NGUYễN THị HOA Lê CủA TRUYệN TRUYềN Kỳ NGọC THâN ảO Hoá, TR. 36-41 36
MộT Số ý KIếN Về GIá TRị CủA TRUYệN TRUYềN Kỳ
NGọC THâN ảO Hoá (Từ BảN CHữ HáN) NGUYễN THị HOA Lê
(a) Tóm tắt. Bài viết giới thiệu một số giá trị của tác phẩm truyền kỳ Ngọc thân ảo
hoá. Đây là tác phẩm khuyết danh tác giả, ớc đoán đợc viết vào đời Nguyễn. Ngọc
thân ảo hoá mang đầy đủ đặc điểm của tiểu thuyết truyền kỳ chữ Hán. Cả nội dung
và nghệ thuật của Ngọc thân ảo hoá đều có nhiều giá trị, rất đáng đợc nghiên cứu.
ác phẩm giúp chúng ta hiểu
thêm về thể loại tiểu thuyết
truyền kỳ viết bằng chữ Hán
của nớc ta nói riêng và văn xuôi chữ
Hán nói chung.
Tác phẩm Ngọc thân ảo
hoá đã đợc một số nhà nghiên cứu
nớc ta gần đây liệt vào nhóm tiểu
thuyết truyền kỳ. Tác phẩm cha đợc
giới thiệu trong Tổng tập tiểu thuyết chữ
Hán Việt Nam, Nxb Thế giới 1998.
Tất cả các chữ thời đều viết thành
thìn (Kiêng huý tên của vua Tự
Đức)
- Một số chữ bị chép nhầm, nh
(niết bàn) viết thành (hoàng
bàn) (Lỗ Nam Tử) viết thành
(Tăng Nam Tử), (trú) viết thành
(giai), (Mị Ê) viết thành
(Quyên Hải), (Bồ Đề) viết thành
(Đài Đê), (Vơng sinh) viết
thành (Vơng dơng), (Kim
Quy) viết thành Kim Long), chữ
quy viết giản thể gần giống với chữ
long theo kiểu tục viết của chữ Nôm, ở
đây phải là Kim Quy mới đúng (tức chỉ
sứ giả Giang Thanh) Nói chung
những nhầm lẫn này đều do tự dạng
gần giống nhau.
- Có những nội dung không nhất
quán, nh địa điểm nơi chàng Vơng
chôn cất cô gái, lúc viết Quỳnh Lu (
) thêm bộ ngọc ( ) bên chữ lu, lúc
lại viết Quỳnh Lôi ( ) có khi thêm bộ
ngọc ( ) bên chữ lôi, có khi không.
Nhận bài ngày 16/7/2008. Sửa chữa xong 29/8/2008.
T
những nét tơng đồng, ức đoán hai tác
phẩm này do một ngời soạn. Ngọc
thân ảo hoá cũng có thể đợc viết trong
thời gian triều Nguyễn trở về sau.
Thứ hai, ở dòng 6 trang 96, Ngọc
thân ảo hoá viết:
Thiếp chi thân cụ tại Tiền biên (Thân
thế của thiếp chép đầy đủ ở phần Tiền
biên). Từ Tiền biên ở đây gọi tắt tên một
bộ sử nào đó. Khi tìm hiểu về các bộ sử
của ta, có Đại Việt sử ký tiền biên là bộ
Quốc sử thời Tây Sơn, ngoài ra còn có
Khâm định Việt sử thông giám cơng
mục do Quốc sử quán triều Nguyễn
soạn cũng có phần Tiền biên. Từ đây có
thể đa ra hai giả thiết:
- Nếu chỉ Quốc sử ra đời vào thời
Tây Sơn thì tác phẩm đợc viết khoảng
đầu triều Nguyễn trở về sau.
- Nếu chỉ Khâm định Việt sử thông
giám cơng mục, tác phẩm đợc viết
khá muộn, tức phải sau năm 1881, bởi
vì bộ sử này đợc biên soạn chủ yếu
dới thời Tự Đức, từ 1856 đến 1881 mới
hoàn thành. Nh thế, thời điểm sớm
nhất tác phẩm ra đời phải từ năm 1881
về sau.
Đối với Ngọc thân ảo hoá cũng nh
Việt Nam kỳ phùng sự lục việc đoán
định niên đại và tác giả bây giờ chủ yếu
xong rồi chết. Chàng Vơng thơng tiếc
khôn nguôi, chôn cất nàng xong, chàng
về quê, hàng ngày ngâm ngợi những di
NGUYễN THị HOA Lê CủA TRUYệN TRUYềN Kỳ NGọC THâN ảO Hoá, TR. 36-41 38
cảo của nàng, không chịu đến với ai.
Sau này, nhờ có Đào Trác, là bạn học
với chàng Vơng, cho biết cô gái chàng
gặp trớc đây là Mỵ Châu hoá kiếp đến
giúp chàng. Lúc đó Vơng học sinh mới
chịu bán viên ngọc trai với giá rất cao
và lấy em gái của Đào Trác làm vợ, gia
đình trở nên giàu có. Có ngời nói
Vơng học sinh là kiếp sau của Trọng
Thuỷ.
4. Một số giá trị t tởng và
nghệ thuật chủ yếu
Theo PGS Trần Nghĩa trong bài
Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam - Danh
mục và phân loại (tạp chí Hán Nôm số
3 năm 1997): Truyền Kỳ hay tác ý
hiếu kỳ, có nghĩa là nảy ra ý định viết
để thoả mãn tính tò mò của ngời đọc.
Loại tiểu thuyết này ra đời và phát
triển trên cơ sở tiểu thuyết chí quái,
chăng?. Nhà s đáp: Xét về bản chất,
con ngời là do âm dơng hợp lại thành
cơ thể, trời đất hợp lại thành hình dáng.
Khi khí tụ thì động đậy mà sinh thành,
khi khí tan ra thì tiêu đi mà giải thoát.
Song có lúc oan khiên uất kết thì khí
này bàng bạc, lẩn quất mãi không tiêu
tan, sau nhiều tháng năm hoá thành
yêu quái. Vậy thì ảo có nghĩa là
không có thực tính, và hoá nghĩa là
biến hoá, nhờ vào sức mạnh thần thông.
Những yếu tố kỳ ảo, cái tác ý hiếu
kỳ xuất hiện trong tác phẩm rất nhiều.
Ví dụ đầu truyện là hình ảnh một
quầng sáng ngùn ngụt bốc lên trên đỉnh
vách đá bên phải tờng thành vua
Trùng Quang nhà Hậu Trần, sau nhờ
nhà s trụ trì ở ngôi chùa trên núi lập
đàn hoá giải, vầng sáng biến mất. Mấy
ngày sau có cô gái đẹp tự xng là ngời
ở Dạ Sơn Đông Thành đến chùa cầu tự
sám hối, cử chỉ dáng đi, nói năng rất lạ,
rồi cô đi khắp nơi trong nớc, tới đâu
cũng ngâm nga ca hát và tự xng là
khách bán ngọc; hoặc chi tiết đang đêm
cô dẫn Vơng học sinh đến Cổ Loa để
lấy viên ngọc minh châu, viên ngọc đợc
đào trên ngọn đồi nhỏ. Lấy ngọc về, cô
thấy ngời khó chịu, bảo chàng Vơng
lập đàn cầu đảo, bỗng có gió lạnh
thực. Ví nh: chàng Vơng quê ở Quỳnh
Côi Thái Bình, Đào Trác quê ở Thuỵ
Anh, cô gái bán ngọc ngời Dạ Sơn,
Đông Thành, quê ở Cổ Loa. Khi cô gặp
Vơng học sinh, hai ngời theo sông Vị
Hoàng đi đến Thăng Long, vì đi theo
đờng sông nên họ đã du ngoạn qua các
di tích nh: miếu Vũ Nơng ở Nam
Xơng, miếu Mị Ê ở Lí Nhân, miếu Tiên
Dung ở Đa Hoà, lên tới kinh thành có
sông Bồ Đề, sông Tô Lịch Đây là một
đặc điểm của tác phẩm truyền kỳ, tác
giả có ý thức gắn cái h với cái thực
để làm tăng tính chân thực của tác
phẩm.
Ngoài ra, tên và quê quán các nhân
vật cũng đợc tác giả xây dựng có dụng
ý nghệ thuật rất sâu sắc. Vì tác phẩm là
Thân ngọc biến hoá, thân ngọc ở đây
tức ám chỉ Mị Châu trong truyền
thuyết Mị Châu - Trọng Thuỷ, nên
ngoài việc vận dụng những địa danh
liên quan đến truyền thuyết này nh
Cổ Loa chỉ quê hơng của cô gái, và cô
gái còn có khi xng là ngời ở Mộ Dạ
Đông Thành Nghệ An (tơng truyền là
nơi Mị Châu bị An Dơng Vơng chém
chết), thì tên nhân vật và địa điểm
trong tác phẩm phần lớn đều dùng chữ
có bộ ngọc ( ) bên cạnh nh: Vơng
giả thờng dùng văn vần và văn biền
ngẫu. Câu văn ngắn gọn, súc tích, bóng
bẩy, có vần điệu. Ví dụ, miêu tả cô gái
bán ngọc khi vào cầu đảo sám hối ở
chùa, viết rằng: Phu cơ nh ngọc, tú
nhuận chiếu nhân, bích nhãn linh lung,
kì quang khả giám, y thờng diễm dã,
hiển quyền quý trung nhân vật, thanh
âm khanh sảng, đính lễ cầu sám (Thịt
da nh ngọc, trắng loá mịn màng, mắt
biếc long lanh nh gơng trong vắt, áo
xiêm lộng lẫy, rõ ngời quyền quý, tiếng
tha trong trẻo, cúi đầu cầu sám). Sự
dung hợp thể loại (văn xuôi, văn vần,
NGUYễN THị HOA Lê CủA TRUYệN TRUYềN Kỳ NGọC THâN ảO Hoá, TR. 36-41 40
văn biền ngẫu) cũng là một đặc điểm
của truyện truyền kỳ thời trung đại.
Có khi tác giả vận dụng rất đắc địa
những câu trong sử sách, hoặc kinh
điển khác vào trong tác phẩm. Chẳng
hạn cuộc đối đáp giữa chàng Vơng và
cô gái bán ngọc khi lần đầu tiên gặp gỡ
ở trên đờng:
Vơng học sinh gặp nàng giữa
tế nhị.
Trong thành ngữ Hán, kết cấu tứ tự
rất nhiều, vì vậy tác giả vận dụng khá
triệt để thành ngữ, làm cho câu văn
thêm hàm súc, đăng đối, vần điệu, ví
nh: Tân nhân cựu cảnh; Tơng kính
nh tân; Tang điền thơng hải; Phần
quế hấn châu; Mi thanh mục tú;
Thuyền quyên tàng kiếm; Hơng phấn
tháo qua; Niên thâm vật cửu; Tuế cửu
niên thâm
Để câu văn nhịp nhàng, trầm bổng,
có vần điệu, tác giả còn rất chú trọng sự
đăng đối, sự lặp lại các cấu trúc ngữ
pháp. Ví nh: Nam oanh cù mộc, Đông
vọng tiểu tinh, Đạo bàng khổ lý, Vãn
cảnh phiếu mai, Cô phợng ngô đồng,
thê thân chi thiếp dã, An Thạch chi
Bạch Vân, Đông Pha chi Cầm Tháo,
Đào Cốc chi Quân Lan, Thẩm Ước chi
sấu yêu, Trơng Xởng chi hoạ mi, Hàn
Thọ chi thâu hơng, Tơng Nh chi
thiết ngọc; Nhãn tiền chi hoa dã,
Chởng thợng chi ngọc dã
Sử dụng điển tích điển cố là một
trong những thủ pháp nghệ thuật đặc
thù đợc sử dụng phổ biến trong văn
học cổ Trung Hoa và Việt Nam. Đó là
một biên pháp tu từ đặc thù để thể hiện
t tởng tình cảm. Các tích, điển trong
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008 41
Ngọc thân ảo hoá còn là một sự phát
triển từ lịch sử đến huyền thoại và tiểu
thuyết cổ Mỵ Châu-Trọng Thuỷ. Qua
bài viết này, chúng tôi mong muốn giới
thiệu với độc giả một tác phẩm trong
kho tàng văn học trung đại Việt Nam
cha đợc giới thiệu rộng rãi.
Chú thích:
(1) Tác giả lấy trong phần Dung chỉ sách Thế thuyết tân ngữ.
(2) Biện Hoà: theo sách Hàn Phi Tử, Biện Hoà ngời nớc Sở, tìm đợc viên đá có ngọc ở núi
Kinh Sơn đem dâng Sở Lệ vơng. Vơng cho là dối trá sai chặt chân bên trái. Chu Vũ Vơng
lên ngôi, Hoà lại đem dâng, cũng bị coi là dối trá, sai chặt nốt chân phải. Khi Văn Vơng lên
ngôi, Hoà ôm hòn ngọc ngồi khóc dới núi Kinh Sơn. Văn Vơng hỏi, ông nói: Tôi không
buồn vì bị chặt chân. Ngọc quý mà bị coi là đá, kẻ sĩ ngay thẳng lại mang tiếng dối trá, cho
nên tôi buồn. Vua sai thợ mài thì quả đợc ngọc quý, bèn đặt tên là ngọc Biện Hoà.
(3) Lời của Tử Cống trong thiên Tử Hãn sách Luận ngữ.
(4) Lời của Khổng Tử đáp lại câu trên của Tử Cống, cũng trong thiên Tử Hãn sách Luận
ngữ.
TI LiệU THAM KHảO
[1] Đại Việt sử ký toàn th, Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích, NXB Khoa học Xã hội
1998, tập II, quyển IX - Kỷ Hậu Trần.
[2] Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm, NXB Khoa học Xã hội 1983.
[3] Nguyễn Văn Tân, Từ điển địa danh lịch sử văn hoá Việt Nam, NXB Văn hoá -