Hoàn thiện nội dung phân tích tình hình và hiệu quả xuất khẩu - 6 pot - Pdf 19

Tổng cộng 7.000.000
Như vậy công ty không hoàn thành kế hoạch xuất khẩu, % hoàn thành kim ngạch
xuất khẩu so với kế hoạch đạt 96,5% giảm 3,5%. đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu của
công ty là xí nghiệp tocan với kim ngạch xuất khẩu là 3.234.152 USD, đứng thứ 2 là
phòng XNK 8 với kim ngạch xuất khẩu là 752.123 USD và đứng thứ 3 là phòng XNK 2
với kim ngạch xuất khẩu là 538.542 USD.
Các bộ phận phòng ban đã có nhiều cố gắng để hoàn thành kế hoạch của công ty
giao, tuy nhiên hoạt động của các bộ phận chưa đều tay. Công ty có 11 bộ phận kinh
doanh, trong đó có 4 phòng ban đã hoàn thành và hoàn thành vượt chỉ tiêu kế hoạch:
1. Xí nghiệp tocan: 107,8% 3. Phòng XNK 6: 106,3%
2. Phòng XNK 8: 107,4% 4. Phòng XNK 1: 105%
có 6 bộ phận không hoàn thành kế hoạch xuất khẩu đó là phòng XNK 2, XNK 3, XNK 4,
XNK 7, chi nhánh Hải Phòng và chi nhánh TP. HCM
Xí nghiệp tocan: Năm 2003 mặc dù có nhiều biến động như phải điều chuyển bố trí lại
sản xuất, tình hình nước úng ngập kéo dài, cuối năm bị thiếu hụt nguyên liệu trầm trọng
song xí nghiệp vẫn cố gắng khắc phục để hoàn thành các chỉ tiêu được giao như thực hiện
kim ngạch XK là 3.234.152 bằng 107,8% so với kế hoạch.
Hai chi nhánh tại Hải Phòng và tại T.P HCM: trong năm qua cả hai chi nhánh đều được
củng cố lại và bắt tay vào hoạt động kinh doanh, tuy kim ngạch chưa cao nhưng đã đánh
giá được sự ổn định và cố gắng của cả hai chi nhánh. Chi nhánh Hải Phòng có triển vọng
trở thành một bộ phận kinh doanh khá của công ty.
2.1.6 Phân tích tình hình xuất khẩu theo các mặt hàng chủ yếu
Công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm Hà Nội kinh doanh xuất nhập khẩu rất nhiều
loại hàng hoá khác nhau, nhưng có những mặt hàng xuất khẩu là mặt hàng chủ lực của
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
công ty. Để biết được các mặt hàng chủ yếu đã được thực hiện xuất khẩu so với kế hoạch
như thế nào công ty sau mỗi kỳ kinh doanh công ty đã thống kê như sau:
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là:
+ Chổi quét sơn: 3.483.157/ 3.000.000 USD KH
+ Hàng văn phòng phẩm: 2.091.600 / 1.000.000 KH
+ Hàng nông sản: 538.475 USD

được các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xuất khẩu từ đó cứ sau mỗi kỳ kinh doanh công ty
đều tiến hành phân tích hiệu qủa xuất khẩu dựa vào các chỉ tiêu đã xác định. Phân tích
hiệu quả xuất khẩu giúp cho công ty nhìn ra được kết quả mà công ty thu được so với chi
phí đã bỏ ra, công ty sẽ không có những ảo tưởng về lợi nhuận đạt được từ đó sẽ có
hướng kinh doanh đúng đắn. Có nhiều công ty do không hiểu một cách chính xác hiệu
quả kinh doanh nên đã có những bước đi sai lầm gây hậu quả nghiêm trọng. Để phân tích
hiệu quả xuất khẩu công ty sử dụng các chỉ tiêu sau:
1. Tổng lợi nhuận
Hiệu quả ở đây biểu hiện thông qua việc so sánh kết quả (doanh thu) và chi phí bỏ
ra trong quá trình kinh doanh gắn với doanh thu đó.
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Biểu 5: Phân tích chung tình hình lợi nhuận
+ Thu từ hoạt động tài chính 1.925.882.721
+ Chi phí hoạt động tài chính 1.194.576.255
7/ Lợi tức hoạt động tài chính 731.306.466
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
+ Các khoản thu bất thường 1.330.073
+ Chi phí bất thường 0
8/ Lợi tức bất thường 1.330.073
9/ Tổng LN trước thuế 2.098.567.682
10/ Thuế thu nhập 671.541.658
11/ Lợi tức sau thuế 1.427.026.024
Qua báo cáo kết quả kinh doanh ta thấy tình hình kinh doanh của công ty năm
2003 là tốt hơn so với năm 2002. Lợi nhuận sau thuế tăng 26.011.959 đồng so với năm
2001 tương ứng với tỷ lệ 1,82%. Các nhân tố dẫn đến lợi nhuận tăng là:
+ Tổng doanh thu tăng so với năm 2003 nhưng doanh thu xuất khẩu thì lại giảm
làm cho doanh thu thuần tăng so với năm 2002 là 51.214.851.233 tương ứng với tỷ lệ là
17,76%.
+ Giá vốn hàng bán tăng với số tuyệt đối là 51.376.716.274 với tỷ lệ là 19,27%,
điều này dẫn đến lợi nhuận gộp giảm với số tiền là (-161.865.041) tương ứng với tỷ lệ là

Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu giảm so với năm 2002 là 0,1% còn tỷ suất lợi
nhuận sau thuế trên doanh thu giảm 0,07%. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu giảm cũng
có nghĩa là lợi nhuận thu được do doanh thu xuất khẩu đem lại là giảm chứng tỏ hiệu quả
xuất khẩu giảm sút. Mặc dù tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu giảm không đáng kể nhưng
công ty cũng cần phải lưu ý và có biện pháp để nâng cao tỷ suất lợi nhuận trong năm
2004.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
3/ Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
Biểu 7: Phân tích chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản Đơn vị tính 2002 2003
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế /Tổng tài sản % 1,51 1,47
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản % 1,02 1
4/ Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên nguồn vốn chủ sở hữu
Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng nguồn vốn chủ sở
hữu. Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra thì thu được bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế.
TS / NVCSH (2002) = 2,93
TS / NVCSH (2003) = 2,91
III. Nhận xét đánh giá về thực trạng tổ chức công tác phân tích tình hình và hiệu quả xuất
khẩu tại Công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm Hà Nội
Về tổ chức công tác phân tích:
Công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm Hà Nội trong những năm vừa qua đã đạt được
những thành tích đáng kể, điều đó một phần nhờ vào công tác tổ chức phân tích được
thực hiện thường xuyên liên tục sau mỗi kỳ kinh doanh và ngay cả trong khi thực hiện kế
hoạch kinh doanh. Công ty luôn cố gắng hoàn thành tốt công tác phân tích đặc biệt là các
nhân viên phòng tổng hợp đã luôn thu thập những thông tin, số liệu cập nhật kịp thời nhất
để giúp giám đốc nắm chắc diễn biến kinh doanh từ đó luôn chủ động đối phó với những
thay đổi của môi trường kinh doanh, đưa ra những quyết định đúng đắn giúp công ty hoạt
động liên tục có hiệu quả. Tuy nhiên công tác tổ chức phân tích tại công ty cũng còn có
những điểm thiếu sót cần khắc phục, sửa đổi.

công ty cần có những biện pháp để có thể xuất khẩu được nhiều hàng hoá hơn nữa. Muốn
làm được điều này, công ty cần phảichú trọng hơn nữa đến công tác tổ chức phân tích tại
công ty.
* Về nội dung phân tích
Tại công ty hàng kỳ đều tiến hành phân tích tình hình và hiệu quả xuất khẩu
nhưng nội dung phân tích còn sơ sài và có nhiều thiếu sót. Phương pháp dùng để phân
tích chủ yếu là phương pháp so sánh giản đơn, phương pháp này đơn giản dễ tính toán,
bảng biểu phân tích không có sự thay đổi nhiều qua các năm. Một số bảng biểu thiếu vài
cột tính toán nên đã làm giảm đi khả năng cung cấp thông tin của biểu mẫu và dẫn đến
biểu mẫu không thể hiện được hết nội dung cần phân tích, cụ thể là:
+ Trong nội dung phân tích tình hình xuất khẩu theo tháng biểu mẫu mà công ty
dùng để phân tích thiếu cột số lượng, đơn giá, % hoàn thành kế hoạch tháng, % hoàn
thành kế hoạch chung,
+ Trong biểu phân tích tình hình xuất khẩu theo các phòng kinh doanh biểu mẫu
mà công ty đã lập vẫn chưa thể hiện được sự biến động của kim ngạch xuất khẩu từng
phòng bằng số tuyệt đối và ảnh hưởng của việc hoàn thành kế hoạch của từng phòng đến
việc hoàn thành kế hoạch chung.
+ Khi phân tích tình hình xuất khẩu theo các mặt hàng chủ yếu công ty không lập
bảng biểu phân tích cụ thể mà chỉ ghi số theo dạng gạch đầu dòng. Việc phân tích như
vậy không khoa học, không thể hiện được sự biến động về kim ngạch xuất khẩu của các
mặt hàng qua các thời kỳ khác nhau hay thực hiện so với kế hoạch.
Việc phân tích tình hình xuất khẩu vẫn còn thiếu một số nội dung quan trọng như:
phân tích tình hình xuất khẩu theo thị trường, theo loại hàng và thị trường, theo phương
thức xuất khẩu. Việc phân tích theo những nội dung này cũng rất cần thiết nó giúp nhà
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
quản lý có cái nhìn toàn diện hơn về tình hình xuất khẩu trên nhiều mặt từ đó sẽ có hướng
xuất khẩu cho thích hợp như: xuất khẩu chủ yếu mặt hàng nào, vào thị trường nào, theo
phương thức gì.
Việc phân tích hiệu quả xuất khẩu vẫn còn thiếu nhiều chỉ tiêu như tỷ suất sinh lời
của ngoại tệ, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, trong khi phân tích hiệu quả xuất khẩu phải

doanh quốc tế và môi trường kinh tế chính trị, pháp luật của nước khách hàng là một yếu
tố luôn biến động bất thường gây khó khăn cho doanh nghiệp và ảnh hưởng đến hiệu quả
kinh doanh. Đây là yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp doanh nghiệp chỉ
có một cách là luôn nắm vững tình hình thị trường để chủ động đối phó với nó, đưa
doanh nghiệp vượt qua những khó khăn để thực hiện xuất khẩu tốt hơn. Các doanh
nghiệp khi tiến hành xuất khẩu hàng hoá phải nghiên cứu phân tích kỹ lưỡng tình hình thị
trường, nhu cầu của khách hàng, phân tích tình hình xuất khẩu sau mỗi kỳ kinh doanh để
có định hướng kinh doanh cho kỳ sau. Mặc dù là đã cố gắng để đạt hiệu quả xuất khẩu
cao nhưng mọi thứ không phải là tuyệt đối, việc tổ chức và phân tích tình hình và hiệu
quả xuất khẩu có thể có những thiếu sót, chưa được hoàn thiện về cả công tác tổ chức
phân tích và các nội dung phân tích, chính vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm
hơn nữa đến công tác phân tích hoạt động xuất khẩu, thường xuyên tìm hiểu nghiên cứu
để xem doanh nghiệp đã tận dụng hết ưu thế của công tác phân tích trong việc nâng cao
hiệu quả, tìm ra những khó khăn phát sinh trong quá trình xuất khẩu hàng hoá hay chưa.
Các doanh nghiệp cần phải luôn hoàn thiện tổ chức tốt công tác phân tích tình hình và
hiệu quả xuất khẩu. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế chuyển sang nền
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status