp Ngô Tất Tố cải biến
hình thức diễn đạt dân gian hết sức độc
đáo, sáng tạo, đó là mạnh dạn cải biến
toàn bộ cấu trúc thành ngữ. Đó là các
trờng hợp chuôi chẳng khi nào lại
ngắn hơn gáo, thằng còng làm cha
chắc đã đủ cho thằng ngay ăn, tai ếch
hay là đầu cua Thành ngữ đầu cua
tai nheo có nghĩa là mọi chi tiết, mọi
chuyện ngóc ngách sâu kín của sự việc,
câu chuyện. Khi sử dụng thành ngữ
này, ông đã thay đổi yếu tố nheo (cá
nheo) bằng yếu tố ếch, thêm vào yếu tố
hay là biến đổi quan hệ giữa các yếu tố
trong thành ngữ trong trờng hợp: Cố
nhiên họ không thèm biết chủ nghĩa xã
khiến cho cách dùng từ trong tiểu phẩm
bộc lộ những hàm nghĩa hết sức tinh tế.
Chẳng hạn, nhân sự kiện báo Tổ quốc
Việt Nam đăng tin ông Hoàng Trọng
Phu từ chức tổng đốc Hà Đông nhng
sau lại đợc giữ lại thêm một thời gian
nữa, Ngô Tất Tố viết: Nếu không, nếu
tỉnh Hà Đông bị thiếu một ông tổng đốc
thì tổ quốc có khi sẽ thành tổ cò [7,
tr.170]. Cái tổ quốc ở đây là của tờ báo
Tổ quốc Việt Nam và một ông tổng đốc
Hà Đông từ chức thì cái nhà sẽ thiếu
một cột tức là tổ quốc (của tờ báo Tổ
quốc Việt Nam) sẽ đổ thì quốc dân sẽ ở
vào đâu? Cách tách ghép từ tổ quốc
thành tổ cò tạo nên một tiếng cời hài
hớc nhẹ nhàng, dí dỏm.
Lại có những trờng hợp, Ngô Tất
Tố khai thác các bộ phận trong cấu trúc
âm tiết nh thanh điệu, phần vần để
tạo nên những kết hợp âm thanh nhằm
cung cấp những nét nghĩa mới, những
lợng thông tin mới. Chẳng hạn, phê
phán chủ trơng Pháp Việt đề huề, Ngô
Tất Tố viết: Cái lí thuyết ấy thì rất hay,
nhng có một điều rất khó là khi ngẫm
xem thân thế của hai bên nh một kẻ
nằm trên giờng, một ngời nằm dới
đất, một kẻ ăn thịt, một ngời gặm
xơng thì cái tinh thần thân ái còn lâu
thác hiện tợng đồng âm trong tiếng
Việt để gia tăng lợng thông tin cho câu
văn, gây hứng thú cho ngời đọc. Có thể
kể một số trờng hợp nh Tiên sinh
Thông Reo, ông bạn đồng nghiệp với
mình hàng ngày vẫn reo ở báo Trung
Lập [7, tr.111], hay Thanh Hóa là một
tỉnh hiền lành nhất ở Trung Bắc kì,
trong khi phong trào chính trị đùng
đùng nổi lên khắp xứ, tỉnh ấy vẫn thái
bình hơn tỉnh Thái Bình, không xẩy ra
chuyện gì rắc rối [7, tr.229]. Đặc biệt,
Ngô Tất Tố rất dụng công khi khai thác
hiện tợng đồng âm trong câu Phạm
tiên sinh là một nhà dở học giả, dở
chính trị [7, tr.109]. Ta nhận ra kiểu
chơi chữ đồng âm, giả trong học giả là
kẻ, là ngời (ngời có kiến thức sâu
rộng) và giả là không phải thật mà là
đợc làm ra với vẻ bề ngoài giống nh
thật vì nó gần âm gần nghĩa với từ dở
đợc dùng trong kết hợp dở học giả, dở
chính trị. Qua cách dùng từ đồng âm,
Ngô Tất Tố đã cho ngời đọc thấy đợc
con ngời thực của Phạm Quỳnh là cơ
hội, a dua với thời cuộc. Cách châm
biếm của Ngô Tất Tố quả là thâm thúy,
sâu cay nhng cũng rất hóm hỉnh, kín
đáo.
Có trờng hợp, Ngô Tất Tố khai
phẩm báo chí của Ngô Tất Tố vừa có cái
sắc sảo, uyên thâm của một nhà nho
đợc đào tạo nơi cửa Khổng sân Trình
nhng cũng có cái đậm đà hơng vị dân
tộc. Là một nhà Hán học uyên thâm, dĩ
nhiên, Ngô Tất Tố nổ lực phát huy
những u thế từ vốn Hán học nhng
mặt khác, ông đã dũng cảm thoát khỏi
những hạn chế của thế hệ mình để tiến
Nguyễn Hoài Nguyên NGÔN NGữ TIểU PHẩM BáO CHí , TR. 65-72 72
kịp thời đại. Ông đã chứng kiến cảnh
tàn tạ của nền Hán học và vị thế của
các nhà nho trong buổi giao thời và có
cái nhìn tỉnh táo trong chuyển động
giao thoa cũ - mới, tối - sáng. Tuy cha
phải là ngời cách mạng nhng vốn là
nhà nho cơng trực, khinh ghét sự giả
dối, ti tiện, là ngời quan tâm đến thời
thế, vận mệnh dân tộc và số phận của
những ngời lao động nghèo khổ nên
ông đã dùng ngòi bút đấu tranh đến
cùng chống lại xã hội thực dân phong
kiến chà đạp lên quyền sống con ngời.
Chính vì lẽ đó, qua các tiểu phẩm báo
phẩm, nghệ thuật ngôn từ, NXB Giáo dục, H. 2003.
SUMMARY
Ngo Tat To press article language
Ngo Tat To press articles are variant in method. Their content and style arent
repeated and reirative. So they always ewoke in readers interest and influence. At
the same time, his language in the articles is not only profound and erudite, but also
very deep in the side of academic style. It has intensity and respiration of
Vietnamese nation and of the times. The paper, in a definite set level, proves special
aspects in Ngo Tat To press article language.
(a)
Khoa Ngữ văn, Trờng đại học Vinh.