Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Một số vấn đề về hiện trạng của cơ cấu giống và cơ cấu đàn bò ở Nghệ An" - Pdf 19

Báo cáo nghiên cứu
khoa học:

"Một số vấn đề về
hiện trạng của cơ
cấu giống và cơ cấu
đàn bò ở Nghệ An"
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4a-2008 35
MộT Số VấN Đề Về HIệN TRạNG CủA CƠ CấU GIốNG
Và CƠ CấU ĐàN Bò ở NGHệ AN

Nguyễn Kim Đờng
(a)Tóm tắt. Bài báo nhằm góp phần đánh giá tiềm năng của chăn nuôi bò ở Nghệ An.
Chúng tôi đã thu đợc các kết quả: (i) Bò vàng là giống bò đợc nuôi chủ lực (67,97%), bò
Laisind và các giống khác còn ít (32,03%). (ii) Bò vàng ở vùng núi cao là 97,73%; bò
Laisind vùng đồng bằng là 55,61%; vùng núi bò vàng là 65,85% và bò Laisind là 34,15%).
(iii) Tỷ lệ bò cái trong đàn cao: 85,48% ở bò vàng và 86,83% ở bò Laisind; tỷ lệ bò đực
trong đàn khá cao:14,52% ở bò vàng và 13,17% ở bò Laisind. (iv) Bò đợc nuôi để cho sinh
sản là chủ yếu: 58,73% ở bò vàng và 57,03% ở bò Laisind. (v) Hoạt động sinh sản của đàn

khắc nghiệt của thời tiết khí hậu, không đòi hỏi dinh dỡng và chăm sóc cao. Tuy
nhiên, chúng có tầm vóc nhỏ, khả năng cho sữa rất thấp, tỷ lệ thịt xẻ thấp. Trong xu
thế phát triển nâng cao số lợng và chất lợng đàn bò, nhiều nhóm bò lai đã đợc
tạo ra. Chúng đã góp phần cải tạo tầm vóc của đàn bò, tăng tốc độ sinh trởng, tăng
tỷ lệ thịt xẻ, Tuy nhiên, các con lai đòi hỏi số lợng và chốt lợng thức ăn cao hơn
và chăm sãc nuôi dỡng, tổ chức quản lý tốt hơn.
Để góp phần đánh giá tiềm năng của chăn nuôi bò ở Nghệ An, trên cơ sở đó đề
xuất các giải pháp phát triển chăn nuôi bò bền vững ở đây, chúng tôi đã tiền hành điều
tra toàn diện về con bò và chăn nuôi bò ở Nghệ An. Trong bài này chúng tôi đa ra một
số kết quả về chăn nuôi 2 giống bò chủ lực ở Nghệ An là bò vàng và bò Laisind.
II. VậT LIệU, NộI DUNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
2.1. Vật liệu
Đàn bò đang đợc nuôi trong các hộ chăn nuôi bò ở các điểm điều tra.

Nhận bài ngày 19/5/2008. Sửa chữa xong 25/11/2008.

Nguyễn Kim Đờng CƠ CấU GIốNG Và CƠ CấU ĐàN Bò ở NGHệ AN, TR. 35-41 36
2.2. Phơng pháp nghiên cứu
Nghệ An có 17 huyện, 2 thị xã và thành phố Vinh, trong đó 5 huyện vùng núi
cao, 5 huyện vùng núi, 7 huyện đồng bằng, 2 thị xã và 1 thành phố. Chúng tôi đã
chọn 2 huyện đồng bằng, 2 huyện miền núi và 1 huyện vùng núi cao để điều tra. Mỗi
huyện chúng tôi chọn 3 xã (1 xã chăn nuôi bò khá, 1 xã trung bình và 1 xã yếu). Mỗi
xã chúng tôi chọn ngẫu nhiên 50 hộ để thu thập số liệu.
2.3. Nội dung điều tra

(%)
Bò vàng 415 1600 22,00 30,09 47,91
Bò Laisind 257 754 23,50 28,48 48,02
Bò giống khác* 17 24 - - -
Ghi chú: * không kể bò sữa, vì bò sữa giành cho một báo cáo riêng.
Cơ cấu giống của đàn bò chủ yếu là 3 nhóm: Bò vàng (67,28%), bò Laisind
(31,71%) và các giống khác (1,01%). Kết quả này cho thấy bò vàng vẫn là giống bò
đợc nuôi chủ lực ở Nghệ An (67,28%), bò Laisind và các giống khác chiếm 32,72%-
đây là tỷ lệ hơi thấp hơn các con số mà số liệu thống kê của tỉnh Nghệ An công bố (34-
35%). Điều tất yếu có thể dự báo khi nhìn vào cơ cấu giống của đàn bò, đó là vần đề
năng suất của đàn bò. Bò vàng vốn dĩ là giống bò địa phơng, nhỏ con, khối lợng thấp
và tỷ lệ thịt xẻ thấp. Do vậy, một khi giống bò này chiếm tới hơn 3/4 đàn bò thì ảnh
của nó đến năng suất và sản lợng là tất yếu và rất lớn.
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4a-2008 37
Cơ cấu đàn bò ở hai giống chính gần giống nhau: Bê theo mẹ ở bò vàng là 22% và
bò Laisind là 23,50%; bò <3 năm tuổi là 30,09% ở bò vàng, 28,48% ở bò Laisind; bò >3
năm tuổi ở bò vàng là 47,91% và bò Laisind là 48,02%. Nhìn vào cơ cấu đàn bò nh
trên chúng ta có thể thấy thêm một số vấn đề nh: Tỷ lệ bê theo mẹ ở cả 2 giống trung
bình là 22,50%, điều đó có nghĩa rằng tỷ lệ đẻ của bò cái trong độ tuổi sinh sản hàng
năm cha cao và một vấn đề nữa là nạn giết bê non để bán đặc sản bê thui đang khá
phát triển ở Nghệ An, do vậy sẽ làm cho tốc độ tăng đàn của đàn bò chậm.
Đàn bò có tỷ lệ bò >3 năm tuổi cao (trung bình khoảng 48%), nh vậy là đàn bò
có độ tuổi lớn - hơi già, có nghĩa là đàn bò chậm đợc thay thế.
Khi xem xét cơ cấu giống của đàn bò theo vùng địa lý sinh thái (bảng 1b) chúng

lớn hơn vùng đồng bằng.
Ngợc lại, ở vùng đồng bằng bò Laisind chiếm tới gần 2/3 và bò vàng chỉ chiếm hơn
1/3 một ít và quy mô đàn bò ở đồng bằng cũng nhỏ hơn vùng núi cao cũng nh vùng đồi
núi. Mỗi hộ ở đồng bằng chỉ nuôi 1-2 con, không có hộ nào nuôi >10 con. Có hiện trạng này
là vì diện tích đất tự nhiên ở vùng đồng bằng hẹp, mật độ dân số cao, do vậy nguồn thức
ăn tự nhiên sẵn có hạn chế, bò đợc nuôi nhốt ở nhà là chính, thức ăn cho chúng là cỏ
trồng, cỏ cắt, tận dụng các nguồn phụ phế phẩm nông công nghiệp. Song do trình độ hiểu
biết khoa học của ngời dân khá cao, khả năng đầu t tốt hơn vùng núi cao và vùng đồi
núi, điều kiện tự nhiện thuận lợi hơn, nên về số lợng đàn bò thì hạn chế, nhng chất
lợng đàn bò cao hơn hẳn vùng núi cao và vùng núi.
Nguyễn Kim Đờng CƠ CấU GIốNG Và CƠ CấU ĐàN Bò ở NGHệ AN, TR. 35-41 38
3.2. Tình hình số lợng đàn bò của bò nuôi tại Nghệ An
Để phân tích đàn bò chúng tôi nhận thấy cần đi sâu vào hai nhóm bò dới 3 và
trên 3 năm tuổi (bảng 2), qua phân tích chúng tôi thấy:

cả hai giống, tỷ lệ bò >3 năm tuổi đều cao hơn tỷ lệ bò <3 năm tuổi khá nhiều.
Bò vàng bò >3 năm tuổi nhiều hơn bò <3 năm tuổi tới 22,86% và ở bò Laisind sự
khác biệt này lên tới 44,12%. Kết quả này một lần nữa cho thấy đàn bò đợc sử dụng
trong thời gian khá dài và chậm đợc thay thế nh chúng ta đã thấy khi phân tích
các kết quả trên bảng 1b.
Bảng 2: Tình hình của đàn bò ở Nghệ An theo độ tuổi và giới tính
Bò < 3 tuổi Bò > 3 tuổi Giống bò
n (con)


lệ bò đực tơng đơng nhau: 14,52% ở bò vàng và 13,17% ở bò Laisind. Tỷ lệ bò đực
trong đàn bò nh vậy là khá cao, đặc biệt là ở nhóm bò vàng. Từ các số liệu này
chúng ta có thể thấy đợc rằng, bò cái vẫn đợc phối giống chủ yếu do nhảy trực tiếp,
điều đó có nghĩa là việc thụ tinh nhân tạo cho đàn bò còn hạn chế. Tình trạng này
dẫn tới hai kết quả: Tỷ lệ bò lai tăng chậm và đàn bò có thể bị đồng huyết do bò đực
giống chăn thả phối giống trực tiếp cho bất kỳ bò cái nào khi chúng động dục do
không quản lý đợc công tác phối giống.
3.3. Tình hình sử dụng của bò nuôi tại Nghệ An
Phân tích đàn bò theo mục đích sử dụng (bảng 3) chúng tôi nhận thấy, đàn bò
chủ yếu đợc dùng vào mục đích sinh sản và điều này là hoàn toàn phù hợp với
những gì chúng ta thấy trên bảng 2, đó là tỷ lệ bò cái cao ở cả hai lứa tuổi (<3 năm
tuổi là 58,36% ở bò vàng và 69,44% ở bò Laisind; >3 năm tuổi là 85,48% ở bò vàng và
86,83% ở bò Laisind).
Bảng 3: Tình hình sử dụng bò ở đàn bò Nghệ An
Giống Tổng (con) Sinh sản (%) Nuôi lấy thịt (%) Cày kéo (%)

Bò vàng 1457 58,73 26,65 14,62
Bò Laisind 573 57,03 22,02 20,95
Chung 2030 53,45 23,07 23,48
Bò đợc sử dụng vào mục đích lao tác (cày, kéo) không còn nhiều, chỉ là 14,62%
ở bò vàng và 20,95% ở bò Laisind. Bò nuôi để lấy thịt cũng không có tỷ lệ cao, chỉ là
26,65% ở bò vàng và 22,02% ở bò Laisind. Điều này là không hợp lý, có thể do số liệu
chỉ phản ảnh đàn bò hiện đang nuôi, mà phần lớn bò đã đợc bán để giết thịt ở độ
tuổi nhỏ (bê thui) và ở lứa tuổi lớn hơn thì cha có sự vỗ béo. Cả hai vấn đề này của
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4a-2008
ngày), so với các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả khác là khoảng 360-390 ngày.
Có các kết nh vậy về các chỉ tiêu sinh sản của đàn bò là do, đây là số liệu thu
thập trên cơ sở ghi chép hoặc trí nhớ của ngời chăn nuôi, đàn bò chủ yếu đợc nuôi
theo lối chăn thả, phối giống tự do và trực tiếp không biết chính xác thời gian các bò
cái đợc bò đực phối giống và có chửa. Công tác quản lý, phát hiện bò động dục và phối
giống (AI) cho đàn bò còn nhiều hạn chế, thiếu chính xác. Hơn thế nữa, đây là số liệu
điều tra chứ không phải là một nghiên cứu theo dõi trực tiếp trên một đàn bò có sự
quản lý khoa học, chặt chẽ.
3.5. Tình hình sinh trởng của bò nuôi tại Nghệ An
Để đánh giá khả năng sinh trởng của đàn bò chúng tôi dựa vào khối lợng
của từng cá thể trong hai lứa tuổi (< 3 và > 3 năm tuổi) bằng phơng pháp ớc tính
theo các chiều đo dài thân và vòng ngực của chúng. Các kết quả thu đợc có trên
bảng 5.
Bảng 5: Khối lợng của bò cái vàng và cái Laisind ở Nghệ An
Bò < 3 tuổi Bò > 3 tuổi
Giống
n
X

Cv% n
X

Cv%
Bò vàng (kg) 47 179, 74 37,76 21,06 69 216,59 29,14

13,45
Bò Laisind (kg)

47 243,40 44,28 18,29 46 264,65 51,86


trong công tác Laisind hóa và Zebu hóa đàn bò. Mặt khác cũng có thể do điều kiện
chăn nuôi trong các nông hộ ở Nghệ An đã có những cải thiện nhất định, nó đã đáp
ứng tốt cho bò vàng (bò nội)-nhu cầu dinh dỡng thức ăn thấp và có thể đáp ứng
đợc cho bò Laisind <3 năm tuổi-nhu cầu dinh dỡng thức ăn cha thật cao, song
cha đáp ứng đợc cho bò Laisind trên 3 năm tuổi-nhu cầu dinh dỡng thức ăn cao.
VI. KếT LUậN
Qua các kết quả thu đợc ở trên chúng tôi xin đa ra một số kết luận nh sau:
- Bò vàng vẫn là giống bò đợc nuôi chủ lực (67,28%), bò Laisind và các giống khác
còn ít (32,72%). Điều này cho thấy chăn nuôi bò ở Nghệ An năng suất còn hạn chế.
- Bò vàng ở vùng núi là 96,70%; bò Laisind vùng đồng bằng là 56,61%; vùng
núi bò vàng vẫn nhiều hơn bò Laisind (65,85% so với 34,15%). Điều này chứng tỏ
trình độ chăn nuôi và vùng địa lý sinh thái có vai trò rất lớn trong phát triển chăn
nuôi bò ở Nghệ An.
- Tỷ lệ bò cái cao ở cả hai giống (85,48% ở bò vàng và 86,83% ở bò Laisind). Tuy
nhiên, tỷ lệ bò đực trong đàn vẫn còn khá cao (14,52% ở bò vàng và 13,17% ở bò Laisind).
- Đàn bò đợc nuôi với mục đích khai thác sinh sản là chủ yếu (với bò >3 năm
tuổi: 58,73% ở bò vàng và 57,03% ở bò Laisind), bò đợc sử dụng để cày kéo không
còn nhiều (14,62% ở bò vàng và 20,95% ở bò Laisind).
- Hoạt động sinh sản của đàn bò là bình thờng (tuổi phối giống lần đầu, tuổi
đẻ lần đầu của bò vàng sớm hơn bò Laisind), thời gian có chửa trở lại sau đẻ của cả
hai giống đều hơi chậm, khoảng cách giữa hai lứa để không ngắn nhng cũng không
quá dài.
- Khối lợng của bò cái vàng <3 năm tuổi và trên 3 năm tuổi tơng ứng là
179,74 kg/con và 216,59 kg/con, hơi cao hơn so với trớc đây. Điều này chứng tỏ điều
kiện chăn nuôi và chất lợng con giống bò vàng đã đợc cải thiện.
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 4a-2008


97,73%; Sind crossbred in plain/lowland is 55,61%; in mountainous region-yellow
cattle is 65,85% and Sind crossbred is 34,15%). (iii) High ratio of female in cattle
herd: 85,48% in yellow cattle and 86,83% in Sind crossbred; ration of male in cattle
herd rather high:14,52% in yellow cattle and 13,17% in Sind crossbred. (iv) Female
raising mainly for reproduction: 58,73% in yellow cattle and 57,03% in Sind crossbred.
(v) Reproduction of two breed are normally. (vi) Live wieght of cattle female is hgher
than before (179,74 kg/head and 216,59 kg/head respective to <3 and >3 year old).
Live weight of Sind crossbred lower than heterosis capacity of this hybrid: 243,40
kg/head in <3 and 264,65 kg/head in >3 year old group. (vii) The conditions of cattle
raising is improveving, which satistify the demand of yellow cattle, still do not
satistify for demand of Sind crossbred. (viii) The conditions for cattle raising and
geographical-ecological effect clearly to cattle production in Nghe An. (a)
Khoa Nông Lâm Ng, Trờng Đại học Vinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status