Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007 109
Bàn về vấn đề sử dụng đất dốc
ở huyện quế Phong tỉnh Nghệ An
179.825 ha (94,87%) gồm các loại sau:
2.2. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp ở Quế Phong
2.2.1. Cơ cấu sử dụng đất của huyện Quế Phong
Bảng 1 cho thấy thế mạnh của huyện Quế Phong là trồng cây lâm nghiệp, cây
công nghiệp dài ngày và cây ăn quả. Thế nhng việc sử dụng các loại đất nh hiện
nay là cha hợp lý, thể hiện trong cơ cấu sử dụng đất nh sau:
- Đất Nông - Lâm - Ng nghiệp: 163.148,35 ha, trong đó:
Nhận bài ngày 14/9/2006. Sửa chữa xong 17/4/2007.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007 110
+ Đất sản xuất nông nghiệp: 4.461,96 ha, chia thành các loại:
Đất trồng cây hàng năm: 4.048,96 ha, chiếm diện tích lớn nhất là đất
lúa (2.750,6 ha), đất trồng cây hàng năm khác là 1.276.14 ha, còn lại là đất
đồng cỏ chăn nuôi.
Đất trồng cây lâu năm: 413 ha.
Bảng 1. Các loại đất dốc ở huyện Quế Phong
Loại đất
Diện tích
Rừng gỗ (kiền kiền, trắc, lim), tre
lồ ô.
Đất (*) và Đất Feralit vàng đỏ
phát triển trên đá Andêzit ở độ
cao 700 đến 1700m, độ dốc < 25
0
85.010
Trồng rừng; trồng cây lâm nghiệp,
đặc biệt là Quế, Sở (Quế đợc
đánh giá là sinh trởng tốt và
chất lợng tinh dầu cao nhất khi
trồng trên loại đất này).
Đất Feralit mùn trên núi ở độ
cao 800 đến 2000m
61.842
Phát triển rừng : lim, sến, pơmu,
dổi
+ Đất sản xuất lâm nghiệp: 158.505,96 ha, trong đó:
Rừng sản xuất: 36.752,72 ha
Rừng phòng hộ: 54.018,67 ha
Rừng đặc dụng: 67.734,56 ha
+ Mặt nớc nuôi trồng thuỷ sản: 180,43 ha, tập trung ở một số xã: Xã
Tiền Phong (36,76 ha), Tri lễ (20,84 ha), Mờng Noọc và Quế Sơn (23,86 ha)
- Đất chuyên dùng : 3.946,44 ha.
Ngời Thái ở Quế Phong cũng nh những nơi khác, xa nay có tập quán du
canh luân chuyển. Ngời Thái còn áp dụng hình thức du canh bổ trợ, chủ yếu phát
rẫy xung quanh ruộng lúa nớc, vừa tận dụng đất dốc cạnh ruộng lúa vừa tạo nguồn
tro cung cấp cho ruộng lúa nhờ ma.
Hiện nay, hàng năm diện tích đất nơng rẫy du canh của Quế Phong còn
khoảng 1241 ha, chiếm trên 30% đất canh tác của huyện.
Trớc đây dân số còn ít, nhu cầu lơng thực thực phẩm cha gay gắt nên thời
gian bỏ hoá đủ dài để đất rừng phục hồi độ phì tự nhiên. Hiện nay, mật độ dân số
tăng, nhu cầu lơng thực thực phẩm trở nên gay gắt, thời gian hu canh rút ngắn,
đất không kịp phục hồi độ phì tự nhiên nên ngày càng suy thoái, bạc màu.
- Canh tác trên nơng rẫy định canh:
Với đồng bào dân tộc ít ngời vùng cao, nơng rẫy định canh phát triển từ
khi Quế Phong thực hiện chính sách định c. Các dạng địa hình đều có hình thức
canh tác này. Trên các đỉnh núi cao là của ngời H
,
Mông, tại các sờn núi là của
ngời Khơ Mú, sờn núi thấp và chân núi là của ngời Thái. Các kiểu canh tác trên
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007 112
hình sản xuất phù hợp. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi đề xuất 2 mô hình canh
tác mới từ 2 hình thức canh tác cũ là nơng rẫy định canh (2) và ruộng nớc (3).
- Mô hình 1: Nông Lâm kết hợp (Vờn Rừng)
+Vị trí áp dụng:
Tại những nơng rẫy gần khu dân c ở, nơi có độ dốc lớn và địa hình cao (các
xã Đồng Văn, Thông Thụ, Tri Lễ, Quang phong, Cắm Muộn).
+ Sơ đồ mô hình:
Tiếp tục
Chuyển đổi Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007 113a
b
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2A-2007 114
* Tại Rừng tái sinh phục hồi (B): khoanh nuôi bảo vệ diện tích rừng hiện có (pơ mu,
sa mu, dổi, lát) và trồng rừng bổ sung (mỡ, tre, mét ) trên diện tích bị chặt phá để
cải tạo đất và nâng cao chất lợng rừng.
Vật nuôi: tập trung chăn nuôi: trâu, bò (Đồng Văn, Thông Thụ, Tri Lễ), dê (Quang
Phong, Cắm Muộn); đẩy mạnh nuôi giống Lợn địa phơng và vịt bầu ở các xã trên
theo hớng xuất khẩu.
- Mô hình 2: Nông lâm Ng kết hợp (Rừng - Vờn Ruộng - Ao).
+ Vị trí áp dụng:
Nơi địa hình đồi thấp, độ dốc nhỏ và gần mặt nớc, gần khu dân c ( các xã Châu
Kim, Tiền Phong, Hạnh Dịch, Châu Thôn).
+ Sơ đồ mô hình:
a
b
c
d
+ Hoạt động sản xuất của mô hình:
Trồng trọt:
* Rừng và vờn rừng (D):
Khoanh nuôi rừng đặc dụng, rừng đầu nguồn, trong đó cần trồng dắm thêm
các loại cây có tác dụng phòng hộ nh:lim, sến, pơmu và phát triển rừng sản xuất,
hợp với điều kiện tự nhiên và nhân văn có thể áp dụng tại địa bàn nghiên cứu, trong
đó cần chú trọng đầu t sản xuất các loại cây, con đặc sản đợc xem là tri thức bản
địa của huyện nh: khoai sọ, bí xanh, vịt bầu, quế. Tài liệu tham khảo
[1] Lê Thông (chủ biên), Địa lý kinh tế - hội Việt Nam, NXB Giáo dục, 2001.
[2] Nguyễn Ngọc Bình, Đất rừng Việt Nam, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, 1996.
[3] Phòng NN & PTNT huyện Quế Phong, Đề án phát triển lâm nghiệp tập trung
khoanh nuôi, bảo vệ, cải tạo rừng giai đoạn 2005 đến 2010.
[4] Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, Quản lý đất dốc để sử dụng lâu bền cho sản xuất
nông nghiệp, Khoa học đất, số 3, năm 1993.
[5] UBND huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, Báo cáo điều chỉnh và bổ sung quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An thời kỳ 2001 - 2010,
11/2002.
Summary
on the use of sloping land
in que phong district, nghe an province
Finding a solution to farming on sloping land in the situation of a deteriorated
ecology and environmet is really an urgent problem at the present.
This article concentrates on analysing the reality of land management in Que
Phong, a mountainous district of Nghe An province, where there is a great amount
of sloping land but inhabitants cultivation skill and intellectual stardard remain
low. On that basis, we propose some solutions to sustanable cultivation on sloping
land suitable for natual conditions and human culture in the researal areas, of
whith the most important thing is the establishment agricuture-forestry production
model.
(a)