2011 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT
BÁO CÁO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
NĂM 2011
www.fpts.com.vn
BÁO CÁO PHÂN TÍCH NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 2011 VÀ
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 2012
I. TỔNG QUAN KINH TẾ THẾ GIỚI 3
II. KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NĂM 2011 8
III. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 22
IV. PHỤ LỤC 32
Thông tin miễn trách nhiệm ở cuối
báo cáo
này. Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam 2011 2011 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang 2 / 34
IMF
Quỹ Tiền tệ quốc tế
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
ODA
Nguồn vốn hỗ trợ chính thức
PMI
Chỉ số Quản lý hàng hóa
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam 2011 2011 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang 3 / 34
tải biển Baltic (BDI) toàn cầu đã chạm đáy trong Quý I/2011 sau thảm họa tại Nhật Bản và có
sự phục hồi nhẹ trong Quý III. Tuy nhiên mức điểm cuối năm 2011 của chỉ số đang cho thấy
nhu cầu hàng hóa toàn cầu vẫn chưa có sự cải thiện nào đáng kể so với năm 2010.
Chỉ số Vận tải Biển Baltic – BDI, Nguồn: www.bloomberg.com
Tâm điểm năm 2011 chính là diễn biến phức tạp của cuộc khủng hoảng nợ công tại Châu Âu.
Giới đầu tư toàn cầu đã không thể lường trước được tốc độ lan rộng nhanh chóng và tầm ảnh
hưởng của nó đến sự tồn tại của khối đồng tiền chung Châu Âu. Sự cách biệt về năng lực sản
xuất và quy mô giữa hai mảng kinh tế phía Nam và phía Bắc trong cùng một khối liên minh
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam 2011 2011 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang 4 / 34
96.8
96.2
93
83.2
81.7
72.3
63.7
60.1
48.4
41
38.8
18.4
6.6
Hy lạp
Ý
Bỉ
Ai len
Bồ Đào Nha
Đức
Pháp
Áo
Hà Lan
Tây Ban Nha
Phần Lan
Slovakia
Slovenia
Luxembua
Estonia
Nợ Chính phủ so với GDP
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam 2011
2012 do Trung Quốc tiếp tục có thặng dự thương mại lớn trong năm qua và sức ép đòi tăng
giá đồng tiền này từ phía Mỹ. Mặc dù vậy, chính phủ Trung Quốc sẽ khó để đồng tiền của
mình tăng mạnh khi các biến động tại khu vực Châu Âu chưa có hướng giải quyết triệt để.
Như vậy khả năng đồng Nhân dân tệ yếu vẫn có thể được duy trì và tạo ra lợi thế cạnh tranh
cho thương mại của Trung Quốc trên thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, năm 2011 kinh tế toàn cầu đi xuống đã kéo theo sự sụt giảm rõ rệt nhu cầu tại hai
thị trường hấp thụ hàng xuất khẩu chính của Trung Quốc đó là Mỹ và Liên minh Châu Âu.
Tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc sang châu Âu đến tháng 11/2011 chỉ còn 5% từ mức
7,5% của tháng 10/2011 và 18,1% của quý 3/2011. Trong khi đó, các thị trường mới nổi sẽ
khó bù lấp được khoảng trống này, giải pháp chỉ có thể đó là đa dạng hóa thị trường, đồng
thời quay trở lại với thị trường nội địa. Ngoài ra, nguy cơ về nợ công tăng cao tại các chính
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam 2011 2011 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang 6 / 34
quyền địa phương và bong bóng bất động sãn vẫn còn đang tiềm ẩn những rủi ro cho nền
kinh tế Trung Quốc.
Năm 2011 tiếp tục chứng kiến đà leo thang mạnh mẽ của thị trường hàng hóa, từ vàng, bạc,
dầu thô đến các mặt hàng khác. Ngay từ đầu năm, những cuộc nội chiến liên miên tại khu
vực Trung Đông và Bắc Phi đã đưa giá dầu lên 100 USD mức cao nhất trong vòng hai năm
rưỡi. Còn thị trường vàng thì liên tục lập kỷ lục này đến kỷ lục khác từ giữa năm và đạt đỉnh
cao nhất lịch sử ở 1.920 USD vào tháng 9/2011, tăng tới 500 USD một ounce so với thời
điểm đầu năm. Đà tăng của vàng được giải thích là do cuộc khủng hoảng nợ tại châu Âu
ngày một xấu đi. Tuy nhiên vào cuối năm, cũng chính nguyên nhân này khiến giá hạ nhiệt và
mất tới 300 USD so với đỉnh cao.
Biến động giá vàng năm 2011, Nguồn: www.kitco.com
Phản ánh gần như chính xác các diễn biến kinh tế, các chỉ số chứng khoán cũng có những
biến động mạnh trong năm 2011, chủ yếu theo xu hướng giảm và đi ngang. Chứng khoán
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam 2011 2011 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang 8 / 34
II. KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NĂM 2011
2.1. Tăng trưởng kinh tế
Không đạt được mục tiêu tăng trưởng đặt ra từ đầu năm, GDP cả năm 2011 chỉ tăng 5,89%
so với năm 2010, tổng giá trị ước đạt 119 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 1.300
USD, tương đương khoảng 27 triệu đồng/năm (GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt
1.160 USD). Mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP năm nay cao hơn so với năm 2008 (là năm
bắt đầu của khủng hoảng tài chính toàn cầu), nhưng năm 2011 được đánh giá là năm nền
kinh tế gặp nhiều khó khăn nhất trong suốt hơn 20 năm cải cách. Từ sự liên thông với thế
giới thông qua mở cửa thương mại và gia nhập WTO, khó khăn giờ đây mà Việt Nam đang
đối mặt là tổng hợp của rất nhiều vấn đề như lạm phát cao, tăng trưởng giảm sút, nợ chính
phủ (chưa bao gồm nợ của khối doanh nghiệp nhà nước) cao, đầu tư công cao nhưng hiệu
quả đem lại rất thấp, cán cân thương mại và thanh toán của ngân sách nhà nước đều thâm
hụt, đặc biệt là nguy cơ về tính thanh khoản và nguy cơ sụp đổ của nhiều ngân hàng cũng
như sự phá sản của hàng loạt doanh nghiệp do thiếu vốn hoặc do không tiếp cận được
nguồn vốn giá thấp.
Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2000 - 2011
(Nguồn: GSO, FPTS)
Trong giai đoạn 4 năm vừa qua tính từ thời điểm bắt đầu khủng hoảng, tốc độ tăng trưởng
kinh tế thấp hơn khá nhiều so với mức bình quân 7,18% giai đoạn 2000-2004 và đang có xu
hướng giảm dần từ mức bình quân 8,38% giai đoạn 2005-2007 xuống mức bình quân 6,08%
6.79%
6.89%
7.08%
7.34%
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam 2011 2011 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang 9 / 34
giai đoạn 2008-2011.
Việt Nam đang theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao với động lực chủ yếu từ nguồn vốn vay
của chính phủ, các tập đoàn nhà nước và dòng vốn đầu tư gián tiếp đổ vào Việt Nam thay vì
dựa trên sự gia tăng năng suất lao động và đổi mới công nghệ. Điều này dẫn tới hệ lụy tăng
trưởng “nóng” với tốc độ tăng trưởng sản lượng thực tế vượt quá sản lượng tiềm năng, giá trị
tạo ra chủ yếu từ hoạt động gia công, bán nguyên liệu thô thay vì tự sản xuất hàng hóa có giá
trị gia tăng cao. Để cho toàn bộ hệ thống nền kinh tế tránh một cuộc đổ vỡ quy mô lớn, lạm
phát – thanh khoản ngân hàng – cán cân thanh toán tổng thể đang là 3 yếu tố được các chính
sách đặc biệt chú trọng nhằm giải quyết khó khăn.
(Nguồn: GSO, FPTS)
Điểm sáng trong giai đoạn khó khăn này là tốc độ tăng CPI đạt đỉnh vào tháng 8 vừa qua và
đang có xu hướng dần dần được kiểm soát với các chủ trương đưa ra trong Nghị quyết 11 của
Chính phủ dường như bắt đầu có hiệu lực.
Năm 2011 tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 878 nghìn tỷ đồng, tăng 5,15 lần so với năm 2001
và tăng 12,1 lần so với năm 1995. Tốc độ tăng đầu tư bình quân hàng năm đạt gần 17%.
6.52%
11.00%
23.02%
18.13%
0.0%
5.0%
(Nguồn: GSO, FPTS)
8.5
9.8
11.5
12.1
-1
1
3
5
7
9
11
13
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
x tram nghin ty dong
Tổng đầu tư toàn XH
Nhà nước
Ngoài Nhà nước
7.8%
8.4%
2011 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang 11 / 34
Ở các quốc gia phát triển, chính phủ chỉ tham gia vào nền kinh tế trên cương vị nhà quản lý
và hoạch định chính sách nên nợ công và nợ chính phủ có thể được đánh đồng với nhau. Tuy
nhiên ở Việt Nam, Nhà nước ngoài vai trò quản lý chính sách còn tham gia vào quá trình làm
kinh tế thông qua các Tổng Công ty và tập đoàn nhà nước. Theo cách tính hiện tại của Tổng
Cục thống kê, số liệu nợ công mới chỉ thể hiện nợ của Chính phủ. Nếu tính thêm các khoản
nợ của khối các doanh nghiệp nhà nước, tỷ lệ nợ công thực tế sẽ còn cao hơn nhiều so với
con số công bố 54,6% GDP năm 2011.
Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP cao trong khi tăng trưởng GDP chỉ đạt bình quân hơn 6%
cho giai đoạn 2008-nay khiến hệ số ICOR trung bình giai đoạn này tăng cao ở mức 7,17 lần,
cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực (ICOR dưới 5 lần).
Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 1995 - 2011
(Nguồn: GSO, FPTS)
Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực Ngoài Nhà nước và khu vực Đầu tư nước ngoài có xu
hướng ngày càng mở rộng hơn, nhưng sự mở rộng đó chưa đáng kể do tỷ trọng đầu tư ở khu
vực Nhà nước duy trì mức cao trong suốt giai đoạn từ năm 1995 đến nay. Trong 3 năm trở lại
đây, cơ cấu giữa các khu vực gần như được giữ nguyên.
Cuối năm 2011, cả nước có 1091 dự án được cấp mới với tổng vốn đăng ký gần 11,5 tỷ
USD, bằng 65% so với cùng kỳ năm 2010, thấp hơn hẳn so với mục tiêu thu hút 20 tỷ USD
vốn đầu tư FDI trong năm nay. Lượng vốn FDI giải ngân năm nay ước đạt 11 tỷ USD, bằng
với vốn giải ngân thực hiện năm ngoái. Mặc dù thấp hơn hẳn về mức vốn thu hút năm 2011,
khoảng cách giữa vốn FDI đăng ký và vốn FDI thực hiện đang được rút ngắn đáng kể. Điều
này một mặt thể hiện tính kém hấp dẫn đầu tư của môi trường kinh tế Việt Nam khi kết quả
đạt được thấp hơn hẳn năm ngoái, nhưng nó cũng cho thấy dòng vốn đầu tư phản ánh thực
0%
20%
ký quá cao thời gian trước đây nhưng tỷ lệ dự án thực hiện rất thấp.
Lĩnh vực đầu tư chủ yếu là công nghiệp chế biến chế tạo với 435 dự án đăng ký mới, tổng số
vốn cấp mới và tăng thêm hơn 7,1 tỷ USD, chiếm 48,5% tổng vốn FDI đăng ký trong 12
tháng. Cơ cấu các lĩnh vực đầu tư được thống kê cụ thể trong bảng sau đây:
Lĩnh vực
Tổng số vốn
đăng ký (tỷ
USD)
% trên tổng vốn
đầu tư FDI
Công nghiệp chế biến, chế tạo
7,12
48,5%
Sản xuất phân phối điện
2,53
17,2%
Lĩnh vực xây dựng
1,25
8,5%
Lĩnh vực Bất động sản
0,85
5,8%
Khác
2,94
20,0%
Một số dự án lớn được cấp phép trong năm 2011 gồm có:
Dự án đầu tư FDI
Vốn đầu tư
(tỷ USD)
Công ty TNHH Điện lực Jaks Hải Dương (BOT Nhiệt Điện)
kim ngạch xuất khẩu cả năm chỉ tăng 11,4% so với năm 2010.
Nhóm hàng xuất khẩu
Tăng trưởng so với 2010 (%)
Giá
Kim ngạch
Cà phê
44
48,1
Gạo
9
12,2
Điện thoại linh kiện
-
197,3
Cao su
29
35
Xăng dầu
36
53,6
Máy tính
-
16,9
Dầu thô
40,8
45,9
Dệt may
-
25,1
Giày dép
hiện sớm khi các chính sách tiền tệ có xu hướng thắt chặt kể từ cuối năm 2010.
Với cơ cấu xuất khẩu này, mặc dù Việt Nam có thể hưởng lợi thế trong ngắn hạn nhờ nhu
cầu nhập khẩu thế giới hồi phục tuy nhiên những nhóm hàng hóa xuất khẩu vẫn là loại thô,
chỉ qua sơ chế và sản lượng có hạn thì tổng kim ngạch sẽ dần bị chững lại trong những năm
tới. Hệ quả là tình trạng thâm hụt cán cân thương mại vẫn chưa thể cải thiện.
Nhập khẩu
Nhóm hàng Nhập khẩu
Tăng trưởng so với 2010 (%)
Giá
Kim ngạch
Cao su
22
-
Xăng dầu
46
62,2
Nguyên liêu dệt, may
-
12
Sản phẩm hóa chất
-
16,3
Thức ăn gia súc
-
7,2
Chất dẻo
-
25,7
Máy móc
-
2011 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang 15 / 34
tránh thuế, đồng thời gây cản trở cho quá trình nội địa hóa cũng như sự phát triển của công
nghiệp phụ trợ trong nước. So với năm 2010, khu vực kinh tế trong nước tăng trưởng 21,2%
thấp hơn nhiều so với mức 29,2% của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Trong khi đó, khối
doanh nghiệp FDI (không kể dầu thô) nhập siêu tới hơn 2 tỷ USD trong 9,5 tỷ USD nhập
siêu của cả nền kinh tế và chiếm tới 45,2% kim ngạch nhập khẩu của cả nước.
Thị trường Nhập khẩu
Kim ngạch
NK (tỷ USD)
Kim ngạch
XK (tỷ USD)
XK-NK
Trung Quốc
4,6
10,8
-13,8
ASEAN
20,9
13,6
-7,3
Nhật Bản
10,2
10,6
0,4
EU
7,5
16,5
Trong khoảng thời gian từ tháng 9 vừa qua đã xuất hiện một số tín hiệu đáng chú ý. Đầu tiên
đó là sự giảm tốc đáng kể của kim ngạch xuất khẩu của một số nhóm hàng hóa chủ lực gồm
dầu thô, kim loại quý, gạo Đây là dấu hiệu đầu tiên về khả năng giá các mặt hàng mũi nhọn
sẽ không còn duy trì lợi thế cho xuất khẩu trong thời gian tới. Hơn thế nữa, xu hướng giảm
tốc của nhập siêu có được trong Quý III cũng một phần từ sự sụt giảm nhu cầu nhập khẩu
trong nước. Đây là một trong những yếu tố đáng lo ngại, cho thấy nguy cơ giảm phát và trì
trệ của nền kinh tế khi cơ cấu hàng nhập khẩu có tới hơn 90% là nguyên liệu và máy móc.
Tuy nhiên, trong khoảng thời gian cuối năm 2011, đầu năm 2012 là giai đoạn nhập khẩu có
xu hướng bùng phát theo chu kỳ bởi nhu cầu về hàng hóa tiêu dùng trong dân cũng như nhu
cầu tích trữ nguyên liệu của doanh nghiệp. Thực tế, kim ngạch nhập khẩu tháng 12/2011 ước
tính đạt 9,6 tỷ USD, đã tăng 1,9% so với tháng trước trong khi kim ngạch xuất khẩu ước tính
đạt 8,9 tỷ USD, chỉ tăng 0,5% so với tháng trước. Điều này báo hiệu khả năng cán cân xuất
nhập khẩu đầu năm 2012 sẽ còn những diễn biến phức tạp. Ngoài ra, cơ cấu hàng hóa xuất
15
16.7
20.2
26.5
32.4
39.8
48.6
62.7
57.1
72.2
94.8
16.2
19.7
25.2
32
37
-40
-20
0
20
40
60
80
100
120
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
Cán cân Thương mại Năm 2011
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Cán cân thương mại
Nhập siêu/Xuất khẩu
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam 2011 2011 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang 17 / 34
11.75%
18.13%
0.00%
10.00%
20.00%
30.00%
40.00%
50.00%
2006
2007
2008
2009
2010
2011
CPI YoY (%)
M2 (%)
Tín dụng (%)
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam 2011 2011 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang 18 / 34
vận động ngược chiều. Đồ thì của cả 3 đường này sẽ tái lập xu hướng vận động cùng chiều khi
diễn biến của M2 và tăng trưởng tín dụng duy trì đà tăng hoặc đà giảm trong một thời gian đủ dài
(từ 2 năm trở lên). Trong diễn biến tại cuối 2011, có thể thấy cung tiền M2 và tăng trưởng tín
dụng đang được điều chỉnh về mức thấp kỷ lục trong nhiều năm qua, tương ứng ở mức 10% và
13%. Định hướng trong năm 2012, mục tiêu của Chính phủ tiếp tục thắt chặt tiền tệ với mức tăng
trưởng khoảng 15%-17% sẽ làm giảm tác động của yếu tố cầu kéo đến lạm phát trong năm 2012.
Những yếu tố khác trong năm 2012 ảnh hưởng đến lạm phát bao gồm biến động giá hàng hóa
trên thế giới nhập khẩu vào Việt Nam, khả năng lớn tiếp tục điều chỉnh tăng giá điện, than, xăng
2011 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang 19 / 34
triển khai bị đình trệ vì thiếu vốn. Khả năng trả nợ đúng hạn không cao làm tăng khả năng nợ
xấu trong hệ thống ngân hàng lên. Toàn hệ thống ngân hàng bước vào cuộc chạy đua kéo tỉ
trọng cho vay phi sản xuất xuống ngưỡng yêu cầu làm thị trường lãi suất biến động theo
chiều hướng tiêu cực. Cạnh tranh lãi suất huy động và cho vay giữa các ngân hàng với nhau
không những làm đẩy mặt bằng lãi suất lên cao mà còn ảnh hưởng lớn đến tính ổn định thanh
khoản giữa nhóm ngân hàng nhỏ và vừa.
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Thanh khoản trong hệ thống ngân hàng chỉ có dấu hiệu ổn định chỉ khi Ngân hàng nhà nước áp
trần lãi suất tiền gửi cho cả tiền gửi không kì hạn và dưới 1 tháng vào trung tuần tháng 9/2011
ở mức 14%, hầu hết các tổ chức tín dụng đã nghiêm túc thực hiện mức lãi suất huy động mới
này và thị trường đã có biểu hiện hình thành đường cong lãi suất đối với các kì hạn ngắn.
0.43%
2.7%
3.67%
5.01%
6.07%
7.05%
7.57%
8.15%
8.16%
8.61%
10.13%
10.90%
0.00%
2.00%
áp dụng lãi suất trần huy động trong khoảng thời gian cuối năm 2011 đã tạo ra khoảng
trống trong chênh lệch lãi suất cho vay và huy động. Mặc dù lãi suất huy động kể cả kì hạn
ngắn đều cố định ở mức 14% thì lãi suất cho vay vẫn phổ biến ở mức cao khoảng 18-22%.
Khoảng chênh lệch lớn hơn mức thông thường này xuất phát từ thanh khoản trong hệ thống
ngân hàng không cho phép các ngân hàng thương mại hạ lãi suất tương ứng với lãi suất
huy động vào. Như vậy, việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay không chỉ phụ thuộc vào yếu
tố lạm phát phải được kiềm chế mà còn phụ thuộc vào cả thanh khoản của hệ thống ngân
hàng. Thể hiện rõ nhất là khi lạm phát đạt đỉnh vào tháng 8/2011 và có xu hướng giảm rõ
rệt nhưng lãi suất lại không có chuyển biến giảm. Như vậy, thực tế hoàn toàn khác khi lãi
6.34
6.71
7.47
4.45
2.21
0.00
1.00
2.00
3.00
4.00
5.00
6.00
7.00
8.00
0.00%
10.00%
20.00%
30.00%
40.00%
50.00%
60.00%
dứt khoát “phá giá” mạnh trong 1 lần vào đầu năm khiến cho giá trị đồng VND được xác
định gần với giá trị thật trong tương quan cán cân thương mại; thứ hai (02) là việc kiểm soát
nhập siêu ở mức thấp hơn kế hoạch và thặng dư cán cân tổng thể của cả năm 2011 dự báo ở
mức gần 3 tỉ USD làm giảm áp lực lên đồng nội tệ vào thời điểm cuối năm. Tuy nhiên, đó là
khi mà nhu cầu nhập khẩu của nền kinh tế trong nước giảm và thị trường xuất khẩu bị ảnh
hưởng bởi nền kinh tế toàn cầu chung, các yếu tố này không ổn định và khó dự đoán khiến
cho việc điều hành tỉ giá vẫn còn nhiều ẩn số trong năm 2012 khi mà dự báo cán cân thương
mại tiếp tục thâm hụt. Loại trừ nhiều yếu tố khó dự đoán như suy thoái kinh tế toàn cầu và
khối đồng tiền chung Châu âu trước áp lực thâm hụt ngân sách thì vấn đề tỉ giá được Ngân
17000
18000
19000
20000
21000
22000
01-2010
05-2010
09-2010
01-2011
05-2011
09-2011
01-2012
Tỉ giá VND/USD
Tỉ giá VND/USD
Tỉ giá được điều
chỉnh tăng 9,3%
vào ngày
11/2/2011 =>
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam 2011 Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam 2011 2011 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang 23 / 34
Diễn biến ngành:
Hầu hết các nhóm ngành đều giảm trong năm 2011. Tuy nhiên giảm mạnh nhất là các nhóm
ngành dịch vụ tài chính, bất động sản, cao su, xây dựng và vật liệu xây dựng. Nhóm ngành
được ghi nhận là giảm ít nhất trong năm 2011 là nhóm ngành bảo hiểm. Cụ thể:
Nhóm ngành dịch vụ tài chính là một trong những nhóm ngành giảm mạnh nhất năm 2011 với
mức giảm 68%. Nhóm ngành xây dựng và vật liệu xây dựng giảm 68% về giá. Nhóm ngành bất
động sản giảm mạnh trong cả năm 2011, đan xen một số đợt tăng giá nhẹ mang tính chất hoàn bù
vào khoảng tháng 5 và tháng 8 và đi ngang vào cuối quý 4. Tính đến thời điểm cuối năm nhóm
ngành này đã giảm 58% về giá so với thời điểm đầu năm 2011. Nhóm ngành công nghệ cũng
nằm trong nhóm các ngành giảm mạnh với mức giảm 53%.
Hai nhóm ngành được đánh giá là giảm ít nhất là nhóm ngành bảo hiểm giảm 27% và nhóm
ngành cao su giảm 33%.
-70
thấy khối đầu tư ngoại chịu thiệt hại khá nặng nề trong năm 2011.
Quy mô thị trường vào thời điểm cuối năm 2011
Sàn
Vốn hóa TT( tỷ đồng)
P/E
P/B
%NN
HOSE+HNX
537.505
7,85
1,58
14,34
HOSE
453.784
7,9
1,69
15,3
HNX
83.721
7,64
0,99
9,2
B. Phân tích kỹ thuật:
Xu thế vận động cho năm 2012:
Giảm mạnh xen kẽ các đợt tăng nhẹ là đặc điểm nổi bật của thị trường chứng khoán năm
2011. Kênh giảm dài hạn thiết lập từ cuối tháng 10/2009 vẫn tiếp tục chi phối vận động của
VN-Index trong suốt 2 năm qua. Phần lớn trong năm 2011 VN-Index giảm mạnh xen kẽ các
đợt tăng nhẹ, đỉnh sau luôn thấp hơn đỉnh trước, đáy sau thấp hơn đáy trước. Các đợt tăng
Tháng
10
Tháng
11
Tháng
12
Tỷ đồng
Giao dịch NĐTNN toàn thị trường năm 2011 (tỷ đồng)
Mua
Bán
Mua-Bán
Báo cáo Thị trường Chứng khoán Việt Nam 2011 2011 Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT Trang 25 / 34
Phần lớn đường MA200 luôn nằm trên các đường MA50,MA14 và đường giá cho thấy xu
thế giảm dài hạn vẫn chưa kết thúc. Ở thời điểm hiện tại ngày 15/1/2011 đường giá đã bắt
đầu cắt hai đường MA14,MA20 từ dưới lên trên tín hiệu cho đợt tăng giá trong ngắn hạn vẫn
chưa kết thúc. Đợt tăng giá này có thể là một quá trình hoàn bù cho đợt giảm từ 470 xuống
338, quá trình hoàn bù có thể đạt tới mức 420.
Trong năm 2012, VN-Index khả năng tiếp tục vận động trong kênh hồi quy dài hạn thiết lập
từ đầu năm 2009 và hiện tại đang được đỡ mạnh bởi kênh dưới của kênh hồi quy này. Các
đường MA200, MA50 tiếp tục hướng xuống tạo nên áp lực cho sự tăng giá khá lớn cho VN-
Index trong hai quý đầu năm.
Năm 2012, có thể VN-Index sẽ bị chi phối mạnh bởi mô hình hai đáy, với đáy hai sẽ được
hoàn tất trong quý 1, mức đáy quanh vùng 300-340 xác suất xảy ra cao. Nếu vận động theo
mô hình này VN-Index sẽ quay đầu tăng giá tương đối mạnh vào quý 3,4 và đỉnh cao nhất
của năm 2012 có thể đạt được là 630.
Nếu như tình hình vĩ mô trong nước và thế giới trong năm 2012 không quá xấu thì VN-Index