Luận văn: Nâng cao hiệu quả đánh giá rủi ro trong quá trình kiểm toán năm đầu tiên, số dư đầu năm do VACO thực hiện - Pdf 19

Nâng cao hiệu quả
đánh giá rủi ro
trong quá trình
kiểm toán năm đầu
tiên, số dư đầu năm
do VACO thực hiện
-

1

-

LỜI NÓI ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài:
Kiểm toán đang dần khẳng định vị trí quan trọng trong nền kinh tế phát
triển của Việt Nam. Cùng với sự phát triển không ngừng của kiểm toán nước
nhà, Công ty Kiểm toán Việt Nam VACO tự hào là công ty kiểm toán đầu tiên
được thành lập, đã và đang là lá cờ đầu của Kiểm toán độc lập Việt Nam.
Theo Nghị định 105/2004/NĐ-CP của Chính phủ thì phạm vi của
các doanh nghiệp được kiểm toán mở rộng hơn so với Nghị định số
07/NĐ-CP trước đây. Do đó khách hàng thực hiện kiểm toán năm đầu
tiên tăng lên rõ rệt. Trong thời gian này em có cơ hội được thực tập tại
VACO đồng thời với việc nhận thức được vai trò của việc đánh giá rủi
ro kiểm toán năm đầu tiên, em hoàn thành báo cáo thực tập này với đề tài:
"Nâng cao hiệu quả đánh giá rủi ro trong quá trình kiểm toán năm đầu

cứu tại trường Đại học Kinh tế quốc dân, em nghiên cứu đề tài này bằng:
- Lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
- Phương pháp tư duy khoa học, phương pháp toán học trong các
nghiệp vụ kế toán, kiểm toán.
Thực hiện tổng hợp và phân tích thông qua cách diễn giải bằng lời văn và
sơ đồ, biểu bảng cùng với phương pháp diễn giải - quy nạp.
5- Đóng góp của đề tài:
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, em nhận thấy đây là một đề tài
hay, có tính thực tế cao. Chính vì vậy, em đã tập hợp được nhiều tài liệu có liên
quan nhằm hỗ trợ trong việc xây dựng đề tài. Đồng thời, khi tiếp cận với thực tế
tại VACO cùng với khả năng phân tích của bản thân, em hy vọng sẽ có một đề
tài mang tính thực tế và khả thi cao.
Do thời gian và khả năng còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi thiếu
sót, em rất mong sự đóng góp ý kiến của các thày, cô giáo.

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2004.
Sinh viên thực hiện -

3

-


ngày 01/01 đến ngày 31/12 của năm đó. Trong kiểm toán, kiểm toán viên coi
năm tài chính cần kiểm toán như khái niệm trong kế toán.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam là quá trình vận dụng Những chuẩn mực
và nguyên tắc kiểm toán quốc tế phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam
-

4

-

đưa ra khái niệm như sau: "Năm đầu tiên là năm được kiểm toán mà Báo cáo tài
chính năm trước đó:
- Chưa được kiểm toán; hoặc
- Được công ty khác kiểm toán".
Và số dư đầu năm được định nghĩa: "Là số dư trên tài khoản kế toán vào
thời điểm đầu năm tài chính. Số dư đầu năm được lập dựa trên cơ sở số dư cuối
năm tài chính trước"(
6, 34
).
(Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 510 - Kiểm toán năm đầu tiên -
số dư đầu năm tài chính).
Như vậy, bản chất thuật ngữ “năm đầu tiên” trong kiểm toán tài chính đều
được hiểu là công ty kiểm toán lần đầu tiên đến thực hiện kiểm toán cho một
đơn vị mà đơn vị này trước đây chưa được kiểm toán hoặc đã được kiểm toán
nhưng do công ty kiểm toán khác thực hiện. Do đó, có một điểm khác biệt giữa
kiểm toán năm đầu tiên và kiểm toán những năm tiếp theo, đó là: Khách hàng
của cuộc kiểm toán năm đầu tiên là khách hàng mới, khách hàng của cuộc kiểm

hàng và có kinh nghiệm trong các lần kiểm toán trước nên có thể giảm bớt một
số thủ tục nhất định.
Do đó, kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên được đánh giá là có mức
độ rủi ro cao hơn bình thường. Chính mức độ rủi ro đó đã chi phối toàn bộ cuộc
kiểm toán, cụ thể chi phối việc áp dụng các phương pháp kiểm toán nhằm thu
thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và hợp lý. Nhưng rủi ro là gì và rủi ro kiểm
toán cần phải được hiểu như thế nào? Những thắc mắc đó sẽ được trình bày cụ
thể ở phần tiếp sau đây.
1.1.2- Rủi ro và qui trình đánh giá rủi ro trong kiểm toán Báo cáo tài
chính năm đầu tiên
1.1.2.1- Khái niệm rủi ro:
Xét trên phương diện chung nhất: rủi ro ám chỉ một số hình thức không
chắc chắn về hậu quả của một tình huống nhất định. Tạm thời chưa nói đến ý
nghĩa của từ không chắc chắn, chúng ta thường hiểu rõ mình định nói gì khi
dùng thuật ngữ “rủi ro” trong câu chuyện hằng ngày. Một sự kiện có thể xảy ra,
nếu nó xảy ra sẽ không có lợi cho chúng ta, hoặc không phải là kết quả mà
chúng ta mong đợi. Từ rủi ro không những ám chỉ mối ngờ vực về tương lai mà
còn ám chỉ cả một thực tế là hậu quả có thể khiến cho chúng ta lâm vào hoàn
cảnh khó khăn hơn hiện tại.
Ở nhiều nước đã đưa ra một số định nghĩa về rủi ro và thường kèm theo
những cuộc tranh luận để khẳng định quan điểm của mình là đúng đắn. Sau đây
là một số quan điểm được chọn lọc từ cuốn sách “Bảo hiểm quốc tế, nguyên tắc
và thực hành”:
 Rủi ro là khả năng xảy ra một số sự cố không may.
 Rủi ro là sự kết hợp các nguy cơ.
 Rủi ro là sự không thể đoán trước một tình huống, một khuynh hướng dẫn
đến kết quả thực tế khác với kết quả dự đoán.

ngành nghề có một rủi ro riêng, chẳng hạn: rủi ro hối đoái, rủi ro đầu tư, rủi ro
kinh doanh và kiểm toán cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Theo Uỷ ban Thực hành Kiểm toán quốc tế (IAPC) thuộc Liên đoàn Kế toán
quốc tế IFAC thì rủi ro kiểm toán được hiểu như sau: “Rủi ro kiểm toán là khả
năng mà kiểm toán viên đưa ra ý kiến không xác đáng về đối tượng được kiểm
toán. Chẳng hạn, kiểm toán viên đưa ra ý kiến rằng Báo cáo tài chính của đơn
vị đựơc thực hiện trung thực và hợp lý dựa trên các khía cạnh trọng yếu, tuy
nhiên trên thực tế các Báo cáo tài chính đã được kiểm toán này vẫn tồn tại các
sai phạm trọng yếu mà kiểm toán viên không phát hiện trong quá trình kiểm
toán "(
15, 23
).
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 thì: "Rủi ro kiểm toán là rủi
ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích
hợp khi Báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu.
-

7

-

Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro
phát hiện"(
6, 78
).
Như vậy rõ ràng là các hiệp hội nghề nghiệp về kiểm toán, kế toán đều có
chung một nhận định về rủi ro kiểm toán. Rủi ro kiểm toán là rủi ro mà kiểm

toán viên đánh giá liệu kế hoạch kiểm toán có hợp lý hay không. Thí dụ, với một
cuộc kiểm toán khả dĩ, giả sử một kiểm toán viên tin rằng rủi ro cố hữu có thể sẽ
là 80%, rủi ro kiểm soát là 50%, và rủi ro phát hiện là 10%. Rủi ro kiểm toán
-

8

-

tính được sẽ là 4% (0,8 x 0,5 x 0,1). Nếu kiểm toán kết luận là rủi ro kiểm toán
mong muốn thích hợp đối với hợp đồng không thấp hơn 4% thì kế hoạch đó sẽ
được chấp nhận.
Mặc dù một kế hoạch kiểm toán như trên có thể giúp kiểm toán viên tìm
được rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận, nó có thể không hiệu quả. Để có được
một kế hoạch hiệu quả hơn, kiểm toán viên thường sử dụng mô hình rủi ro kiểm
toán theo cách thứ hai để xác định rủi ro phát hiện và số lượng bằng chứng thích
hợp phải thu thập. Nhằm mục đích này, mô hình rủi ro kiểm toán được sử dụng
theo công thức sau:

Tiếp tục thí dụ trên, giả sử kiểm toán viên xây dựng tỷ lệ rủi ro kiểm toán
mong muốn là 5%, kế hoạch kiểm toán có thể được thay đổi để thu thập bằng
chứng phù hợp với một mức rủi ro phát hiện là 12%, vì 0,5 / (0,8 x 0,5) bằng
0.125. Sử dụng hình thức này của mô hình rủi ro, yếu tố chính là rủi ro phát hiện
và nó xác định số lượng bằng chứng cần thiết. Số lượng bằng chứng thích hợp

Nhìn chung, rủi ro kiểm toán mong muốn là khả năng mà kiểm toán viên
đưa ra ý kiến không xác đáng về đối tượng được kiểm toán. Chẳng hạn, kiểm
toán viên đưa ra ý kiến rằng Báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán đã
trình bày trung thực và hợp lý dựa trên các khía cạnh trọng yếu; Tuy nhiên, trên
thực tế các báo cáo đã được kiểm toán này vẫn còn tồn tại các sai phạm trọng
yếu mà kiểm toán viên không phát hiện ra trong suốt quá trình kiểm toán. Loại
rủi ro như vậy luôn luôn có thể tồn tại, ngay cả khi cuộc kiểm toán được lập kế
hoạch chu đáo và thực hiện một cách thận trọng. Rủi ro này sẽ tăng lên nếu việc
lập kế hoạch kiểm toán kém và thực hiện thiếu thận trọng.
Kiểm toán viên có phải nỗ lực để có rủi ro kiểm toán thấp hơn trong một số
trường hợp nhất định? Các chuyên gia kiểm toán thì cho rằng một tỷ lệ rủi ro
kiểm toán thấp một cách hợp lý luôn luôn được mong đợi. Nhưng trong một số
trường hợp, một tỷ lệ rủi ro rất thấp được yêu cầu để bảo vệ cho người sử dụng
Báo cáo tài chính và cho kiểm toán viên. Như vậy, rủi ro kiểm toán mong muốn
phụ thuộc vào mức độ người sử dụng bên ngoài tin vào các Báo cáo tài chính và
khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi công bố Báo cáo tài
chính.

Mức độ những người sử dụng tin vào các Báo cáo tài chính: Khi
những người bên ngoài đặt niềm tin vào các Báo cáo tài chính cao thì tỷ lệ rủi ro
kiểm toán mong muốn phải giảm mới thích hợp. Khi người sử dụng bên ngoài
đặt niềm tin vào các Báo cáo tài chính thì mức độ tác hại trên phạm vi toàn xã
hội sẽ càng lớn nếu có một sai sót không được phát hiện trên Báo cáo tài chính.
Do vậy trong trường hợp này kiểm toán viên cần xác định một mức rủi ro kiểm
toán thấp, từ đó tăng số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập và tăng độ
chính xác trong các kết luận đưa ra của mình. Một số dấu hiệu quan trọng để
giúp kiểm toán viên nhận ra mức độ người sử dụng bên ngoài tin vào các Báo
cáo tài chính:
 Quy mô của công ty khách hàng: Nói chung hoạt động của khách hàng
càng lớn, các Báo cáo tài chính càng được sử dụng rộng rãi. Quy mô của

 Các khoản lãi (lỗ) trong các năm trước: Khi một doanh nghiệp giảm
nhanh các khoản lãi hoặc tăng nhanh các khoản lỗ trong vài năm, kiểm
toán viên phải nhận biết các vấn đề thanh toán của khách hàng có thể sẽ
gặp phải trong tương lai.
 Các phương pháp làm tăng quá trình tài trợ: Công ty khách hàng càng phụ
thuộc vào các khoản tài trợ, rủi ro gặp khó khăn trong tương lai của doanh
nghiệp về mặt tài chính sẽ càng lớn (nếu công ty sản xuất kinh doanh
hoặc cung cấp dịch vụ kém hiệu quả trong tương lai). Việc xem xét liệu
tài sản của doanh nghiệp có thường xuyên được tài trợ nợ ngắn hạn hay
nợ dài hạn hay không cũng là một yếu tố quan trọng. Nhu cầu chi tiền mặt
thường xuyên với số lượng lớn trong thời gian ngắn có thể buộc công ty
đi đến phá sản.
-

11

-

 Bản chất hoạt động của công ty khách hàng: Một số loại hình doanh
nghiệp nhất định vốn có nhiều rủi ro hơn các doanh nghiệp khác, chẳng
hạn trong cùng một điều kiện như nhau thì khả năng phá sản ở một công
ty môi giới chứng khoán cao hơn ở một công ty điện, nước.
 Năng lực của ban quản trị: Ban quản trị có năng lực thường xuyên đối phó
được những khó khăn, sửa đổi nhằm phù hợp với hoàn cảnh thì sẽ giảm
thiểu được những hạn chế của doanh nghiệp trong ngắn hạn.
Kiểm toán viên phải tìm hiểu công ty khách hàng và đánh giá tầm quan trọng
của từng yếu tố trong các yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ mà người sử dụng tin

Khi sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán, ta thấy mối quan hệ trực tiếp giữa rủi
ro kiểm toán mong muốn với rủi ro phát hiện, và mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa
rủi ro kiểm toán mong muốnvới bằng chứng kiểm toán.

Rủi ro tiềm tàng (IR - Inherent Risk)
Rủi ro tiềm tàng là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trong bản thân
các đối tượng kiểm toán (chưa tính đến sự tác động của bất cứ hoạt động kiểm
toán nào kể cả kiểm soát nội bộ). Tức là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản
mục trong Báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc
tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ.
Mức rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm tình hình kinh doanh và cả
năng lực nhân viên của khách thể kiểm toán. Kiểm toán viên không tạo ra và
cũng không kiểm soát rủi ro tiềm tàng mà họ chỉ đánh giá chúng.
Theo Mục 13 - Nguyên tắc 25 về “Trọng yếu và rủi ro kiểm toán” - Những
Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán quốc tế, do IAPC phê chuẩn thì: "Rủi ro
tiềm tàng là những yếu điểm của số dư tài khoản hoặc của một loại nghiệp vụ
đối với những sai sót có thể là nghiêm trọng, những sai sót này có thể đơn lẻ
hoặc có thể kết hợp với các sai sót ở những số dư, các nghiệp vụ khác (ở đây giả
định là không có các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan). Rủi ro tiềm tàng
nằm trong chức năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường
kinh doanh cũng như nằm trong bản chất của các số dư tài khoản hoặc các loại
nghiệp vụ"(
7,249
).
Theo Mục 04 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ, quy định như sau: “Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có
do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong Báo cáo tài chính chứa
đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có
hệ thống kiểm soát nội bộ"(
6, 77

sẽ luôn luôn xuất hiện và khó tránh khỏi vì những hạn chế có tính bản chất của
bất cứ một hệ thống kiểm soát nội bộ nào"(
7,250
).
Theo Mục 05 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ lại nhận định rằng: "Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót
trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong Báo cáo tài chính khi
tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ
không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời."(
6, 77
).
Như rủi ro tiềm tàng, mối quan hệ giữa rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện là
quan hệ tỷ lệ nghịch trong khi mối quan hệ giữa rủi ro kiểm soát và bằng chứng
là quan hệ tỷ lệ thuận. Thí dụ, nếu kiểm toán viên kết luận là hệ thống kiểm soát
nội bộ tồn tại và hoạt động có hiệu quả, rủi ro phát hiện có thể tăng lên, số lượng
bằng chứng kiểm toán giảm xuống. Kiểm toán viên có thể tăng mức rủi ro phát
hiện khi các hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả vì một cơ cấu kiểm soát nội
bộ hiệu quả làm giảm khả năng sai sót trong các Báo cáo tài chính.
-

14

-Rủi ro phát hiện (DR - Detection Risk)
Rủi ro phát hiện là khả năng xảy ra các sai sót trọng yếu hoặc gian lận trên

1.1.2.3- Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài
chính năm đầu tiên
-

15

-

Do đặc thù của kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên có nhiều khác
biệt với kiểm toán cho khách hàng quen thuộc nên các thủ tục kiểm toán nhằm
đánh giá rủi ro kiểm toán thường được thực hiện đa dạng và phức tạp hơn. Công
việc này thường do chủ nhiệm kiểm toán - những người có nhiều kinh nghiệm
trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán. Mỗi cuộc kiểm toán có những đặc thù
khác nhau tuy nhiên nhìn chung trình tự thực hiện cuộc kiểm toán Báo cáo tài
chính năm đầu tiên thường như sau:
-

16

-

Sơ đồ số 01: Trình tự thực hiện cuộc kiểm toán năm đầu tiên
tất và phê chuẩn đúng đắn.
Thảo luận với Ban Giám đốc của khách hàng, thống nhất quan
điểm và thảo Thư cam kết kiểm toán.
Ti
ến h
ành m
ột số thủ tục đặc biệt cho cuộc kiểm toán Báo cáo
tài chính năm đầu tiên.
Xem xét tính r
ủi ro trong lĩnh vực hoạt động của c
ông ty khách
hàng và ảnh hưởng của nó đến việc bố trí kiểm toán viên, giám
sát và ph
ỏng vấn.

Đạt được những bản sao các văn bản chứng tỏ đã có những
thay dổi, biến động lớn trong năm của công ty khách hàng.
Đảm bảo rằng các thủ tục chấp nhận khách hàng đã được hoàn
tất và phê chuẩn đúng đắn.
Thu th
ập những hiểu biết về hoạt động kinh doanh, tổ chức quản
lý, sản phẩm, nhà cung cấp và các biện pháp trả công cho công
nhân viên c
ủa khách h
à
ng

Đ
ánh giá s
ự tác động của các yếu tố kinh tế v

-

17

-


bằng việc tiến hành các thủ tục kiểm tra từ đầu
đ
ến cuối

Đánh giá rủi ro tiềm tàng ở mức độ ảnh hưởng
đến toàn bộ Báo cáo tài chính và xác định
những khu vực có rủi ro kiểm toán chủ yếu cần
được tập trung xem xét.
Ghi vào k
ế hoạch.

Đánh giá r
ủi ro tiềm t
àng đ
ối với số d
ư t
ừng t
ài
khoản
(n
ếu rủi ro thấp h
ơn
m
ức tối đa)

Quyết định xem việc áp dụng các thử nghiệm
kiểm soát có hiệu quả và lập kế hoạch phù hợp
v
ới mục ti
êu ki

hạn chế thủ tục phân tích và cơ bản đáp ứng
m
ục ti
êu ki
ểm toán

Phê duỵệt kế hoạch ngân sách và thời gian chi
tiết lần cuối cùng, đồng ý trên Thư hẹn kiểm
toán v
ới khách h
àng

Xem xét công
việc phụ và
m
ức phụ phí
Thi
ết kế ch
ương tr
ình
phân tích và các thủ tục
kiểm toán cơ bản khác
đáp ứng mục tiêu kiểm
toán

-
Các th
ủ tục kiểm
toán chi tiết
- Hoàn thành cuộc

Việc đánh giá rủi ro để chấp nhận Hợp đồng kiểm toán đòi hỏi kiểm toán
viên giàu kinh nghiệm và có trình độ nghiệp vụ cao, thông thường là các chủ
nhiệm kiểm toán hay thành viên của Ban Giám đốc.
 Đánh giá rủi ro tiềm tàng trong kiểm toán Báo cáo tài chính năm đầu tiên
Để đánh giá rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên cần dựa vào các yếu tố ảnh
hưởng sau đây:
 Bản chất kinh doanh của khách hàng: rủi ro tiềm tàng thường bị tăng
lên bởi những đặc thù của ngành nghề kinh doanh mà nó tạo nên những khó
khăn cho kiểm toán do tồn tại những khoản không chắc chắn hoặc khả năng tồn
tại một cách tiềm tàng các gian lận và sai sót trên Báo cáo tài chính.
 Tính trung thực của Ban Giám đốc: Ban Giám đốc không thể xem là
hoàn toàn trung thực trong mọi trường hợp. Khi Ban Giám đốc bị kiểm soát bởi
một hay một số cá nhân thiếu trung thực thì khả các Báo cáo tài chính bị báo cáo
sai sẽ tăng lên, do vậy rủi ro tiềm tàng sẽ được đánh giá ở mức cao.
 Kết quả các cuộc kiểm toán trước: Qua xem xét hồ sơ kiểm toán, kiểm
toán viên nhận thấy: một số tài khoản đã được phát hiện có sai phạm thì rủi ro
tiềm tàng được xác định ở mức cao. Lý do là nhiều sai phạm có tính chất hệ
-

19

-

thống và các đơn vị thường chậm chạp trong quá trình sửa chữa nên các sai
phạm năm trước vẫn có thể tiếp tục trong các năm tiếp theo.
 Hợp đồng kiểm toán năm đầu tiên: Trong các hợp đồng kiểm toán năm
đầu tiên, kiểm toán viên thường thiếu hiểu biết và kinh nghiệm về các sai sót của
-

20

-

 Các nhân tố ảnh hưởng tới ngành nghề mà doanh nghiệp đang hoạt
động"(
7,295
)
Theo Mục 16 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ chỉ dẫn như sau: “Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phương
diện Báo cáo tài chính:
 Sự liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết của Ban Giám đốc cũng như sự
thay đổi thành phần Ban quản lý trong niên độ kế toán;
 Trình độ và kinh nghiệm của đội ngũ kế toán và kiểm toán viên nội bộ;
 Áp lực bất thường đối với Ban Giám đốc;
 Đặc điểm hoạt động của đơn vị;
 Các nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị"(
6, 81
)
Như vậy về cơ bản không có sự khác nhau giữa cách thức thực hiện để
đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phương diện Báo cáo tài chính của thế giới và tại
Việt Nam. Kiểm toán viên cần đánh giá lần lượt các yếu tố trên và quyết định
mức rủi ro tiềm tàng thích hợp với từng khoản mục trên Báo cáo tài chính.
Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ.
Kiểm toán viên thường cho rằng các tài khoản có số dư bằng tiền lớn sai
sót nhiều hơn so với các tài khoản có số dư nhỏ. Hầu hết kiểm toán viên sẽ xác

 "Báo cáo tài chính có thể chứa đựng những sai sót, như: Báo cáo tài chính
có những điều chỉnh liên quan đến niên độ kế toán trước; Báo cáo tài
chính có nhiều ước tính kế toán, hoặc trong năm tài chính có sự thay đổi
chính sách kế toán;
 Việc xác định số dư và số phát sinh của các tài khoản và nghiệp vụ kinh
tế, như: Số dư các tài khoản dự phòng, nghiệp vụ kinh tế phát sinh sau khi
ghi nhận ban đầu tài sản cố định tính vào chi phí hay tính tăng nguyên giá
tài sản cố định;
 Mức độ dễ bị mất mát, biển thủ tài sản, như: phát sinh nhiều nghiệp vụ
thu, chi tiền mặt, tạm ứng tiền với số lượng lớn, thời gian thanh toán dài;
 Mức độ phức tạp của các nghiệp vụ hay sự kiện quan trọng đòi hỏi phải
có ý kiến của chuyên gia, như: xảy ra kiện tụng hoặc trộm cắp ;
 Việc ghi chép các nghiệp vụ bất thường và phức tạp, đặc biệt là gần thời
điểm kết thúc niên độ kế toán;
 Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính bất thường khác" (
6, 82
).

 Quy trình đánh giá rủi ro kiểm soát trong kiểm toán Báo cáo tài chính
năm đầu tiên
Đánh giá rủi ro kiểm soát: được thực hiện theo một trình tự nhất định và
có thể khái quát qua bốn bước cơ bản sau:
Bước 1: Thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ và mô tả chi tiết
hệ thống kiểm soát nội bộ trên giấy tờ làm việc:
Trong giai đoạn này kiểm toán viên tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ
của đơn vị được kiểm toán trên hai mặt chủ yếu: thiết kế kiểm soát nội bộ bao
gồm thiết kế về quy chế kiểm soát và bộ máy kiểm soát; hoạt động liên tục và có
hiệu lực của kiểm soát nội bộ.
Có nhiều phương pháp tiếp cận để thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm
soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát, trong đó có hai cách phổ biến:

Trong Mục 20 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ hướng dẫn: "Khi tìm hiểu hệ thống kế toán và hệ thống kiểm
soát nội bộ để lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên sẽ hiểu biết được việc
thiết kế và thực hiện của hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng. Điều
đó giúp cho kiểm toán viên xác định được khối lượng các nghiệp vụ kinh tế tài
chính cần được kiểm tra cũng như thiết lập các thủ tục kiểm tra cần thiết"(
6, 84
).
Bước 2: Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch cho từng
khoản mục
Sau khi thu thập được một sự hiểu biết về cách thiết kế và sự vận hành của
hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên sẽ đưa ra đánh giá ban đầu về rủi ro
kiểm soát cho từng mục tiêu kiểm soát chi tiết. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ
được thiết kế và vận hành hữu hiệu thì rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức
thấp, và ngược lại. Công việc này được làm riêng rẽ cho từng nghiệp vụ kinh tế
chủ yếu trong từng chu trình nghiệp vụ theo các bước sau:
-

23

-

 Nhận diện các mục tiêu kiểm soát mà theo đó quá trình đánh giá vận
dụng: kiểm toán viên vận dụng các mục tiêu kiểm soát nội bộ cho từng loại
khoản mục để đánh giá rủi ro kiểm soát với từng loại khoản mục.
 Nhận diện quá trình kiểm soát đặc thù: kiểm toán viên không nhất thiết
phải xem xét mọi quá trình kiểm soát mà chỉ tập trung phân tích các quá trình

-

24

-

 Kiểm toán viên có thể xác định các chế độ và các biện pháp của hệ
thống kiểm soát nội bộ và hệ thống kế toán liên quan đến các cơ sở dẫn liệu cụ
thể có khả năng ngăn cản hay phát hiện các sai sót quan trọng trong Báo cáo
tài chính.
 Kiểm toán viên có kế hoạch tiến hành các biện pháp thử nghiệm về
tính tuân thủ để khẳng định sự đánh giá của mình"(
7,294
)
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và kiểm
soát nội bộ thì "Dựa trên sự hiểu biết hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát
nội bộ, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải đánh giá ban đầu về rủi ro
kiểm soát với cơ sở dẫn liệu cho từng số dư tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ
kinh tế chủ yếu"(
6, 89
).
Tuy nhiên đó chỉ là đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát. Việc đánh giá lại
rủi ro kiểm soát và thiết kế lại các thử nghiệm cơ bản trên số dư và các nghiệp
vụ sẽ chỉ thực hiện trên kết quả của việc thực hiện thu thập bằng chứng kiểm
toán bằng phương pháp tuân thủ nhằm giảm bớt các thử nghiệm cơ bản trên số
dư.
Bước 3: Thu thập bằng chứng kiểm toán bằng phương pháp tuân thủ
nhằm hỗ trợ cho việc đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức độ thấp hơn
Theo Mục 25 - Nguyên tắc 29 - Những Chuẩn mực và nguyên tắc kiểm
toán quốc tế:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status