Bài giảng khoa học môi trường và sức khỏe môi trường part 4 - Pdf 19

1
60

Nếu lượng clo cho vào nước nhiều (so với amoniac) thì phản ứng sẽ tạo thành nitơ
tương tự như hiện tượng xảy ra sau điểm uốn của đường cong clo hóa
2NH
2
Cl + Cl
2
→ N
2
+ 4HCl
2.4.2. Những yếu tố ảnh đến quá trình khử trùng nước bằng chlor
Nước thiên nhiên, thường chứa nhiều chất dễ bị oxy hóa (như các loại muối hóa tan,
các sản phẩm phân hủy của protid chất sắt), các chất này nếu càng nhiều thì lượng chlor cần
đến càng tăng. Đó là những chất hút chlor của nước.
Hiệu lực khử trùng nước phụ thuộc vào những yếu tố sau:
- Thời gian tiếp xúc.
- Nhiệt độ của nước.
- pH của nước ( pH < 8 ).
- Chất NH
3
trong nước.
- Lượng chlor tiêu thụ (nhu cầu chlor).
-Lượng chlor thừa.
Vì lượng chlor cần thiết để khử trùng nước (liều chlor) gồm lượng chlor tiêu thụ (nhu
cầu chlor) cọng với lượng chlor thừa nhất định để làm vi khuẩn chết. Do vậy, để đảm bảo khử
trùng nước triệt để thì nồng độ chlor thừa (sau thời gian tiếp xúc với nước, thường là 30 phút)
cần:
- 0,3 mg/lít Cl
2

nước cung cấp nước máy thành phố. Tóm tắt báo cáo khoa học Hội nghị môi trường toàn
quốc 1998, Hà Nội.
3. Đào Ngọc Phong và cs (2001), Vệ sinh - Môi trường - Dịch tễ. Tập I, NXB Y học, Hà Nội.
4. Đào Ngọc Phong, Lê Quang Hoành và cs (2001), Vệ sinh môi trường và nguy cơ tới sức
khoẻ, NXB Y học, Hà Nội.
5. Nguyễn Viết Phổ và cộng sự (1992), Đánh giá tài nguyên nước và sử dụng nước của Cộng
Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ủy ban Quốc gia Việt Nam về chương trình thủy văn quốc
tế.
6. Phạm Song (1997), Nước và nước sạch ở Việt Nam, Trong Hội thảo quốc gia chất lượng
và kiểm soát chất lượng nước.
7. Lê Trình (1997), Quan trắc và kiểm soát ô nhiễm môi trường nước, NXB khoa học và kỹ
thuật.
8. Trung tâm tiêu chuẩn - chất lượng (2004) Các tiêu chuẩn Nhà nước Việt Nam về môi
trường, Tập 1, Chất lượng nước. Hà Nội.
9. Deborah Chapman (1992), Water quality Assessments, Unesco, WHO, UNEP Publishes by
Comdon, New York-Tokyo.
10. Eli Daly, Richard Helmer and David Wheches (1992), Surveillance and Control of
drinking Water quality, New York.
11. Howard J. Oxfam (1997), Safe drinking water, An Oxfam technical guide. Oxford.
12.WHO (2002), Guidelines for drinkingwater quality, Volumme 3 Surveillance and Control
of communnity supply, Geneva.

1
62

khi thành phần của nước bị thay đổi, hoặc bị hủy hoại làm cho không thể thể sử dụng nước
cho mọi hoạt động của con người và sinh vật”.

Một khi, nguồn nước bị ô nhiễm, thành phần và bản chất của nguồn nước sẽ thay đổi, biến dạng.
- Thay đổi tính chất lý học (màu, mùi, vị, pH )
- Thay đổi thành phần hóa học (tăng hàm lượng các hợp chất hữu cơ, các chất vô cơ,
các hợp chất độc )
- Thay đổi hệ vi sinh vật có trong nước (làm tăng hoặc giảm số lượng vi sinh vật hoại
sinh, vi khuẩn và virus gây bệnh ) hoặc xuất hiện trong nước các loại sinh vật mà trước đây
không có trong nguồn nước.
II. Nguồn gốc của ô nhiễm nước

Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do nhiều chất bẩn khác nhau. Người ta thường phân
định ra những nguyên nhân như sau:
1. Ô nhiễm nước do nước thải khu dân cư
Nước thải từ hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, trường học, cơ quan, chứa các chất thải
trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người được gọi chung là nước thải sinh hoạt, nước
thải từ khu dân cư hoặc nước thải vệ sinh

1
63

Bảng 1. Thống kê một số thành phần cơ bản trong nước thải đô thị
Thành phần Nguồn thải Ảnh hưởng trong nước
Các chất tiêu thụ oxi Hầu hết các chất hữu cơ Tiêu thụ oxi hoà tan
Các chất hữu cơ ít khả năng
phân huỷ sinh học
Chất thải công nghiệp, sản
phẩm sinh hoạt
Độc hại cho thủy sinh vật

Nước chảy tràn từ mặt đất do nước mưa hoặc do thoát từ đồng ruộng là nguồn gây ô
nhiễm nước sông, hồ, nước rửa trôi qua đồng ruộng có thể cuốn theo chất rắn (rác), hóa chất
bảo vệ thực vật, phân bón. Nước rửa trôi qua khu dân cư, đường phố, cơ sở sản xuất công
nghiệp có thể là ô nhiễm nguồn nước do chất rắn, dầu mỡ, hóa chất vi trùng
- Quá trình tự làm sạch của nước
Các quá trình phân hủy, tách và lắng đọng các chất trong nước xảy ra trong điều kiện
tự nhiên. Đó là quá trình tự làm sạch của nước. Quá trình này có thể phân ra hai nhóm:
+ Quá trình vật lý như hấp phụ, keo tụ, lắng, phân ly, tách các chất ô nhiễm ra khỏi
nước. Ví dụ để lắng các chất không tan làm cho nước trong.
+ Quá trình hóa học sinh học gồm các phản ứng thủy phân, oxy hóa khử, polyme hóa
nhờ có men hoặc vi khuẩn xúc tác làm cho chất ô nhiễm trở nên ít độc hoặc không độc.
Quá trình tự làm sạch nước tự nhiên diễn ra dễ dàng và nhanh chóng ở dòng sông,
dòng chảy; còn ở hồ tĩnh lặng chậm chạp hơn. Hơn nữa dưới tác dụng của bức xạ mặt trời quá
trình quang hợp tăng: tiêu thụ nhiều CO
2
hơn, sinh lượng oxy nhiều hơn giúp làm sạch nước
tự nhiên tốt hơn.
1
64

Khi cân bằng động làm sạch tự nhiên bị phá vỡ, chất ô nhiễm quá lớn, cần sử dụng
làm sạch nhân tạo. Kỹ thuật xử lý nước phục vụ cho trường hợp này.
4. Tình hình ô nhiễm nguồn nước trên thế giới và ở Việt Nam
4.1. Ô nhiễm do chất hữu cơ
Chất hữu cơ là tác nhân ô nhiễm phổ biến nhất trong các sông, hồ. Tác nhân ô nhiễm
này có nồng độ lớn trong nước thải sinh hoạt và nước thải một số ngành công nghiệp (chế
biến thực phẩm, thuộc da, dệt nhuộm ). Ô nhiễm chất hữu cơ được đánh giá qua các chỉ số
cân bằng ôxi COD, BOD và DO. Từ số liệu của hàng trăm trạm quan trắc cho thấy trên thế
giới có khoảng 10% số dòng sông bị ô nhiễm hữu cơ rõ rệt (BOD > 6,5 mg/L hoặc COD > 44
mg/L); 5% dòng sông có nồng độ DO thấp; 50% số dòng sông trên thế giới bị ô nhiễm hữu cơ

10-99 4 1 3 2
100-999 8 10 9 14
1.000-9.999 3 9 11 10
10.000-99.999 0 2 7 2
> 100.000 0 2 0 3
4.3. Ô nhiễm do các chất dinh dưỡng
Khoảng 10% số sông trên thế giới có nồng độ nitrat rất cao (9-25 mg/L), vượt nhiều lần
so với tiêu chuẩn nước uống của WHO (10 mg/L). Khoảng 10% các sông có nồng độ photpho 0,2-
2,0 mg/L tức cao hơn 20-200 lần so với các sông bị ô nhiễm. Nguồn nước giàu các dinh dưỡng P, N
có khả năng bị phú dưỡng hóa. Trên 30% trong số 800 hồ ở Tây Ban Nha và nhiều hồ ở Nam Phi,
Úc và Mêhico cũng bị phú dưỡng hóa. Tuy nhiên, các hồ cực lớn như hồ Baikal (chứa 20% lượng
nước ngọt toàn cầu), hồ Thượng Hồ, hồ Malawi chưa bị phú dưỡng.
4.4. Ô nhiễm do kim loại nặng
1
65Nguồn chủ yếu đưa kim loại nặng vào nước là từ các mỏ khai thác, các công nghiệp nặng
và từ các bãi chôn lấp chất thải công nghiệp. Ô nhiễm do kim loại nặng chủ yếu ở các nước công
nghiệp. Trong nước sông Rhine tại Hà Lan, nồng độ kim loại nặng không hòa tan trong nước tăng
dần từ đầu thế kỷ đến năm 1960, sau đó giảm dần nhờ các biện pháp xử lý nước thải. Nồng độ
thủy ngân, cadmi, crôm, và chì trong các năm 1990 tương ứng là 1 mðg/L, 2 mðg/L, 80 mðg/L và
200 80 mðg/L. Nồng độ các nguyên tố này vào năm 1960 tương ứng là 8 mðg/L, 10 mðg/L, 600
mðg/L và 50 mðg/L. Đến năm 1980 nồng độ thủy ngân, cadmi, crôm và chì trong nước
sông
Rhine là 5 mðg/L, 20 mðg/L, 700 mðg/L và 400 µg/L

4.5. Ô nhiễm do các chất hữu cơ vi lượng
Các chất hữu cơ vi lượng là các hóa chất bền vững như clo hữu cơ, polyclobiphenyl
(PCB) và dung môi công nghiệp được đưa vào nguồn nước từ các nhà máy lọc dầu, dệt, giấy,

- Nước thải của nhà máy thực phẩm (nhà máy đông lạnh, nhà máy bia) có hàm lượng chất
hữu cơ, dinh dưỡng và chất rắn lơ lững rất cao góp phần gây ô nhiễm nước sông Hương
4.6.3. Ô nhiễm nguồn nước mặt ở thành phố Đà Nẵng
Kết quả quan trắc, phân tích cho thấy hiện trạng chất lượng nước mặt tại các khu vực
Đà Nẵng nằm ở mức ô nhiễm nhẹ, còn nằm trong giới hạn tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn
nước cấp phục vụ sinh hoạt và sản xuất (trừ độ mặn)
1
66

5. Những hậu quả do nguồn nước bị ô nhiễm
5.1. Do các chất hữu cơ dễ phân hủy
Nguồn nước có thể bị ô nhiễm do các chất hữu cơ động vật và thực vật (Hữu cơ thực
vật = xác cây cối, hoa quả, các chất mùn: nguyên tố cơ bản gây bẩn là carbon; hữu cơ động
vật = phân, xác động vật thối rữa nguyên tố gây bẩn chính là nitơ).
Khi nguồn nước bị ô nhiễm nhẹ (lượng o xy hòa tan trong nước ở trên mức giới hạn
cho phép); các chất hữu cơ sẽ được phân hủy bởi các vi khuẩn hiếu khí tạo thành các sản
phẩm trung gian, gây ô nhiễm như: nitrite, nitrate, sunfat, phosphat, CO
2

Khi nguồn nước bị nhiễm bẩn nặng (lượng oxy hòa tan bị giảm đến mức tối thiểu) quá
trình phân hủy các chất hữu cơ sẽ do các vi khuẩn kỵ khí đảm nhận và tạo ra các sản phẩm
gây nhiễm bẩn nước như Indol, Scartol, H
2
S,NH
3
, CH
4

Để đánh giá mức độ nhiễm bẩn của nước do các chất hữu cơ, người ta thường sử dụng
các chỉ số sau đây:

0
C
trong 5 ngày.
Nhu cầu hóa học oxi là lượng oxi cần thiết để oxi hóa các hợp chất vô cơ và hữu cơ trong
nước.
Để xác định giá trị COD người ta dùng phương pháp bicromat theo phản ứng hóa học
sau:
Chất hữu cơ + Cr
2
O
7
2-
+ H
+
→ CO
2
+ H
2
O + 2Cr
3+

Như vậy, COD là lượng oxi cần để oxi hóa toàn bộ các chất hữu cơ trong nước, trong khi đó
BOD là lượng oxi cần thiết để oxi hóa một phần các hợp chất hữu cơ dễ phân hủy bởi vi sinh vật
Khi nồng độ COD và BOD cao sẽ làm giảm DO của nước có hại cho sinh vật nước và
hệ sinh thái nước nói chung.
Sự khác nhau giữa hai thông số BOD và COD:
Cả hai thông số đều xác định lượng chất hữu cơ có khả năng bị oxi hóa có trong nước,
nhưng chúng khác nhau về ý nghĩa. BOD thể hiện lượng chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học,
1
67

Do nhiều hoạt động trên lưu vực dẫn đến nhiệt độ biên của các dòng nước tăng lên bất
thường. Khi nhiệt độ biên tăng lên 30C có thể gây ra nhiều tác động cho các hệ sinh thái thủy
vực. Các dòng nước nóng đổ vào các nguồn nước thường là từ các nhà máy nhiệt điện, các cơ
sở công nghiệp, và phổ biến hơn cả là các dòng nước mưa có nhiệt độ cao. Thêm vào đó do
các hoạt động trong quá trình đô thị hóa càng làm gia tăng các dòng nước nóng tự nhiên. Khi
nhiệt độ của nước cao hơn bình thường, các kim loại như đồng, cadmi được tích lũy trong các
thủy sinh vật tăng lên gấp đôi. Hơn nữa các ảnh hưởng trực tiếp của việc gia tăng nhiệt độ lên
hệ thống sinh vật thủy sinh còn là đẩy mạnh quá trình tích tụ sinh học các kim loại độc trong
chuỗi thức ăn. Do ảnh hưởng của ô nhiễm nhiệt số lượng fecal coliorm sẽ tăng từ 100 lên
1000 các thể trong trầm tích đáy. Một vài loại vi khuẩn và tảo lại phát triển rất mạnh trong
điều kiện nhiệt độ cao này, dẫn đến chi phí về khử trùng tăng lên. Ngoài ra chúng còn kéo
theo nhiều rắc rối khác liên quan đến sự xuất hiện mùi, vị khó chịu, nước có màu sẫm hơn,
thay đổi pH, phóng thải các chất độc và giảm lượng oxi hòa tan
- Các hợp chất hữu cơ
Hóa chất hữu cơ bao gồm các loại thuốc bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu, diệt côn trùng,
diệt nấm, diệt cỏ dại và diệt chuột), các chất tẩy dầu mỡ, các dung môi hữu cơ và nhiều hợp
chất sử dụng trong công nghiệp nhựa; các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi như benzen, xăng dầu.
Một vài hợp chất hữu cơ trong số đó có thể kết hợp với các hóa chất khử trùng, tẩy uế, thí dụ
THM (trihalogen methan)
1
68

Các tác động lên sức khỏe tùy thuộc hoàn toàn vào tính chất các hợp chất hữu cơ và
liều lượng con người hấp thu vào. Một vài loại thuốc trừ sâu và dung môi hữu cơ có thể gây
ung thư, một số khác lại gây tác hại đến các cơ quan nội tạng của con người, một số khác có
khả năng gây đột biến gen
Có một số loài tảo lam có khả năng quang hợp tạo ra độc tố cyanua (cyanotoxin), khi
các tế bào tảo chết, chúng bị phân hủy và phóng thải các cyanua vào nước. Các căn bệnh do
nhiễm các chất độc này thường là các bệnh về gan, rối loạn tiêu hóa, viêm loét dạ dày, dị ứng
ngoài da do tiếp xúc nước như các hoạt động vui chơi giải trí. Các báo cáo về sức khỏe cộng

cực kỳ bé. Dưới đây là một số kim loại nặng và sự liên quan của chúng đến môi trường và
chất lượng nước

+ Cadmi xâm nhập vào nguồn nước từ các hoạt động công nghiệp như mạ điện, đúc
kim loại, khai thác mỏ, sản xuất sơn màu và chất dẻo. Các dòng nước chảy qua thành phố
cũng đóng góp một lượng Cadmi đáng kể. Cadmi được U.S EPA (Cơ quan bảo vệ môi trường
Hoa Kỳ) xác định là có thể gây ung thư. Ở hàm lượng thấp cadmi có thể gây nôn mửa, nếu bị
ảnh hưởng lâu dài sẽ gây rối loạn chức năng của thận. Hàm lượng cao có thể gây tử vong
+ Crôm được tìm thấy từ chất thải của nhà máy tráng mạ kim loại, các khu khai thác
mỏ, từ khí thải động cơ. Crôm ở trạng thái hóa trị III là một nguyên tố cần thiết cho quá trình
sống; nhưng khi ở dạng hóa trị IV nó trở nên rất độc hại đối với gan và thận, có thể gây xuất
1
69

huyết nội và rối loạn hô hấp. Khi hít phải crom thì có thể gây ra các bệnh ung thư. Nếu tiếp
xúc thường xuyên với crôm sẽ bị viêm loét da
+ Đồng tìm thấy trong các dòng suối có nguồn gốc từ núi đá trần, từ hoạt động xử lý
tảo sử dụng sunphat đồng. các dòng nước mưa đô thị thường được xem là một trong những
nguồn cung cấp đồng lớn. Hầu hết lượng đồng có trong nước máy là do sự ăn mòn của các
ống dẫn làm bằng đồng và đồng thau. Đồng là một nguyên tố cần thiết phải có trong cơ thể,
nhưng nếu ăn quá nhiều thì cũng gây ra nhiều căn bệnh ác tính. Ở hàm lượng cao đồng sẽ phá
hủy gan và thận, gây rối loạn tiêu hóa và tình trạng thiếu máu. Hiện tại chưa có bằng chứng rõ
ràng để có thể kết luận đồng có thể gây ung thư hay không
+ Chì đã được U.S EPA xác định là một trong những chất ô nhiễm phổ biến nhất trong
các dòng nước mưa đô thị. Trong nước máy, hầu hết lượng chì tìm thấy là do sự bào mòn các
ống dẫn làm bằng chì hoặc được hàn bằng chì. Chì có thể là nguyên nhân gây ra rất nhiều
triệu chứng ốm đau như thiếu máu, đau thận, rối loạn khả năng sinh sản, suy giảm trí nhớ và
kìm hãm các quá trình phát triển trí tuệ cũng như cơ bắp. Dựa trên nghiên cứu về các khối u ở
chuột U.S EPA đã kết luận rằng chì là chất có khả năng gây ung thư
+ Thủy ngân là kim loại gây ô nhiễm nước liên quan đến sự lắng tụ từ không khí, từ

có thể là từ các trung tâm y tế có sử dụng các máy X quang, các trung tâm y học hạt nhân có
sử dụng các nguồn phóng xạ để xử lý bướu hoặc các khối u ung thư. Các nhà máy điện hạt
nhân, các chất thải phóng xạ, các phương tiện nghiên cứu có nguồn phóng xạ đều có khả năng
1
70

phát ra các tia bức xạ. Các nhà máy công nghiệp như thuốc lá, chế biến thực phẩm, sản xuất
khai thác vật liệu xây dựng như đá, cát đều được xem là các nguồn thải chất phóng xạ vào
nguồn nước uống. Các chất phóng xạ là nguyên nhân của nhiều căn bệnh ung thư do chúng
làm thay đổi các cấu trúc của nhiễm sắc thể trong các tế bào. Hơn nữa các đột biến gen này
còn mang tính chất di truyền. Các ảnh hưởng đến sức khỏe là do tổng liều lượng bức xạ cơ thể
hấp thu. Với tia beta/phôtông, EPA qui định tổng liều lượng an toàn cho một người là 4
mrem/năm. Thực ra phóng xạ cơ thể thu nhận từ nước uống là rất ít, mà lượng phóng xạ chủ
yếu gây ra các rủi ro cho sức khỏe đặc biệt là các ca ung thư phổi là phóng xạ từ khí radon
phát ra từ cát sạn, đá xây nhà.
5.2.2. Ô nhiễm nước do tác nhân sinh học
Hầu hết các vi sinh vật gây bệnh trong nước thường có nguồn gốc từ phân người, động
vật, chúng xâm nhập vào nguồn nước, vượt qua các quá trình khử trùng và rồi tiến vào các ống
dẫn nước. Các hệ thống hố xí, các dòng nước mưa từ các khu chợ búa, các trang trại chăn nuôi, do
phân của các sinh vật hoang dã, chất thải từ thuyền bè chính là nguồn cung cấp các mầm bệnh cho
các nguồn nước. Do các múi nối của ống dẫn vỡ, các bể chứa bị thủng và các hoạt động khử trùng
không thích hợp chính là những cơ hội giúp vi sinh vật dễ dàng xâm nhập vào nước máy
Những tác nhân sinh học chính, truyền qua nước có thể xếp thành 4 loại: vi khuẩn,
virus, ký sinh trùng và các loại vi sinh vật khác.
Sự nguy hại đến sức khỏe con người do uống nước trực tiếp, do ăn các loại thực phẩm,
hoặc do sử dụng nước trong chế biến thức ăn, vệ sinh cá nhân
Có thể phân loại ô nhiễm nước do tác nhân sinh học như sau:
- Virus
+ Virus nhiễm qua đường tiêu hóa.
Khi nước uống bị nhiễm bẩn Virus đường ruột thì 3 bệnh có thể xảy ra thành dịch là

nguồn nước bị ô nhiễm thì nhiều loại tạp khuẩn có thể xâm nhập qua đường sinh dục dưới và
gây bệnh viêm nhiễm phụ khoa cho phụ nữ.
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các phụ nữ nông dân trong
quá trình lao động do phải ngâm mình dưới nước bị nhiễm bẩn hoặc sử dụng nguồn nước bị
nhiễm bẩn để tắm rửa thì tỉ lệ viêm nhiễm đường sinh dục dưới tăng cao đáng kể.
- Các vi khuẩn nhiễm qua đường tiêu hóa Nhóm vi khuẩn gây bệnh cho người qua
đường tiêu hóa thường có những đặc tính sinh học như sau:
Nơi cư trú thường là ruột người, hoặc ruột động vật máu nóng. Bệnh lây truyền qua
phân: trực tiếp từ phân đến miệng hoặc gián tiếp qua trung gian thức ăn mà chủ yếu là nước bị
nhiễm phân. Nhóm vi khuẩn này là nguyên nhân gây ra hầu hết các vụ dịch lớn, có nguồn gốc
từ nước, trong lịch sử: dịch tả,dịch thương hàn và bệnh tương tự (do Salmonella Typhy, Para
typhy B và vài typ lân cận) dịch lỵ trực khuẩn (do Shigella). Mức độ nghiêm trọng của các vụ
dịch kế tiếp, đã khiến cho suốt những thập niên sau này, việc phòng ngừa và xử lý nước đều
hướng chủ yếu vào mục đích là chống lại các nguy cơ nêu trên.
- Các nguyên sinh động vật
Trong số nhiều loại nguyên sinh động vật gây bệnh cho người, gồm có: Entamoeba
histolytica (Rhizopda) gây bệnh kiết lỵ amib, Giardia intestinalis (trùng soi, plagellata) và
Balantidium coli cả 3 loại trên đều gây nên rối loạn đường ruột đôi khi khá nghiêm trọng.
Chúng được đào thải theo phân ở dạng kén bền vững. Người bị nhiễm qua đường tiêu hóa.
Kén của các loài nguyên sinh động vật trên đây có thể tồn tại trong nước từ 2 đến 3 tuần, các
loại kén này rất bền vững với các tác nhân tiệt khuẩn thông thường, ngược lại chúng bị cản trở
bởi lọc. Muốn tiêu diệt kén phải dùng lượng chlor 5mg/l trong 1 giờ hoặc đun nước trên 60
0
C.
- Giun sán

Chu trình các loài giun sán thường phức tạp, đôi khi cần qua vài dạng ấu trùng trên vật
chủ trung gian. Nhiều loài giun lây truyền qua nước như: giun đũa, tóc, kim. Do phân nhiễm
vào nước, rồi trứng giun nở ra phôi trong nước gặp điều kiện thuận lợi thì nhiễm qua người.
Nước cũng đóng vai trò lây truyền bệnh sán cho người, mà đặc biệt quan trọng là 2 loại

- Bố trí khu sản xuất hoặc khu dân cư gần các nguồn nước, quy mô các khu này cần
tính toán phù hợp với tiềm năng nguồn nước kể cả trước mắt và tương lai.
- Nghiên cứu áp dụng các phương pháp tiết kiệm sử dụng nước (tính theo đơn vị sản
phẩm hay đầu người).

- Nghiên cứu chuyển công nghệ khép kín và nối tiếp nhau, theo một trình tự
hợp lý: một lượng nước sử dụng cho nhiều đối tượng.
- Nghiên cứu sử dụng lại nước thải cho mục đích khác.
- Nghiên cứu chuyển một số công nghệ sản xuất dùng nước sang công nghệ mới.
Ví dụ: dùng không khí thay nước làm mát.
- Nghiên cứu chính sách kinh tế làm đòn bẩy cho việc tiết kiệm sử dụng nước.

IV.
Các biện pháp bảo vệ nguồn nước

1. Kiểm soát chất ô nhiễm trong nước thải
Tùy mục đích sử dụng mà yêu cầu chất lượng nước khác nhau. Chất lượng nguồn
nước được đặc trưng bằng nồng độ giới hạn cho phép của các thành phần có mặt mà trong quá
trình tác động lâu dài không ảnh hưởng tới sức khỏe con người và phá hủy hệ sinh thái nguồn
nước.
Để bảo vệ nguồn nước mặt có hiệu quả, các chỉ tiêu đánh giá tình trạng vệ sinh nước
thải phải được kiểm tra chặt chẽ theo tiêu chuẩn.
2. Tổ chức giám sát chất lượng nước nguồn
Giám sát (monitoring) chất lượng nước các khu vực là để đánh giá chất lượng nước,
dự báo mức độ ô nhiễm nguồn nước. Đó là cơ sở để xây dựng các biện pháp bảo vệ có hiệu
quả. Nội dung cơ bản của hệ thống giám sát chất lượng nước trong khuôn khổ hệ thống giám
sát môi trường toàn cầu (GEM) là:
- Đánh giá các tác động do hoạt động của con người đối với nguồn nước và khả năng
sử dụng nước vào các mục đích khác nhau.
- Xác định chất lượng nước tự nhiên.

2
H
2
O + CO
2
+ năng lượng
Chất hữu cơ + O
2
Tế bào mới
Tế bào mới + O
2
CO
2
+ H
2
O + NH
3

Tổng cộng: Chất hữu cơ + O
2
CO
2
+ H
2
O + NH
3Điều kiện cần thiết cho quá trình xử lý hiếu khí: pH = 5,5-9,0. Oxi hòa tan =ð 0,5
mg/L; nhiệt độ: 5-40


Trong điều kiện thiếu oxi hòa tan việc khử nitrit hóa sẽ xảy ra. Oxi được giải phóng từ
nitrat sẽ oxi chất hữu cơ nitơ và khí CO
2
sẽ được tạo thành:
NO
3
-

 →
sinhVi
NO
-
2
+ O
2

O
2

 →
Chathuuco
N
2
+ CO
2
+ H
2
O
Trong hệ thống xử lý theo kỹ thuật bùn hoạt tính sự khử nitric hóa sẽ xảy ra khi không


Các phương pháp kị khí thường được dùng để xử lý nước thải công nghiệp thực phẩm
và chất thải từ chuồng trại chăn nuôi, phân rác
2. Các phương pháp vật lý và hóa học
Các phương pháp xử lý sinh học được sử dụng với hiệu quả cao để xử lý chất hữu cơ
kém bền vững, nhưng ít hiệu quả với nước thải công nghiệp chứa các chất vô cơ độc hại hại
(kim loại nặng, axit, bazơ) hoặc các chất hữu cơ bền vững (các clobenzen, PCB, phenol ) và
cũng ít hiệu quả với một số loại vi trùng. Trong các trường hợp này cần kết hợp phương pháp
xử lý sinh học với các phương pháp lý, hóa học.
Năm loại phương pháp lý, hóa thường được dùng trong xử lý nước thải là:
- Phương pháp lắng và đông tụ
- Phương pháp hấp phụ
- Phương pháp trung hòa các axit và bazơ
- Phương pháp chiết tách
- Phương pháp clo hóa để khử trùng và phân hủy chất độc
2.1. Phương pháp hấp phụ
Phương pháp này dựa theo nguyên tắc các chất ô nhiễm tan trong nước có khả năng
hấp phụ lên bề mặt một số chất rắn (chất hấp phụ). Các chất hấp phụ thường dùng là: than
hoạt tính (dạng hạt hoặc dạng bột), than bùn Phương pháp hấp phụ có tác dụng tốt trong việc
CO
2
; CH
4

H
2
S
Chất hữu cơ axit hữu cơ CH
4
, và CO

(SO
4
)
3
.nH
2
O
- Nước vôi Ca(OH)
2

- Natri aluminat Na
2
AlO
4

- Sắt clorua và sắt (III) sunfat Fe
2
(SO
4
)
3

Thí dụ dùng phèn đê loại bỏ photphat trong nước thải:
Al
2
(SO
4
)
3
+ PO

trùng, diệt tảo và làm giảm mùi. Trong xử lý sinh học trước khi đưa nước đã xử lý vào sông,
hồ cần thực hiện việc khử trùng bằng clo hoá
2.5. So sánh ưu và nhược điểm của hai phương pháp xử lý nước thải
Câu hỏi lượng giá cuối bài 1. Phân tích đặc điểm của ô nhiễm nước
2. Trình bày dịch tễ học về ô nhiễm nước tại Việt Nam và khu vực
3. Mô tả những bệnh liên quan do ô nhiễm nước gây nên
4. Nêu biện pháp giáo dục sức khỏe về phòng chống ô nhiễm nước, bảo vệ nguồn nước
5. Mô tả những giải pháp để xử lý nước thải: công nghiệp, bệnh viện, sinh hoạt.

Phương pháp hóa học:
- Thiết bị phức tạp, giá đầu tư cao
- Tốn hoâ chất, giâ thănh cao
- Tạo nhiều bùn
- Hiệu quả xử lý chất hữu cơ kém (tối đa
70%)
- Xử lý được các kim loại nặng, chất hữu
cơ bền, vi sinh vật
Phương pháp sinh học:

9. Deborah Chapman (1992), Water quality Assessments, Unesco, WHO, UNEP Publishes by
Comdon, New York-Tokyo.
10. Eli Daly, Richard Helmer and David Wheches (1992), Surveillance and Control of
drinking Water quality, New York.
11. Howard J. Oxfam (1997), Safe drinking water, An Oxfam technical guide. Oxford.
12.WHO (2002), Guidelines for drinkingwater quality, Volumme 3 Surveillance and Control
of communnity supply, Geneva.
1
77

VỆ SINH ĐẤT- THANH TRỪ CHẤT THẢI ĐẶC Mục tiêu
1. Trình bày được các nguyên nhân gây ra ô nhiễm đất.
2. Nêu được các tác nhân sinh học gây bệnh cho người qua môi trường đất theo từng nhóm
đường truyền. Xác định được các chỉ số dùng để đánh giá đất bị ô nhiễîm bởi phân.
3. Nêu được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thanh trừ chất thải bỏ.
4. Nêu được sáu yêu cầu của một công trình xử lý phân hợp vệ sinh.; nguyên tắc hoạt động,
cách xây dựng, sử dung, bảo quản; ưu, nhược điểm của các loại công trình xử lý phân hợp vệ
sinh.
Nội dung
Đất được coi là một trong những yếu tố của môi trường xung quanh và có tác động
chặt chẽ với cơ thể con người. Với sự phát triển của ngành khoa học nói chung và y học nói
riêng, con người ngày càng hiểu môi trường đất một cách sâu rộng hơn. Ngày nay, người ta
không chỉ chú ý đến tính chất vật lý, thành phần hoá học, vai trò màu mỡ của đất mà còn chú
ý nghiên cứu ảnh hưởng qua lại giữa hoạt động của con người trong quá trình sống, lao động
sản xuất đến thành phần, tính chất của đất, nhất là hiện tượng nhiễm bẩn của đất đến sức khoẻ
con người.
I. Ô nhiễm đât và bệnh tât

cải thiện vệ sinh môi trường; góp phần hạn chế sự lây lan và phòng chống một số bệnh nhiễm
khuẩn, nhiễm ký sinh trùng đường ruột chủ yếu ở Việt Nam.
Trong lĩnh vực vệ sinh môi trường, trước tiên phải quan tâm đến tác động của môi
trường đến sức khỏe con người thông qua việc tìm hiểu tác nhân gây ô nhiễm môi trường và
dạng ô nhiễm. Với tình hình kinh tế - xã hội hiện nay thì chất thải bỏ trong các lĩnh nói trên đã
làm ô nhiễm môi trường nói chung trong đó có môi trường đất.
Vấn đề ô nhiễm đất bởi các chất thải có quan hệ với vấn đề ô nhiễm nước và không
khí, bởi vì các chất gây ô nhiễm đất vẫn nằm nguyên một chỗ trong một thời gian tương đối
dài nếu chúng không bị rữa trôi, bị tiêu hủy hay bị thủ tiêu bằng các phương pháp khác nhau.
2. Ảnh hưởng của ô nhiễm đất đối với sức khoẻ
2.1. Các bệnh do đất bị nhiễm bẫn bởi chất thải bỏ trong sinh hoạt
Tác nhân sinh học tồn tại thường xuyên trong các chất thải bỏ gây ra ô nhiễm đất và
gây bệnh cho người được chia theo 3 nhóm đường truyền:
2.1.1. Truyền bệnh từ người - đất - người
Trực khuẩn và các nguyên sinh động vật đường ruột có thể làm ô nhiễm đất là do:
- Những phương pháp đổ bỏ chất thải mất vệ sinh;
- Sử dụng phân bón lấy từ các loại hố xí hay bùn trong nước thải sinh hoạt không được xử lý.
Đất có thể bị ô nhiễm bởi trực khuẩn lỵñ, trực khuẩn thương hàn, phẩy khuẩn tả hoặc
amip. Tuy nhiên những bệnh do các vi sinh vật này gây ra thường lan truyền chủ yếu bởi
nước bị ô nhiễm hoặc truyền bệnh do tiếp xúc trực tiếp từ người này sang người khác hoặc do
thực phẩm; ngoài ra ruồi tiếp xúc trực tiếp với đất bị nhiễm bởi phân, sinh sản ở đó rồi truyền
mầm bệnh đi.
- Truyền bệnh theo phương thức này còn do các loại ký sinh trùng (giun sán). Ký sinh
trùng được truyền qua đất hoặc trứng giun sán; âÚu trùng của chúng sau một thời gian ủ bệnh
sẽ trở thành tác nhân gây bệnh cho người, quan trọng là giun đũa, giun móc.
Điều kiện môi trường đất rất thuận lợi cho sự tồn tại của trứng một số loại ký sinh
trùng; ngoài ra nó còn phụ thuộc lượng mưa rơi, vào nhiệt độ không khí cũng như vào kết cấu
và độ ẩm của đất.
Thói quen mất vệ sinh luôn luôn góp phần vào việc duy trì chu trình nhiễm trùng theo
phương thức lây truyền từ người - đất - người.

Vi khuẩn uốn ván gặp khá nhiều trong đất canh tác, đôi lúc cả trong đất bỏ hoang.
Càng lên cao (vùng núi) càng ít gặp vi khuẩn này.
- Bệnh nhục độc tố (Botulisme):
Gây ra do ngoại độc tố của Clostridium botulinum. Nguồn mầm bệnh là đất hoặc ruột
súc vật. Người mắc phải là do ăn các loại thực phẩm đóng hộp, thực phẩm sấy mà việc thanh
trùng không đảm bảo tiêu diệt hết các nha bào. Nha bào của chúng có rải rác trong đất; phần
lớn đất bị nhiễm là loại đất sét, Cl.Botulinum sinh sản mạnh và lan truyền tốt trong loại đất
này.
Trong ruột người và động vật máu nóng, Cl.Botulinum ở dạng hoại sinh. Người và
nhiều động vật đều có vai trò gieo rắc mầm bệnh này trong thiên nhiên.
2.1.4. Các siêu vi khuẩn truyền bệnh trong đất
Trong đất, người ta đã tìm thấy một số siêu vi khuẩn đường ruột như poliovirus gây
bệnh bại liệt, ECHO và Cocsacki (chủng ECHO
7
, ECHO
9
) gây viêm màng não, tiêu chảy, sốt
phát ban, viêm não trẻ sơ sinh
Siêu vi khuẩn đường ruột chịu đựng tốt với các tác nhân lý hóa và sống dai dẵng ở
ngoại cảnh. Đất sét pha cát thu hút nhiều siêu vi khuẩn đường ruột hơn cả.
2.1.5. Những vi khuẩn đánh giá đất bị nhiễm phân
- Coli-aerogenes:
Nhóm coli-aerogenes thường ở dạng hoại sinh; chúng rất gần gũi với nhóm vi khuẩn
gây bệnh thương hàn, lỵ, cho nên không lạ gì khi chúng biến thể, chúng có khả năng gây ngộ
độc thức ăn, gây viêm ruột trong những điều kiện nhất định. Ta thường gặp coli- aerogenes
trong phân tươi của người và động vật.
- Bactrine -perfringens:
Là vi khuẩn chỉ điểm đất bị nhiễm bẩn bằng phân tươi. Loại này cư trú thường xuyên
trong ruột người và động vật. Khi có sự hiện diện của nó tức là đất bị nhiễm phân tươi khá lâu
(vi khuẩn có nha bào). Ngược lại, khi có mặt của coli-aerogenes chứng tỏ đất mới bị nhiễm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status